|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc - |
Bản án số: 45/2024/DS-ST
Ngày: 05-9-2024
V/v: Tranh chấp di sản thừa kế
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Thảo.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Mùi.
Ông Dương Thanh Long.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Trần Ngọc Phương Trang - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa:
Bà Vũ Thị Hồng Uyên - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 126/2022/TLST-DS ngày 08 tháng 11 năm 2022 về “Tranh chấp di sản thừa kế” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2024/QĐXXST–DS ngày 01 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Đinh Thị Tuyết H, sinh năm 1965.(có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: Số G, khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
- Bị đơn:
- Bà Đinh Thị H1, sinh năm 1948.(vắng mặt)
- Ông Đinh Minh T, sinh năm 1959.(vắng mặt)
- Ông Đinh Minh T1, sinh năm 1969.(vắng mặt)
Địa chỉ: G N Ride Blvd Apt C Chicago, IL 60645, USA.
Cùng địa chỉ: Số A, đường P, khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Bà Đinh Thị S, sinh năm 1955.(có đơn xin vắng mặt)
- Bà Đinh Thị H2, sinh năm 1961.(có đơn xin vắng mặt)
- Bà Đinh Thị Tuyết M, sinh năm 1961.(có đơn xin vắng mặt)
- Bà Đinh Thị Ngọc N, sinh năm 1966.(có đơn xin vắng mặt)
- Bà Bùi Thị H3, sinh năm 1961.(có đơn xin vắng mặt)
- Chị Đinh Thị Kim O, sinh năm 1992.(có đơn xin vắng mặt)
- Anh Đinh Tiên H4, sinh năm 1994.(có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ A, khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Địa chỉ: Số A, tổ B, ấp H, xã N, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.
Địa chỉ: Số A, khu phố N, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Địa chỉ: Số A, đường P, khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Cùng địa chỉ: Số G, tổ D, khu phố G, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
1
Bà H3, chị O và anh H4 là vợ và con của ông Đinh Văn C.
- Bà Nguyễn Thị Hương T2, sinh năm 1972.(vắng mặt)
- Chị Đinh Thảo N1, sinh năm 2002.(vắng mặt)
- Cháu Đinh Minh T3, sinh năm 2010.
Cùng địa chỉ: 1, đường P, khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Bà T2, chị N1 và cháu T3 là vợ và con của ông Đinh Minh T1.
Người đại diện theo pháp luật của cháu T3: Ông Đinh Minh T1 và bà Nguyễn Thị Hương T2.
- Người thừa kế thế vị của ông Đinh Văn N2 (03 người con) gồm:
- Anh Đinh Minh N3, sinh năm 1978.(có đơn xin vắng mặt)
- Chị Đinh Thị Vân T4, sinh năm 1981
Cùng địa chỉ: Số F, khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Người đại diện theo ủy quyền của chị T4 (Theo hợp đồng ủy quyền ngày 29/11/2023): Anh Đinh Minh N3.
- Chị Đinh Thị Minh T5, sinh năm 1984.(vắng mặt)
Địa chỉ: D B, C, SC B, USA.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa của bà Đinh Thị Tuyết H:
Cha của bà là cụ Đinh Văn Y, sinh năm 1923 (chết năm 2001), mẹ của bà là cụ Đinh Thị L, sinh năm 1930 (chết năm 1999). Cha mẹ bà có tất cả 11 người con gồm:
- Bà Đinh Thị H1, sinh năm 1948.
- Ông Đinh Văn N2, sinh năm 1952.(chết vào tháng 6/1999 trước cha mẹ nên người thừa kế thế vị của ông N2 là 03 người con gồm anh Đinh Minh N3, chị Đinh Thị Vân T4 và chị Đinh Thị Minh T5)
- Bà Đinh Thị S, sinh năm 1955.
- Bà Đinh Thị H2, sinh năm 1956.
- Ông Đinh Văn C, sinh năm 1957.(chết năm 2014 sau cha mẹ nên vợ ông C là bà Bùi Thị H3 và 02 con của ông C là chị Đinh Thị Kim O và anh Đinh Tiên H4 được xác định là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan)
- Ông Đinh Minh T, sinh năm 1959.
- Bà Đinh Thị Tuyết M, sinh năm 1961.
- Ông Đinh Minh T6, sinh năm 1962.(chết năm 2009, không vợ con)
- Bà Đinh Thị Tuyết H, sinh năm 1965.
- Bà Đinh Thị Ngọc N, sinh năm 1966.
- Ông Đinh Minh T1, sinh năm 1969.
Ngoài ra cha mẹ bà không có con riêng hay con nuôi nào khác.
Quá trình chung sống cha mẹ bà có tạo dựng được khối tài sản chung là phần đất diện tích 402,2m² thuộc thửa đất số 148, tờ bản đồ số 21, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (thửa đất đã được UBND tỉnh Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 4701211482 vào ngày 17/7/2003 cho cha mẹ bà) và tài sản tọa lạc trên thửa đất gồm:
2
- Nhà 1: Diện tích xây dựng 103,5m² (diện tích sàn xây dựng 216m²). Kết cấu: móng cột bê tông cốt thép, dầm sàn bê tông cốt thép, tường xây gạch, tô trát, sơn nước, tường ốp gạch cao 1,1m, nền lát gạch bông, trần bê tông cốt thép, cửa đi khung nhôm kính phía trong, cửa sắt kéo phía ngoài; cầu thang: bản thang bê tông cốt thép, lan can tay vịn sắt, bậc xây gạch, sơn đá rửa; tầng trên: nền lát gạch ceramic, cửa phòng khung sắt kính + khung nhôm kính, cửa số khung sắt kính, xà gồ sắt, mái tôn, trần tôn lạnh; lan can trước và sau: nền lát gạch ceramic, lan can khung sắt lửng; Nhà vệ sinh: nền lát gạch ceramic nhám, tường xây gạch, xí bệt, cửa không sử dụng được.
- Nhà 2: Diện tích xây dựng 94m², diện tích xây dựng bị thu hồi 10,5m2, diện tích xây dựng còn lại 83,5m². Kết cấu: móng cột gạch, đà kiềng bê tông cốt thép, tường xây gạch, sơn nước, nền lát gạch ceramic, cửa đi cửa sắt kéo, cửa sổ khung sắt kính, trần tôn lạnh; bếp: thành bếp xây gạch, kệ bếp tấm đan bê tông ốp gạch; nhà vệ sinh: nền lát gạch ciramic nhám, tường xây gạch, xí bệt, cửa nhựa; gác: cầu thang sắt, xà gồ sắt, sàn ván ép, lan can khung sắt (đã bị thu hồi).
- Nhà 3: Diện tích xây dựng 79m², diện tích xây dựng bị thu hồi 09m², diện tích xây dựng còn lại 70m². Kết cấu: móng cột gạch, tường xây gạch, tố trát, sơn nước, nền lát gạch ciramic, trần tôn lạnh; cửa đi, cửa sổ khung nhôm kính; nhà vệ sinh: nền lát hạch ciramic nhám, tường xây gạch, cửa nhựa, xí bệt.
Theo Chứng thư Thẩm định giá số 5144/CT-ĐNI ngày 05/12/2023 của Công ty cổ phần T7 thì giá trị phần diện tích đất 379,6m² là 28.659.800.000 đồng (75.500.000 đồng/m²); giá trị nhà 1 là 777.600.000 đồng; giá trị nhà 2 là 175.350.000 đồng; giá trị nhà 3 là 147.000.000 đồng.
Riêng đối với phần diện tích đất 22,6m² còn lại của thửa đất nằm trong dự án Hạ tầng kỹ thuật khu tái định cư phường T và T, theo Quyết định số 1287/QĐ-UBND ngày 15/11/2023 của UBND thành phố B về việc phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ cho ông (bà) Đinh Văn Y (đã chết) và bà Đinh Thị L (ĐG) – Hiện chưa phân chia di sản thừa kế do thu hồi đất để thực hiện dự án (kèm theo Bảng chiết tính giá trị bồi thường do Trung tâm Phát triển quỹ đất thành phố B lập ngày 26/6/2023) thì tổng số tiền được bồi thường là 1.410.627.000 đồng (bao gồm: bồi thường, hỗ trợ đất là 1.186.658.000 đồng; nhà ở, vật kiến trúc là 206.869.000 đồng; tài sản khác là 5.100.000 đồng; thưởng di dời là 12.000.000 đồng).
Trước khi chết ông Y và bà L không để lại di chúc nên chị em bà đều được quyền hưởng phần tài sản cha mẹ để lại, tuy nhiên bà Đinh Thị H1, ông Đinh Minh T và ông Đinh Minh T1 cố tình chiếm giữ nhà đất, không đồng ý chia cho các chị em nên bà khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế.
Theo đơn khởi kiện bà yêu cầu chia thừa kế toàn bộ nhà và đất như đã nêu trên thành 10 phần bằng nhau và bà xin được hưởng 01 phần. Tuy nhiên hiện nay bà không yêu cầu chia tài sản trên, bà chỉ yêu cầu Tòa án giải quyết chia thừa kế đối với phần đất diện tích 402,2m² thuộc thửa đất số 148, tờ bản đồ số 21, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai thành 10 phần bằng nhau và bà xin hưởng 01 phần, cụ thể:
3
- Đối với phần đất diện tích 379,6m² không nằm trong quy hoạch theo Chứng thư Thẩm định giá số 5144/CT-ĐNI ngày 05/12/2023 của Công ty cổ phần T7 có giá trị là 28.659.800.000 đồng, bà xin được chia 1/10 số tiền này.
- Đối với phần đất diện tích 22,6m² còn lại của thửa đất nằm trong dự án Hạ tầng kỹ thuật khu tái định cư phường T và T, theo Quyết định số 1287/QĐ-UBND ngày 15/11/2023 của UBND thành phố B về việc phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ cho ông (bà) Đinh Văn Y (đã chết) và bà Đinh Thị L (ĐG) – Hiện chưa phân chia di sản thừa kế do thu hồi đất để thực hiện dự án (kèm theo Bảng chiết tính giá trị bồi thường do Trung tâm Phát triển quỹ đất thành phố B lập ngày 26/6/2023) thì tổng số tiền được bồi thường là 1.410.627.000 đồng, bà cũng xin được chia 1/10 số tiền này.
Hiện tại nhà và đất đang do vợ chồng ông Đinh Minh T1 quản lý sử dụng.
* Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan gồm các ông/bà (anh/chị): Đinh Thị Ngọc N, Đinh Thị H2, Đinh Thị S, Đinh Thị Tuyết M, Bùi Thị H3, Đinh Thị Kim O và Đinh Tiên H4 thống nhất với lời trình bày của nguyên đơn bà Đinh Thị Tuyết H về nhân thân huyết thống của các ông/bà (anh/chị). Tất cả đều thống nhất với yêu cầu giải quyết chia di sản thừa kế của cụ Y và cụ L theo như ý kiến của bà H.
* Người thừa kế thế vị của ông Đinh Văn N2 là anh Đinh Minh N3 (anh N3 cũng là người đại diện cho chị Đinh Thị Vân T4) thống nhất với lời trình bày của nguyên đơn bà Đinh Thị Tuyết H về nhân thân huyết thống của các anh/chị. Ông N3 thống nhất với yêu cầu giải quyết chia di sản thừa kế của cụ Y và cụ L theo như ý kiến của bà H.
* Người thừa kế thế vị của ông Đinh Văn N2 là chị Đinh Thị Minh T5 mặc dù đã được Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai tiến hành tống đạt hợp lệ nhưng vẫn không cung cấp văn bản ý kiến và không đến Tòa án làm việc nên không có lời khai.
* Bị đơn bà Đinh Thị H1, ông Đinh Minh T và ông Đinh Minh T1 mặc dù đã được Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai tiến hành tống đạt hợp lệ nhưng vẫn không cung cấp văn bản ý kiến và không đến Tòa án làm việc nên không có lời khai.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Hương T2 (bà T2 và ông Đinh Minh T1 cũng là người đại diện theo pháp luật của cháu Đinh Minh T3) và chị Đinh Thảo N1 mặc dù đã được Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai tiến hành tống đạt hợp lệ nhưng vẫn không cung cấp văn bản ý kiến và không đến Tòa án làm việc nên không có lời khai.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai phát biểu quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng theo các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về đường lối giải quyết vụ án:
Theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đinh Thị Tuyết H về việc chia di sản thừa kế do cha mẹ chết để lại gồm quyền sử dụng đất diện tích 402,2m² thuộc thửa 148, tờ bản đồ số 21, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai và tài sản trên đất
4
gồm 02 căn nhà theo pháp luật chia đều cho 10 đồng thừa kế, giao nhà đất cho bà Đinh Thị H1, ông Đinh Minh T, ông Đinh Minh T1, bà yêu cầu nhận giá trị theo chứng thư thẩm định giá, nhận thấy:
Thửa đất số 148, tờ bản đồ số 21, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai và tài sản trên đất có nguồn gốc là di sản thừa kế của cụ ông Đinh Văn Y (sinh năm 1923, mất năm 2001) và cụ bà Đinh Thị L (sinh năm 1930, mất tháng 12/1999), cụ ông Đinh Văn Y và cụ bà Đinh Thị L được UBND tỉnh Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 11/7/2003. Cụ Y và cụ L sinh thời có tất cả 11 người con gồm: Đinh Thị H1, sinh năm 1948; Đinh Văn N2, sinh năm 1952, (đã chết tháng 6/1999); Đinh Thị S, sinh năm1955; Đinh Thị H2, sinh năm 1956; Đinh Văn C, sinh năm 1957 (chết năm 2014); Đinh Minh T, sinh năm 1959; Đinh Thị Tuyết M, sinh năm1961; Đinh Minh T6, sinh năm 1962 (chết năm 2009, khi còn sống không có vợ, con); Đinh Thị Tuyết H, sinh năm 1965; Đinh Thị Ngọc N, sinh năm 1966; Đinh Minh T1, sinh năm 1969. Trước khi chết cụ Y, cụ L không để lại di chúc, bà Đinh Thị Tuyết H yêu cầu chia theo pháp luật cho 10 đồng thừa kế (riêng ông Đinh Minh T6, sinh năm 1962 (chết năm 2009), khi còn sống không có vợ, con nên không có người thừa kế thế vị) là có cơ sở, cụ thể:
Theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc, thẩm định giá ngày 14/11/2023 thể hiện tài sản trên đất gồm 03 căn nhà, căn nhà thứ nhất và căn nhà thứ hai nguyên đơn bà H cho rằng là của bà H1 đóng góp tiền cùng cha mẹ xây dựng khi cha mẹ còn sống, bà H cũng như những các đồng thừa kế khác yêu cầu chia thừa kế đối với 02 căn nhà và diện tích đất 402,2m², không yêu cầu chia căn nhà thứ ba. Đối với 02 căn nhà nguyên đơn bà H cũng đã xác định ngay tại đơn khởi kiện cho rằng bà H1 là người có công sức đóng góp vào việc xây nhà và 09 anh chị em thống nhất để bà H1 nhận tiền thuê nhà trong thời hạn 05 năm để bà H1 thu hồi tiền đã bỏ ra xây nhà (từ năm 2005 đến năm 2011), nhưng không cung cấp được chứng cứ cho thuê nhà, giá thuê bao nhiêu, cũng như Tòa án không làm việc được với bà H1, bà H1 cũng không có bản tự khai nên hiện nay không xác định được bà H1 đã đóng góp vào việc xây dựng 02 căn nhà này với số tiền bao nhiêu để làm căn cứ cho việc giải quyết chia 02 căn nhà này.
Theo chứng thư thẩm định giá số 5144/CT-ĐNI ngày 05/12/2023 của Công ty cổ phần T7 thì giá trị 02 căn nhà (777.600.000đ + 175.350.000đ = 952.950.000₫). Tuy nhiên, bà Đinh Thị Tuyết H, bà Bùi Thị H3, bà Đinh Thị Kim O, ông Đinh Tiên H4 tại đơn trình bày ý kiến và xin vắng mặt ngày 05/9/2024 đều thống nhất không yêu cầu chia tài sản trên đất.
Đối với diện tích đất 379,6m² theo Chứng thư thẩm định giá có giá trị là 28.659.800.000 đồng, sẽ được chia cho 10 đồng thừa kế (28.659.800.000₫ : 10 = 2.865.980.000₫). Đối với diện tích 22,6m² nằm trong dự án HTKT khu tái định cư phường T và T. Theo quyết định số 1287 ngày 15/11/2023 của UBND thành phố B về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ thì tổng số tiền bồi thường là 1.410.627.000 đồng sẽ được chia cho 10 đồng thừa kế (1.410.627.000₫ : 10 = 141.062.700đ). Như vậy mỗi người sẽ được chia thừa kế với số tiền là 3.007.042.700 đồng.
5
Xét thấy, bà Đinh Thị H1 hiện đang định cư tại Hoa Kỳ, nhà đất hiện đang do ông Đinh Minh T1 quản lý, sử dụng nên chia hiện vật là quyền sử dụng đất cho ông Đinh Minh T1 quản lý, sử dụng và có trách nhiệm thanh toán lại giá trị quyền sử dụng đất cho các đồng thừa kế mỗi suất 2.865.980.000 đồng là phù hợp. Đối với 03 căn nhà trên đất giao cho ông Đinh Minh T1 được quyền sở hữu. Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, các đương sự được chia số tiền bồi thường 22,6m² đất nằm trong dự án HTKT khu tái định cư phường T và T được quyền liên hệ đến Trung tâm Phát triển quỹ đất thành phố B làm thủ tục nhận tiền.
Bởi các lẽ trên: Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đề nghị Hội đồng xét xử sơ thẩm chấp nhận yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật của bà Đinh Thị Tuyết H đối với tài sản là quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 148, tờ bản đồ số 21, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai theo chứng thư thẩm định giá cho 10 đồng thừa kế của cụ ông Đinh Văn Y và cụ bà Đinh Thị L.
Chia hiện vật là quyền sử dụng 379,6m² đất thuộc một phần thửa đất số 148, tờ bản đồ số 21, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai cho ông Đinh Minh T1 quản lý, sử dụng và ông T1 có trách nhiệm thanh toán lại giá trị quyền sử dụng đất cho các đồng thừa kế còn lại mỗi suất 2.865.980.000 đồng. Giao ông Đinh Minh T1 được quyền sở hữu 03 căn nhà trên đất.
Đối với số tiền bồi thường 1.410.627.000 đồng sẽ được chia cho 10 đồng thừa kế và mỗi đồng thừa kế được chia 141.062.700 đồng. Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, các đương sự được chia số tiền bồi thường 22,6m² đất nằm trong dự án HTKT khu tái định cư phường T và T được quyền liên hệ đến Trung tâm Phát triển quỹ đất thành phố B làm thủ tục nhận tiền.
Về án phí và chi phí tố tụng: các đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: các ông/bà Đinh Thị Tuyết H, Đinh Thị Ngọc N, Đinh Thị H2, Đinh Thị S, Đinh Thị Tuyết M, Bùi Thị H3, Đinh Thị Kim O, Đinh Tiên H4, Đinh Minh N3 có đơn xin vắng mặt khi xét xử; riêng các ông/bà Đinh Thị H1, Đinh Minh T, Đinh Minh T1, Nguyễn Thị Hương T2, Đinh Thị Minh T5 và chị Đinh Thảo N1 mặc dù Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng theo đúng quy định của pháp luật, nhưng tại phiên tòa đều vắng mặt nên căn cứ theo qui định tại các Điều 207, 227 và 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành đưa vụ án xét xử vắng mặt tất cả các đương sự trong vụ án.
[2] Về thời hiệu khởi kiện: Căn cứ theo quy định của pháp luật thì thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản và 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Do vậy, bà Đinh Thị Tuyết H nộp đơn khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế thửa đất số 148, tờ bản đồ số 21, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai vào ngày 18/5/2021 là vẫn còn trong thời hiệu khởi kiện.
6
[3] Theo nội dung khởi kiện của bà H: Cụ Đinh Văn Y, sinh năm 1923 (chết năm 2001) và cụ Đinh Thị L, sinh năm 1930 (chết năm 1999) là vợ chồng. Quá trình chung sống cụ Y và cụ L sinh được 11 người con gồm các ông/bà: Đinh Thị H1, Đinh Văn N2, Đinh Thị S, Đinh Thị H2, Đinh Văn C, Đinh Minh T, Đinh Thị Tuyết M, Đinh Minh T6, (chết năm 2009, không vợ con), Đinh Thị Tuyết H, Đinh Thị Ngọc N và Đinh Minh T1. Ngoài ra hai cụ không có con nuôi cũng như con ngoài giá thú.
Quá trình chung sống, cụ Y và cụ L có tạo lập được khối tài sản chung gồm phần đất diện tích 402,2m² thuộc thửa đất số 148, tờ bản đồ số 21, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai cùng 03 căn nhà xây dựng trên thửa đất. Nhà và đất trên, cụ Y và cụ L đã được UBND tỉnh Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 4701211482 vào ngày 17/7/2003. Theo bà H thì cụ Y và cụ L trước khi chết không để lại di chúc nên nay bà khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế là quyền sử dụng thửa đất trên theo quy định pháp luật.
[4] Qua lời trình bày của bà H, lời trình bày của các đương sự trực tiếp tham gia trong quá trình giải quyết vụ án, đối chiếu với các chứng cứ thể hiện tại hồ sơ có cơ sở xác định thửa đất số 148, tờ bản đồ số 21, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai có diện tích 402,2m² (trong đó có phần đất diện tích 22,6m² nằm trong dự án Hạ tầng kỹ thuật khu tái định cư phường T và T) và 03 căn nhà tọa lạc trên đất hiện ông Đinh Minh T1 đang quản lý sử dụng là di sản của cụ Y và cụ L để lại sau khi chết. Do vậy nên việc bà H khởi kiện yêu cầu chia thừa kế di sản trên của cụ Y và cụ L thành 10 phần bằng nhau, mỗi đồng thừa kế được hưởng 01 phần là đúng với quy định pháp luật nên được chấp nhận.
Theo Chứng thư Thẩm định giá số 5144/CT-ĐNI ngày 05/12/2023 của Công ty cổ phần T7 thì giá trị phần diện tích đất 379,6m² là 28.659.800.000 đồng và theo Quyết định số 1287/QĐ-UBND ngày 15/11/2023 của UBND thành phố B về việc phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ cho ông (bà) Đinh Văn Y (đã chết) và bà Đinh Thị L (ĐG) thì phần đất diện tích 22,6m² được bồi thường với tổng số tiền là 1.410.627.000 đồng. Hiện tại bà H và các ông/bà Đinh Thị Ngọc N, Đinh Thị H2, Đinh Thị S, Đinh Thị Tuyết M, Bùi Thị H3, Đinh Thị Kim O, Đinh Tiên H4, Đinh Minh N3 chỉ yêu cầu chia theo giá trị đối với quyền sử dụng 02 phần đất trên, không yêu cầu chia giá trị 03 căn nhà tọa lạc trên thửa đất là có lợi cho phía bị đơn.
Xét thấy hiện tại ông Đinh Minh T1 đang là người quản lý, sử dụng khối di sản trên nên giải quyết giao cho ông T1 được quyền sử dụng phần đất 379,6m² thuộc thửa đất số 148, tờ bản đồ số 21, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (phần diện tích đất còn lại sau quy hoạch) và được quyền sở hữu số tài sản tọa lạc trên đất gồm nhà 1, nhà 2 và nhà 3 là phù hợp nhất, đồng thời buộc ông T1 phải có trách nhiệm thanh toán lại cho các đồng thừa kế giá trị phần di sản mà họ được hưởng cụ thể như sau:
- Thanh toán cho bà Đinh Thị Tuyết H, bà Đinh Thị Ngọc N, bà Đinh Thị H2, bà Đinh Thị S, bà Đinh Thị Tuyết M, bà Đinh Thị H1, ông Đinh Minh T mỗi người với số tiền 2.865.980.000 đồng.
7
- Thanh toán cho bà Bùi Thị H3, chị Đinh Thị Kim O và anh Đinh Tiên H4 (vợ và 02 người con của ông Đinh Văn C) số tiền 2.865.980.000 đồng.
- Thanh toán cho anh Đinh Minh N3, chị Đinh Thị Vân T4 và chị Đinh Thị Minh T5 (03 người con của ông Đinh Văn N2) số tiền 2.865.980.000 đồng.
Đối với số tiền 1.410.627.000 đồng cụ Y và cụ L được bồi thường cho phần đất 22,6m² bị thu hồi do nằm trong dự án Hạ tầng kỹ thuật khu tái định cư phường T và T (hiện Trung tâm Phát triển quỹ đất thành phố B đang tạm giữ), giải quyết chia như sau:
- Các ông/bà: Đinh Thị Tuyết H, Đinh Thị Ngọc N, Đinh Thị H2, Đinh Thị S, Đinh Thị Tuyết M, Đinh Thị H1, Đinh Minh T và Đinh Minh T1 mỗi người được chia với số tiền 141.062.700 đồng.
- Bà Bùi Thị H3, chị Đinh Thị Kim O và anh Đinh Tiên H4 được chia với số tiền 141.062.700 đồng.
- Anh Đinh Minh N3, chị Đinh Thị Vân T4 và chị Đinh Thị Minh T5 được chia với số tiền 141.062.700 đồng.
[5] Về chi phí tố tụng: Bà H đã nộp số tiền 131.636.498 đồng (trong đó chi phí thẩm định giá là 125.098.000 đồng, chi phí đo đạc, sao lục hồ sơ và tống đạt văn bản tố tụng ra nước goài là 6.538.498 đồng). Do yêu cầu khởi kiện của bà H được chấp nhận nên số tiền chi phí tố tụng trên được chia thành 10 phần với số tiền mỗi phần là 13.163.500 đồng (làm tròn), cụ thể:
- Buộc các ông/bà: Đinh Thị Ngọc N, Đinh Thị H2, Đinh Thị S, Đinh Thị Tuyết M, Đinh Thị H1, Đinh Minh T và Đinh Minh T1 mỗi người phải có nghĩa vụ thanh toán lại cho bà Hằng số tiền 13.163.500 đồng.
- Buộc bà Bùi Thị H3, chị Đinh Thị Kim O và anh Đinh Tiên H4 phải có nghĩa vụ thanh toán lại cho bà Hằng số tiền 13.163.500 đồng.
- Buộc anh Đinh Minh N3, chị Đinh Thị Vân T4 và chị Đinh Thị Minh T5 phải có nghĩa vụ thanh toán lại cho bà Hằng số tiền 13.163.500 đồng.
[6] Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Bà Đinh Thị Tuyết H phải chịu số tiền 92.140.854 đồng, trừ vào số tiền 27.300.000 đồng tạm ứng án phí bà H đã nộp tại biên lai thu số 0000500 ngày 31/10/2022 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai, số tiền án phí bà H còn phải nộp là 64.840.854 đồng.
- Bà Đinh Thị H1, ông Đinh Minh T và ông Đinh Minh T1 và bà Đinh Thị Ngọc N mỗi người phải chịu với số tiền là 92.140.854 đồng.
- Bà Bùi Thị H3, chị Đinh Thị Kim O và anh Đinh Tiên H4 phải chịu với số tiền là 92.140.854 đồng.
- Anh Đinh Minh N3, chị Đinh Thị Vân T4 và chị Đinh Thị Minh T5 phải chịu với số tiền là 92.140.854 đồng.
- Miễn cho bà Đinh Thị S, bà Đinh Thị H2 và bà Đinh Thị Tuyết M do các đương sự là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí theo quy định.
[7] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai về đường lối giải quyết vụ án phù hợp với các chứng cứ thể hiện tại hồ sơ và nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
8
Vì những lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 26, 35, 203; 220, 207, 227, 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Căn cứ vào các Điều 609, 623, 649, 650, 651, 660 và Điều 688 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đinh Thị Tuyết H đối với bị đơn bà Đinh Thị H1, ông Đinh Minh T và ông Đinh Minh T1 về việc chia thừa kế phần đất diện tích 379,6m² thuộc một phần thửa đất số 148, tờ bản đồ số 21, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai và số tiền 1.410.627.000 đồng (số tiền được bồi thường, hỗ trợ đối với phần đất diện tích 22,6m² thuộc một phần thửa đất số 148, tờ bản đồ số 21, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai do nằm trong dự án Hạ tầng kỹ thuật khu tái định cư phường T và T theo Quyết định số 1287/QĐ-UBND ngày 15/11/2023 của UBND thành phố B về việc phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ cho ông (bà) Đinh Văn Y (đã chết) và bà Đinh Thị L (ĐG) – Hiện chưa phân chia di sản thừa kế do thu hồi đất để thực hiện dự án).
- Giao cho ông Đinh Minh T1 được quyền sử dụng phần đất diện tích 379,6m² thuộc một phần thửa đất số 148, tờ bản đồ số 21, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (phần diện tích đất còn lại sau quy hoạch được thể hiện theo bản Trích lục và đo vẽ hiện trạng thửa đất bản đồ địa chính số 3365/2023 ngày 21/11/2022 của Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ; thửa đất trên đã được UBND tỉnh Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 4701211482 vào ngày 17/7/2003 cho ông Đinh Văn Y và bà Đinh Thị L) và sở hữu toàn bộ tài sản tọa lạc trên phần đất diện tích 379,6m² gồm:
- Nhà 1: Diện tích xây dựng 103,5m² (diện tích sàn xây dựng 216m²). Kết cấu: móng cột bê tông cốt thép, dầm sàn bê tông cốt thép, tường xây gạch, tô trát, sơn nước, tường ốp gạch cao 1,1m, nền lát gạch bông, trần bê tông cốt thép, cửa đi khung nhôm kính phía trong, cửa sắt kéo phía ngoài; cầu thang: bản thang bê tông cốt thép, lan can tay vịn sắt, bậc xây gạch, sơn đá rửa; tầng trên: nền lát gạch ceramic, cửa phòng khung sắt kính + khung nhôm kính, cửa số khung sắt kính, xà gồ sắt, mái tôn, trần tôn lạnh; lan can trước và sau: nền lát gạch ceramic, lan can khung sắt lửng; Nhà vệ sinh: nền lát gạch ceramic nhám, tường xây gạch, xí bệt, cửa không sử dụng được.
- Nhà 2: Diện tích xây dựng 94m², diện tích xây dựng bị thu hồi 10,5m², diện tích xây dựng còn lại 83,5m². Kết cấu: móng cột gạch, đà kiềng bê tông cốt thép, tường xây gạch, sơn nước, nền lát gạch ceramic, cửa đi cửa sắt kéo, cửa sổ khung sắt kính, trần tôn lạnh; bếp: thành bếp xây gạch, kệ bếp tấm đan bê tông ốp gạch; nhà vệ sinh: nền lát gạch ciramic nhám, tường xây gạch, xí bệt, cửa nhựa; gác: cầu thang sắt, xà gồ sắt, sàn ván ép, lan can khung sắt (đã bị thu hồi).
9
- Nhà 3: Diện tích xây dựng 79m², diện tích xây dựng bị thu hồi 09m², diện tích xây dựng còn lại 70m². Kết cấu: móng cột gạch, tường xây gạch, tố trát, sơn nước, nền lát gạch ciramic, trần tôn lạnh; cửa đi, cửa sổ khung nhôm kính; nhà vệ sinh: nền lát hạch ciramic nhám, tường xây gạch, cửa nhựa, xí bệt.
- Ông Đinh Minh T1 có trách nhiệm liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục đăng ký biến động theo quy định của pháp luật về quản lý đất đai.
- Buộc ông Đinh Minh T1 phải có nghĩa vụ sau:
- Thanh toán cho bà Đinh Thị Tuyết H, bà Đinh Thị Ngọc N, bà Đinh Thị H2, bà Đinh Thị S, bà Đinh Thị Tuyết M, bà Đinh Thị H1, ông Đinh Minh T mỗi người với số tiền 2.865.980.000 đồng (Hai tỷ tám trăm sáu mươi lăm triệu chín trăm tám mươi nghìn đồng).
- Thanh toán cho bà Bùi Thị H3, chị Đinh Thị Kim O và anh Đinh Tiên H4 (vợ và 02 người con của ông Đinh Văn C) số tiền 2.865.980.000 đồng (Hai tỷ tám trăm sáu mươi lăm triệu chín trăm tám mươi nghìn đồng).
- Thanh toán cho anh Đinh Minh N3, chị Đinh Thị Vân T4 và chị Đinh Thị Minh T5 (03 người con của ông Đinh Văn N2) số tiền 2.865.980.000 đồng (Hai tỷ tám trăm sáu mươi lăm triệu chín trăm tám mươi nghìn đồng).
- Giải quyết chia số tiền 1.410.627.000 đồng (Một tỷ bốn trăm mười triệu sáu trăm hai mươi bảy nghìn đồng) như sau:
- Các ông/bà: Đinh Thị Tuyết H, Đinh Thị Ngọc N, Đinh Thị H2, Đinh Thị S, Đinh Thị Tuyết M, Đinh Thị H1, Đinh Minh T và Đinh Minh T1 mỗi người được chia với số tiền 141.062.700 đồng (Một trăm bốn mươi mốt triệu không trăm sáu mươi hai nghìn bảy trăm đồng).
- Bà Bùi Thị H3, chị Đinh Thị Kim O và anh Đinh Tiên H4 được chia với số tiền 141.062.700 đồng (Một trăm bốn mươi mốt triệu không trăm sáu mươi hai nghìn bảy trăm đồng).
- Anh Đinh Minh N3, chị Đinh Thị Vân T4 và chị Đinh Thị Minh T5 được chia với số tiền 141.062.700 đồng (Một trăm bốn mươi mốt triệu không trăm sáu mươi hai nghìn bảy trăm đồng).
- Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, các đương sự được chia số tiền trên được quyền liên hệ đến Trung tâm Phát triển quỹ đất thành phố B làm thủ tục nhận tiền.
- Về chi phí tố tụng:
- Buộc các ông/bà: Đinh Thị Ngọc N, Đinh Thị H2, Đinh Thị S, Đinh Thị Tuyết M, Đinh Thị H1, Đinh Minh T và Đinh Minh T1 mỗi người phải có nghĩa vụ thanh toán lại cho bà Đinh Thị Tuyết H số tiền 13.163.500 đồng (Mười ba triệu một trăm sáu mươi ba nghìn năm trăm đồng).
- Buộc bà Bùi Thị H3, chị Đinh Thị Kim O và anh Đinh Tiên H4 phải có nghĩa vụ thanh toán lại cho bà Đinh Thị Tuyết H số tiền 13.163.500 đồng (Mười ba triệu một trăm sáu mươi ba nghìn năm trăm đồng).
10
- Buộc anh Đinh Minh N3, chị Đinh Thị Vân T4 và chị Đinh Thị Minh T5 phải có nghĩa vụ thanh toán lại cho bà Hằng số tiền 13.163.500 đồng (Mười ba triệu một trăm sáu mươi ba nghìn năm trăm đồng).
- Về án phí DS-ST:
- Bà Đinh Thị Tuyết H phải chịu số tiền 92.140.854 đồng (Chín mươi hai triệu một trăm bốn mươi nghìn tám trăm năm mươi bốn đồng), trừ vào số tiền 27.300.000 đồng (Hai mươi bảy triệu ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí bà H đã nộp tại biên lai thu số 0000500 ngày 31/10/2022 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai, số tiền án phí bà H còn phải nộp là 64.840.854 đồng (Sáu mươi bốn triệu tám trăm bốn mươi nghìn tám trăm năm mươi bốn đồng).
- Bà Đinh Thị H1, ông Đinh Minh T và ông Đinh Minh T1 và bà Đinh Thị Ngọc N mỗi người phải chịu với số tiền là 92.140.854 đồng (Chín mươi hai triệu một trăm bốn mươi nghìn tám trăm năm mươi bốn đồng).
- Bà Bùi Thị H3, chị Đinh Thị Kim O và anh Đinh Tiên H4 phải chịu với số tiền là 92.140.854 đồng (Chín mươi hai triệu một trăm bốn mươi nghìn tám trăm năm mươi bốn đồng).
- Anh Đinh Minh N3, chị Đinh Thị Vân T4 và chị Đinh Thị Minh T5 phải chịu với số tiền là 92.140.854 đồng (Chín mươi hai triệu một trăm bốn mươi nghìn tám trăm năm mươi bốn đồng).
- Miễn cho bà Đinh Thị S, bà Đinh Thị H2 và bà Đinh Thị Tuyết M do các đương sự là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí theo quy định.
- Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Các đương sự có đơn xin vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo qui định pháp luật; Riêng bà Đinh Thị H1 và chị Đinh Thị Minh T5 được quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trương Thị Thảo |
11
12
Bản án số 45/2024/DS-ST ngày 05/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp di sản thừa kế
- Số bản án: 45/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp di sản thừa kế
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đinh thị Tuyết H - Đinh Thị H1 - Tranh chấp di sản thừa kế
