|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI TỈNH BẾN TRE Bản án số: 45/2023/HS-ST Ngày: 22-11-2023 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI, TỈNH BẾN TRE
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa: Bà Trần Thị Huyền Nhung.
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Nguyễn Văn Ton.
2/ Ông Nguyễn Công Trung.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Hữu Lộc - Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân huyện Ba Tri.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri tham gia phiên tòa: Ông Đặng Truyền Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ba Tri tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 41/2023/TLST-HS ngày 12/10/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2023/QĐXXST – HS ngày 30/10/2023 và quyết định hoãn phiên tòa số 11/2023/QĐST-HS ngày 08/11/2023 đối với bị cáo:
Phạm Văn N, sinh ngày 16/8/1987; Tên gọi khác: X; Nơi sinh: tỉnh Bến Tre; Nơi đăng ký thường trú: ấp A, xã V, huyện B, tỉnh Bến Tre; Chỗ ở hiện nay: Ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hoá: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Văn H (chết) và bà Nguyễn Thị H1; Vợ: Trần Thị H2; Có 01 con sinh năm 2014; Có 02 người em, lớn sinh năm 1992, nhỏ sinh năm 1998; Tiền án: Không; Tiền sự: Không. Về nhân thân: Lúc nhỏ sinh sống với cha mẹ, học văn hóa đến lớp 11 thì nghỉ học phụ giúp gia đình và sinh sống tại địa phương. Đến ngày 15/8/2023 bị Công an huyện B xử phạt số tiền 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, đã nộp phạt ngày 11/9/2023. Bị cấm khỏi nơi cư trú từ ngày 03/8/2023 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại Tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Phạm Thị Bé H3, sinh năm 1977 (có mặt)
Nơi cư trú: Khu phố A, thị trấn T, huyện B, tỉnh Bến Tre.
- Người chứng kiến:
- Ngô Đặng Phước H4, sinh năm 1976 (vắng mặt)
- Nguyễn Văn H5, sinh năm 1969 (vắng mặt)
Nơi cư trú: Khu phố A, thị trấn T, huyện B, tỉnh Bến Tre.
Nơi cư trú: Khu phố A, thị trấn T, huyện B, tỉnh Bến Tre.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phạm Văn N là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy. Vào ngày 11/7/2023, N điều khiển xe môtô biển kiểm soát 53R1-9696 mượn của bà Phạm Thị Bé H3 (cô N) đến Thành Phố Hồ Chí Minh tìm một người đàn ông tên L (không rõ nhân thân lai lịch) hỏi mua ma túy với giá 700.000 đồng. Sau khi đưa tiền, L chỉ 01 túi ni long màu trắng có quấn băng keo màu vàng xung quanh, bên trong có 07 đoạn ống hút bằng nhựa được hàn kín 02 đầu chứa ma túy để N đến lấy bỏ vào 01 bao thuốc lá nhãn hiệu JET và bỏ tiếp vào 01 túi da màu đen có sẵn trên xe, rồi treo túi da chứa ma túy trên cổ xe và điều khiển xe về nhà ở ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre. Đến khoảng 11 giờ 15 phút ngày 16/7/2023, N điều khiển xe môtô biển kiểm soát 53R1-9696 đến chốt thu phí vào cổng cảng cá B thuộc khu phố A, thị trấn T, huyện B, tỉnh Bến Tre thì dừng xe lại nộp phí chờ qua chốt. Lúc này, lực lượng phòng chống ma túy Đồn Biên phòng H7 phối hợp với Bộ đội Biên phòng tỉnh B, Công an huyện B và Công an Thị trấn T đến kiểm tra phát hiện trên cổ xe môtô của N có 01 túi da màu đen bên trong có 07 đoạn ống hút nhựa được hàn kín 02 đầu chứa ma túy nên tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong đồ vật tài liệu có liên quan.
Vật chứng, tài sản thu giữ (chưa xử lý), gồm:
- Thu trên xe môtô biển kiểm soát 53R1 -9696 của Phạm Văn N:
- + 01 túi ni long màu trắng được hàn kín 03 cạnh, cạnh còn lại có rãnh khép màu trắng có kích thước 5,6 x 4cm và 07 đoạn ống hút bằng nhựa được hàn kín 02 đầu, bên trong có nhiều hạt tinh thể rắn màu trắng nghi là ma túy, gồm: 04 đoạn ống hút bằng nhựa màu xanh trong kích thước 2,9 x 0,9cm, 01 đoạn ống hút bằng nhựa màu xanh trong kích thước 3,3 x 0,9cm, 02 đoạn ống hút bằng nhựa màu trắng trong kích thước 3,1 x 0,9cm; được niêm phong trong phong bì ký hiệu T01.
- + 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu JET, 02 nỏ thủy tinh màu trắng, 01 đoạn băng keo màu vàng dài 40cm; được niêm phong trong phong bì ký hiệu T02.
- + 01 túi da màu đen kích thước 18 x 10,5cm, được niêm phong trong phong bì ký hiệu T04.
- Thu trên người Phạm Văn N: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A83 màu hồng, màn hình bị vỡ, được niêm phong trong phong bì ký hiệu T03.
- Thu trong phòng bếp và thờ cúng khi khám xét nhà Phạm Văn N:
- + 01 kéo kim loại màu trắng dài 14cm, 01 túi ni long màu trắng được hàn kín 03 cạnh, cạnh còn lại có rãnh khép màu trắng kích thước 5,5 x 4cm, 02 đoạn ống hút bằng nhựa màu xanh được hàn kín 01 đầu dài 17cm và 3cm, 01 cuộn băng keo màu vàng đường kính 6cm; được niêm phong trong phong bì ký hiệu K01.
- + 01 bình tự chế bằng nhựa, thân bình có quấn băng keo màu xanh, phía trên có gắn 01 đoạn ống hút bằng nhựa màu xanh.
- 01 xe môtô nhãn hiệu HONDA, màu sơn đỏ, biển kiểm soát 53R1-9696.
Tại Bản kết luận giám định số 535/2023/KL-KTHS ngày 17/7/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bến Tre kết luận: Tinh thể màu trắng đựng trong 07 đoạn ống hút nhựa được niêm phong trong phong bì ký hiệu T01 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,9491gam. Hoàn lại mẫu vật sau giám định đã được niêm phong có khối lượng 0,7538 gam.
Tại Bản Cáo trạng số: 42/CT-VKSBT ngày 10/10/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri truy tố bị cáo Phạm Văn N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri giữ nguyên Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) tuyên bố bị cáo Phạm Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đồng thời đề nghị:
* Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Văn N từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.
* Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 47 Bộ luật hình sự đề nghị:
- Tịch thu tiêu hủy:
- + Số ma túy còn lại sau giám định có khối lượng 0,7538 gam, được niêm phong cùng với vỏ bao gói trong phong bì số 535/2023 có chữ ký ghi tên Vũ Văn Đ, Nguyễn Ngọc M, Phan Trung T1 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Bến Tre là chất cấm.
- + 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu JET, 02 nỏ thủy tinh màu trắng, 01 đoạn băng keo màu vàng dài 40cm, 01 túi da màu đen kích thước 18 x 10,5cm, 01 kéo kim loại màu trắng dài 14cm, 01 túi ni long màu trắng được hàn kín 03 cạnh, cạnh còn lại có rãnh khép màu trắng kích thước 5,5 x 4cm, 02 đoạn ống hút bằng nhựa màu xanh được hàn kín 01 đầu dài 17cm và 3cm, 01 cuộn băng keo màu vàng đường kính 6cm, 01 bình tự chế bằng nhựa, thân bình có quấn băng keo màu xanh, phía trên có gắn 01 đoạn ống hút bằng nhựa màu xanh là công cụ sử dụng chất ma túy và không có giá trị sử dụng.
- Trả cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A83 màu hồng, màn hình bị vỡ.
- Trả cho người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Phạm Thị Bé H3 01 xe môtô nhãn hiệu HONDA, màu sơn đỏ, biển kiểm soát 53R1-9696. Do không biết bị cáo dùng vào việc phạm tội.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Phạm Văn N đã khai nhận toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy đã thực hiện như nội dung Cáo trạng đã nêu. Bị cáo xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và xin nhận lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A83 màu hồng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phạm Thị Bé H3 xin nhận lại xe môtô nhãn hiệu HONDA, màu sơn đỏ, biển kiểm soát 53R1-9696 do không biết bị cáo dùng vào việc phạm tội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa, người chứng kiến Ngô Đặng Phước H4 và Nguyễn Văn H5 vắng mặt. Tuy nhiên, người chứng kiến đã có lời khai rõ trong quá trình điều tra vụ án. Xét thấy sự vắng mặt của người chứng kiến không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Vì vậy, Căn cứ vào Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt người chứng kiến.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[3] Tại phiên tòa, lời khai nhận của bị cáo Phạm Văn N là phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến, vật chứng là ma túy đã thu giữ trong quá trình bắt người phạm tội quả tang cùng những tài liệu, chứng cứ khác do Cơ quan điều tra thu thập trong quá trình điều tra vụ án. Đã đủ cơ sở xác định: Do nghiện ma túy, nên Phạm Văn N đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,9491 gam Methamphetamine để sử dụng thì bị lực lượng Đồn Biên phòng H7 bắt quả tang vào khoảng 11 giờ 15 phút ngày 16/7/2023 tại Khu phố A, thị trấn T, huyện B, tỉnh Bến Tre. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre đã truy tố bị cáo Phạm Văn N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[4] Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sự độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Khi thực hiện hành vi, bị cáo là người đã trưởng thành, đủ tuổi và có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Bị cáo biết rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn bất chấp và cố ý thực hiện. Vì vậy, việc đưa bị cáo ra xét xử là cần thiết và với tính chất hành vi của bị cáo, HĐXX xét thấy cần xử lý bị cáo bằng hình phạt tù giam để cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đủ sức răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo nhằm giúp bị cáo từ bỏ chất ma túy để trở thành người tốt, có ích cho xã hội, đồng thời cũng để răn đe, phòng ngừa chung trước thực trạng tệ nạn ma túy đang ngày càng gia tăng và diễn biến phức tạp trên địa bàn huyện nhà.
[5] Về tình tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[6] Về tình tiết giảm nhẹ hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là phù hợp với nhận định của HĐXX nên được chấp nhận.
[7] Về xử lý vật chứng:
- - Đối với Số ma túy còn lại sau giám định có khối lượng 0,7538 gam, được niêm phong cùng với vỏ bao gói trong phong bì số 535/2023, do đây là chất cấm nên sẽ bị tịch thu tiêu hủy.
- - Đối với số vật chứng gồm: 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu JET, 02 nỏ thủy tinh màu trắng, 01 đoạn băng keo màu vàng dài 40cm, 01 túi da màu đen kích thước 18 x 10,5cm, 01 kéo kim loại màu trắng dài 14cm, 01 túi ni long màu trắng được hàn kín 03 cạnh, cạnh còn lại có rãnh khép màu trắng kích thước 5,5 x 4cm, 02 đoạn ống hút bằng nhựa màu xanh được hàn kín 01 đầu dài 17cm và 3cm, 01 cuộn băng keo màu vàng đường kính 6cm, 01 bình tự chế bằng nhựa, thân bình có quấn băng keo màu xanh, phía trên có gắn 01 đoạn ống hút bằng nhựa màu xanh, do số vật chứng này là là công cụ sử dụng chất ma túy và không có giá trị sử dụng nên sẽ bị tịch thu tiêu hủy.
- - Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A83 màu hồng, màn hình bị vỡ. Đây là tài sản của bị cáo, không liên quan đến việc tàng trữ ma túy nên sẽ được trả cho bị cáo.
- - Đối với 01 xe môtô nhãn hiệu HONDA, màu sơn đỏ, biển kiểm soát 53R1-9696, đây là tài sản của bà Phạm Thị Bé H3. Do bà B H3 không biết bị cáo dùng xe vào việc mua và tàng trữ ma túy nên chiếc xe này sẽ được trả lại cho bà Phạm Thị Bé H3.
[8] Về án phí sơ thẩm: Bị cáo Phạm Văn N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Phạm Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- + Số ma túy còn lại sau giám định có khối lượng 0,7538 gam, được niêm phong cùng với vỏ bao gói trong phong bì số 535/2023 có chữ ký ghi tên Vũ Văn Đ, Nguyễn Ngọc M, Phan Trung T1 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bến Tre.
- + 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu JET, 02 nỏ thủy tinh màu trắng, 01 đoạn băng keo màu vàng dài 40cm (được niêm phong trong phong bì ký hiệu T02.B17); 01 túi da màu đen kích thước 18 x 10,5cm được niêm phong trong phong bì ký hiệu T04; 01 kéo kim loại màu trắng dài 14cm, 01 túi ni long màu trắng được hàn kín 03 cạnh, cạnh còn lại có rãnh khép màu trắng kích thước 5,5 x 4cm, 02 đoạn ống hút bằng nhựa màu xanh được hàn kín 01 đầu dài 17cm và 3cm, 01 cuộn băng keo màu vàng đường kính 6cm (được niêm phong trong phong bì ký hiệu K01), 01 bình tự chế bằng nhựa, thân bình có quấn băng keo màu xanh, phía trên có gắn 01 đoạn ống hút bằng nhựa màu xanh.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14;
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
Xử phạt bị cáo Phạm Văn N 01 (một) năm tù.
Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt tù.
- Tịch thu tiêu hủy:
- Trả cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A83 màu hồng, màn hình bị vỡ được niêm phong trong phong bì ký hiệu T03.
- Trả cho người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Phạm Thị Bé H3 01 xe môtô nhãn hiệu HONDA, màu sơn đỏ, biển kiểm soát 53R1-9696.
(Theo phiếu nhập kho số NKTV.01 ngày 17/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Tri).
Bị cáo Phạm Văn N phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
|
* Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trần Thị Huyền Nhung |
Bản án số 45/2023/HS-ST ngày 22/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI, TỈNH BẾN TRE về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 45/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI, TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Phạm Văn N phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy và bị xử phạt 01 năm tù
