Hệ thống pháp luật
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HỒNG BÀNG
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Bản án số: 45/2021/HS-ST
Ngày 06-7- 2021
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
__________________________

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HỒNG BÀNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Ngọc Sinh

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Ông Nguyễn Minh Toàn
  • Bà Bùi Thị Hương.

- Thư ký phiên toà: Bà Đào Thị Hà - Thư ký Toà án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Quyên - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 7 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 39/2021/TLST-HS ngày 27 tháng 5 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2021/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 6 năm 2021 đối với bị cáo:

NTH, sinh ngày 24 tháng 5 năm 1982 (theo Giấy khai sinh số 199, quyển số 01 ngày 24-8-1988 tại Uỷ ban nhân dân xã A, huyện B, thành phố Hải Phòng đăng ký sinh ngày 24-5-1982; nhưng ghi nhầm ngày tháng năm sinh khác là sinh ngày 24 tháng 5 năm 1981 theo Sổ hộ khẩu gia đình và Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn), tại thành phố Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn 10, xã A, huyện B, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 03/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông NDTT và bà C, có chồng là D và 01 con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt, tạm giữ từ ngày 18-12-2020; tạm giam từ ngày 25-12-2020. Có mặt.

- Người chứng kiến: Bà NCK1, anh NCK2; đều vắng mặt.

- Người được Tòa án triệu tập: Ông NDTT, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do nghiện ma túy, khoảng 11 giờ 20 phút ngày 18 tháng 12 năm 2020, NTH sử dụng điện thoại Nokia màu đen, gọi vào số điện thoại 0936.831.624 cho E (tên thường gọi E “cò”) để hỏi mua ma túy “đá”. E “cò” đồng ý và hẹn đến khu vực chợ F, G, H, Hải Phòng để giao ma túy. Sau đó, NTH điều khiển xe mô tô Biển kiểm soát 34F9-7512 đi đến khu vực chợ F, gặp E ‘cò” mua ma túy. E’cò” bảo không đủ ma túy và đưa trước cho NTH 01 túi nilon chứa ma túy “đá” giá 200.000 đồng, rồi hẹn khi nào có ma túy sẽ đưa tiếp và nhận thanh toán tiền sau. NTH nhận và cất toàn bộ số ma túy trên vào túi áo khoác phía trước bên trái của NTH đang mặc, sau đó điều khiển xe mô tô đi về. Đến khoảng 13 giờ 50 phút cùng ngày, đi đến khu vực cống I, đường J, K, H, NTH bị lực lượng chức năng kiểm tra, đưa về Công an phường Sở Dầu, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và bị thu giữ tại túi áo khoác bên trái phía trước NTH đang mặc 01 túi nilon có kích thước 2x2cm trong chứa tinh thể màu trắng, 01 điện thoại Nokia màu đen, 01 xe mô tô Biển kiểm soát 34F9-7512 đã qua sử dụng và số tiền 1.040.000 đồng.

Theo Kết luận giám định số 54 ngày 21/12/2020 của Phòng kỹ thuật Hình sự Công an thành phố Hải Phòng kết luận: “Tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 0,45 gam, là loại: Methamphetamine”.

Tại Cáo trạng số 41/CT-VKSHB ngày 25-5-2021, Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng truy tố NTH về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo khai, thừa nhận việc truy tố, xét xử bị cáo là đúng người, đúng tội danh, mong muốn sửa chữa lỗi lầm, cam đoan chấp hành án nghiêm chỉnh để sớm hòa nhập xã hội, gia đình. Bị cáo thừa nhận để riêng số tiền 200.000 đồng mục đích trả cho người bán ma túy và đồng ý quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát về việc xử lý vật chứng.

Đại diện Viện Kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức án từ 18 tháng đến 21 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì thư niêm phong số ma túy và toàn bộ vỏ bao bì còn lại sau giám định có dấu niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng. Cần tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại Nokia màu đen có số IMEI 1:351852/07/941994/0, IMEI2: 351852/07/941955/7 và số tiền 200.000 đồng của bị cáo. Cần trả lại bị cáo 840.000 đồng, nhưng tạm giữ số tiền này bảo đảm thi hành án. Đối với chiếc xe mô tô Biển kiểm soát 34F9- 7512 mà bị cáo sử dụng làm phương tiện để đi mua ma túy hiện chưa xác định được chủ sở hữu hợp pháp, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh, xử lý sau. Đối với E tức E “cò” là người bán ma túy cho bị cáo, qua xác minh không có mặt tại địa phương, nên Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, xử lý sau là có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tài liệu, chứng cứ cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập; bị cáo, người tham gia tố tụng khác cung cấp đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Cần chấp nhận trình bày ý kiến bổ sung, quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát, phù hợp kết quả xác minh tại Ủy ban nhân dân, Công an xã Liên Khê, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng, phù hợp trình bày tại phiên tòa của bố NTH và bị cáo về việc xác định chính xác bị cáo NTH sinh ngày 24-5-1982 theo Giấy khai sinh số 199 quyển sổ 01 ngày 24-8-1988 đăng ký tại Uỷ ban nhân dân xã A, huyện B, thành phố Hải Phòng, nhưng NTH có ngày tháng năm sinh khác là sinh ngày 24-5-1981 theo Sổ hộ khẩu gia đình số 123/Q3-X10 do Công an huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng cấp ngày 05-11-1997 và Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn đăng ký ngày 30-7-2015 tại Ủy ban nhân dân xã Tân Dương, huyện B, thành phố Hải Phòng. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại về những chứng cứ, tài liệu đã thu thập, cung cấp. Do đó, những chứng cứ, tài liệu trong vụ án đều hợp pháp.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nêu trên. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[3] Về chứng cứ xác định bị cáo có tội: Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp lời khai người chứng kiến, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, đủ cơ sở xác định: Khoảng 13 giờ 50 phút ngày 18-12-2020, NTH có hành vi cất giấu 0,45 gam Methamphetamine, bị bắt quả tang tại khu vực cống I, đường J, phường K, quận H, thành phố Hải Phòng. Bị cáo cất giấu trái phép ma túy với mục đích sử dụng, mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển hay sản xuất trái phép chất ma túy. Bởi vậy, đủ căn cứ kết luận hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại Điều 249 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội.

[4] Về tình tiết định khung hình phạt: B bị cáo không phạm tình tiết tăng nặng định khung hình phạt nào khác điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, nên bị cáo phạm điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

[5] Hành vi phạm tội của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, không những xâm hại đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, mà còn là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an xã hội, gây tâm lý bức xúc trong quần chúng nhân dân. Bởi vậy, cần phải xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật.

[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không vi phạm các tình tiết theo Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

[7] Về nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Tại phiên tòa cũng như tại cơ quan điều tra, bị cáo thành khẩn khai báo. Bị cáo có bố tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, làm nhiệm vụ quốc tế sau ngày 30-4-1975, tham gia chiến dịch Biên giới phía Bắc từ tháng 03-1979 đến tháng 6-1979, có chồng được tặng Huân chương kháng chiến hạng nhì và Huân chương chiến công hạng nhì. Do vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[8] Về áp dụng hình phạt chính: Trên cơ sở xem xét khối lượng ma túy, đánh giá đầy đủ tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đánh giá đầy đủ nhân thân, thái độ ân hận, cam đoan sửa chữa sai phạm của bị cáo khi quyết định hình phạt. Do vậy, cần xử phạt bị cáo hình phạt tù dưới mức khởi điểm đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát, bảo đảm trừng trị người phạm tội, đồng thời bảo đảm giáo dục bị cáo ý thức tuân theo pháp luật, các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa bị cáo phạm tội mới và giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm.

[9] Về hình phạt bổ sung: Căn cứ các tài liệu, chứng cứ, lời khai thể hiện bị cáo không có thu nhập ổn định, không xác định được về tài sản, nên cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát về việc không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền là có căn cứ, đúng pháp luật.

[10] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, cần chấp nhận quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát, ý kiến của bị cáo: Tịch thu tiêu hủy đối với vật chứng thuộc trường hợp Nhà nước cấm lưu hành là 01 phong bì thư niêm phong số ma túy còn lại sau giám định số 54/MT/PC09 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng. Cần tịch thu, nộp ngân sách nhà nước đối với 01 điện thoại Nokia màu đen có số IMEI 1:351852/07/941994/0, IMEI2: 351852/07/941955/7. Trong tổng số tiền 1.040.000 đồng của bị cáo bị tạm giữ, cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền liên quan phạm tội 200.000 đồng và trả lại 840.000 đồng cho bị cáo không liên quan hành vi phạm tội, nhưng tạm giữ lại số tiền này bảo đảm thi hành án.

[11] Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: NTH 17 (mười bẩy) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 18 tháng 12 năm 2020.

Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) phong bì thư niêm phong số ma túy và toàn bộ vỏ bao bì còn lại sau giám định có dấu niêm phong số 54MT/PC09 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại Nokia màu đen có số IMEI 1:351852/07/ 941994/0, IMEI2: 351852/07/941955/7 (đã qua sử dụng) có gắn thẻ sim có số ICCID: 89840480000 31760617. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng của bị cáo. Trả lại bị cáo 840.000 (Tám trăm, bốn mươi nghìn) đồng, nhưng tạm giữ số tiền này bảo đảm thi hành án. (Đặc điểm vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 14-6-2021 và Biên lai thu tiền số 7721 ngày 14-6-2021 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Hồng Bàng và Chi cục Thi hành án Dân sự quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng).

Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội; buộc bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:
- TAND TP.Hải Phòng;
- Sở Tư pháp TP.Hải Phòng;
- VKSND TP. Hải Phòng;
- Công an TP. Hải Phòng;
- Trại tạm giam Công an TP. Hải Phòng;
- CA quận Hồng Bàng;
- Cơ quan THAHS Công an Q.Hồng Bàng;
- VKSND Q.Hồng Bàng;
- Chi cục THADS Q.Hồng Bàng;
- UBND nơi cư trú của bị cáo;
- Bị cáo;
- Lưu: Hồ sơ vụ án, HC-TP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA



Vũ Ngọc Sinh
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 45/2021/HS-ST ngày 06/07/2021 của Toà án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 45/2021/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/07/2021
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Toà án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger