Hệ thống pháp luật
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH B


Bản án số: 45/2021/HNGĐ-PT.

Ngày 30-12-2021.

V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con, chia tài sản khi ly hôn”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH B

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Hải Hường

Các Thẩm phán: Bà Trần Thị Hà; Bà Hoàng Thị Thu Hiền.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Dung - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh B.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh B tham gia phiên tòa: Bà Hà Thị Hải - Kiểm sát viên trung cấp.

Trong ngày 30/12/2021 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh B xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 42/2021/TLPT- HNGĐ ngày 29/10/2021 về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con, chia tài sản khi ly hôn”

Do bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 67/2021/HNGĐ-ST ngày 16/9/2021 của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh B bị kháng cáo. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 40/2021/QĐ-PT ngày 23/01/2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 35/2021/QĐ-PT ngày 10/12/2021, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1974 (có mặt).
Địa chỉ: Xóm Bãi Tre, thôn An Hòa, xã Đoan Bái, huyện H, tỉnh B

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1980 (có mặt).
Địa chỉ: Xóm Bãi Tre, thôn An Hòa, xã Đoan Bái, huyện H, tỉnh B

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Ông Nguyễn PS - Luật sư Công ty Luật TNHH Việt Phú – Đoàn Luật sư TP H (có mặt)

* Người kháng cáo: bị đơn bà Nguyễn Thị B

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 18/2/2020 và tại bản tự khai, nguyên đơn ông Nguyễn Văn T trình bày: Ông và bà Nguyễn Thị B kết hôn với nhau ngày 12/10/1998 trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Hương Mai, huyện Việt Yên. Sau ngày cưới ông bà đoàn tụ và chung sống bình thường đến năm 2016 thì xảy ra mâu thuẫn trầm trọng, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không còn hòa hợp nhau, đồng thời, ông còn phát hiện bà B có quan hệ ngoại tình và vợ chồng đã đánh cãi chửi nhau. Thời điểm đó ông đã có đơn xin ly hôn nhưng được Tòa án hòa giải nên ông đã rút đơn để vợ chồng đoàn tụ. Tuy nhiên, tình cảm vợ chồng vẫn không cải thiện được, bà B không thay đổi nên ông bà đã chấm dứt quan hệ vợ chồng từ năm 2017. Nay ông xác định tình cảm vợ chồng không còn, ông yêu cầu được ly hôn bà B.

Bị đơn bà Nguyễn Thị B trình bầy: Bà thừa nhận thời gian và điều kiện kết hôn như ông T đã trình bày là đúng. Quá trình chung sống, vợ chồng xảy ra mâu thuẫn nhiều lần nhưng chỉ là mâu thuẫn nhỏ nhặt. Cho đến tháng 8/2016 thì xảy ra mâu thuẫn căng thẳng do bất đồng quan điểm, không còn hòa hợp và nghi ngờ nhau có quan hệ ngoại tình, từ đó đến nay vợ chồng đã ly thân và không còn quan tâm đến nhau nữa. Bà B không nhất trí ly hôn vì tình cảm vợ chồng vẫn còn và vì con cái nên bà không nhất trí ly hôn.

Về con chung: Cả hai ông bà đều trình bày, vợ chồng có hai con chung là Nguyễn Quang Khải, sinh ngày 02/01/2000 và Nguyễn Thị Ngọc Ánh, sinh ngày 23/10/2009. Ông bà thống nhất không đặt vấn đề nuôi dưỡng đối với con lớn do đã trưởng thành, còn con nhỏ ông T đồng ý để cho bà B được trực tiếp nuôi dưỡng và bà Biến nhất trí.

Về tài sản: Ông bà đều trình bày vợ chồng có tài sản chung gồm có: thửa đất ở số 18 tờ bản đồ T. Đo tại thôn An Hòa, xã Đoan Bái, huyện H, tỉnh B diện tích 100m2 do vợ chồng mua của bố mẹ bà B, đã được UBND huyện H cấp GCNQSD đất số BG 144290 ngày 13/6/2011 mang tên ông Nguyễn Văn T; vợ chồng ông bà đã xây nhà ở, bếp, nhà vệ sinh và một số công trình trên thửa đất ở đó. Ông T yêu cầu chia đôi khối tài sản chung nói trên, ông yêu cầu được sử dụng thửa đất, sở hữu toàn bộ tài sản trên đất và chia giá trị bằng tiền cho bà B. Bà B đề nghị chia cho bà được sử dụng ½ nhà đất trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 300; khoản 2, Điều 308 - Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ Điều 55, Điều 58, Điều 59, Điều 62, Điều 81, Điều 82, Điều 83; điều 107; Điều 116; Điều 117 - Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 28; Điều 147; 148 Bộ luật tố tụng dân sự. Khoản 2, Điều 357; khoản 2, Điều 468- Bộ luật Dân sự; Điểm a, b khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27; khoản 2, Điều 29 - Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa ông Nguyễn Văn T với bà Nguyễn Thị B.
  2. Về con chung: Giao cho bà Nguyễn Thị B được trực tiếp nuôi con chung là Nguyễn Thị Ngọc Ánh, sinh ngày 23/10/2009. Ông Nguyễn Văn T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con hàng tháng cho bà B số tiền là 2.000.000đồng/1 tháng kể từ tháng 1/2022 đến khi con chung Nguyễn Thị Ngọc Ánh đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
  3. Về tài sản chung: Giao cho bà Nguyễn Thị B được quản lý, sử dụng thửa đất ở số 18 tờ bản đồ T. Địa chỉ: thôn An Hòa, xã Đoan Bái có diện tích 100m2 theo GCNQSD đất số BG 144290 ngày 13/6/2011 của UBND huyện H cấp mang tên ông Nguyễn Văn T (nay thuộc thửa 102, tờ bản đồ số 14), được sở hữu toàn bộ tài sản gắn liền với thửa đất gồm: nhà ở; bếp; nhà tắm, nhà vệ sinh; bể nước; bán mái sân giếng; bán mái trước của nhà, tổng trị giá là 1.672.000.000đồng nhưng bà Nguyễn Thị B phải có nghĩa vụ chia tài sản cho ông Nguyễn Văn T giá trị bằng tiền là 836.000.000đồng (tám trăm ba mươi sáu triệu đồng).
Nơi nhận:
- TAND Cấp cao tại H;
- VKSND tỉnh B;
- TAND huyện H;
- Chi cục THADS huyện H;
- Các đương sự;
- Cổng thông tin điện tử;
- Lưu hồ sơ vụ án, HCTP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA





Hoàng Thị Hải Hường
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 45/2021/HNGĐ-PT ngày 30/12/2021 của Toà án nhân dân tỉnh B về ly hôn, tranh chấp nuôi con, chia tài sản khi ly hôn

  • Số bản án: 45/2021/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con, chia tài sản khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 30/12/2021
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Toà án nhân dân tỉnh B
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1974 (có mặt). Địa chỉ: Xóm Bãi Tre, thôn An Hòa, xã Đoan Bái, huyện H, tỉnh B Bị đơn: Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1980 (có mặt). Địa chỉ: Xóm Bãi Tre, thôn An Hòa, xã Đoan Bái, huyện H, tỉnh B Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Ông Nguyễn PS - Luật sư Công ty Luật TNHH Việt Phú – Đoàn Luật sư TP H (có mặt)
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger