|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ M’GAR TỈNH ĐẮK LẮK Bản án số: 45 /2021/DS-ST Ngày 29 - 7 - 2021 “V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ M’GAR, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Huyền Diệu
Các hội thẩm nhân dân:
- Bà Cao Thị Hồng Châu
- Bà Bùi Thị Hà
Thư ký ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Văn Trung – Thư ký Tòa án nhân dân huyện CưM’Gar
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CưM’gar tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thu Thủy – Kiểm sát viên
Ngày 29/7/2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 525/2020/TLST-DS ngày 10 tháng 11 năm 2020 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 55/2021/QĐXX-ST ngày 24 tháng 6 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 46/2021/QĐST ngày 12 tháng 7 năm 2021 giữa:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần S
Địa chỉ: 266 – 268 N, Quận A, thành phố Hồ Chí Minh
Người đại diện theo pháp luật: Nguyễn Đức Thạch D - Chức vụ: Tổng giám đốc
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Phạm Đình V - Chức Vụ: Giám đốc ngân hàng thương mại cổ phần S – Chi nhánh Đăklăk.
Người đại diện theo ủy quyền lại: Ông Nguyễn Mạnh C– Có đơn xét xử vắng mặt. Chức vụ: Phó phòng giao dịch N – Ngân hàng TMCP S
2. Bị đơn: Ông Trần Văn C và bà Nguyễn Thị L, vắng mặt
Địa chỉ: Buôn E, xã E, huyện C, tỉnh ĐăkLăk.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình tiến hành tố tụng đại diện theo ủy quyền lại của nguyên đơn ông Nguyễn Mạnh C trình bày:
Ngân hàng TMCP S (gọi tắt là ngân hàng) có cho vợ chồng ông Trần Văn C và bà Nguyễn Thị L vay vốn theo Hợp đồng tín số LD 1912600456 ngày 09/5/2019
- Ngày giải ngân tiền vay: 10/5/2020;
- Số tiền giải ngân: 400.000.000 đồng;
- Lãi suất 03 tháng đầu tiên là 11%/năm (%/năm, năm = 365 ngày), từ tháng thứ 04 kể từ ngày nhận nợ lãi suất của toàn bộ dư nợ vay được điều chỉnh theo mức lãi suất bằng Lãi suất huy động tiết kiệm 12 tháng lãnh lãi cuối kỳ VND của ngân hàng + (cộng) biên độ 4.1%/năm nhưng không thấp hơn lãi suất cho vay ban đầu và được Sacombank quyết định điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần.
- Thời hạn trả nợ, phương thức trả nợ: Lãi trả 12 tháng/ lần vào ngày 10; Vốn gốc được trả 12 tháng/ lần, ngày trả gốc cuối cùng là ngày 10/5/2020 (ngày đáo hạn của Hợp đồng vay).
- Tình trạng khoản nợ: Tổng số tiền phải trả phát sinh theo Hợp đồng là 529.965.382 đồng, trong đó: tiền vốn gốc là 400.000.000 đồng, tiền lãi theo lãi suất trong hạn là 97.764.384 đồng, tiền lãi theo lãi suất quá hạn là 32.200.998 đồng.
Ông C và bà L đã vi phạm hợp đồng, không thực hiện nghĩa vụ thanh toán lãi đến hạn vào ngày 10/5/2020, Sacombank đã chấm dứt Hợp đồng tín dụng và thông báo thu hồi nợ đối với toàn bộ khoản vay.
Để đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ ông C và bà L đã thế chấp tài sản là Quyền sử dụng đất và toàn bộ tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 225, tờ bản đồ số 46 diện tích 4.000m2, địa chỉ tại xã EaMdroh, huyện CưM’gar, tỉnh Đăk Lăk, theo Giấy chứng nhận số CA 908964 do UBND Huyện CưM’gar cấp ngày 29/8/2015; Thửa đất số 42, tờ bản đồ số 46 diện tích 2.722,5m2, địa chỉ tại xã EaMdroh, huyện CưM’gar, tỉnh Đăk Lăk, theo Giấy chứng nhận số CĐ 751398 do UBND Huyện CưM’gar cấp ngày 27/12/2017; Thửa đất số 21, tờ bản đồ số 45 diện tích 3.576,7m2, địa chỉ tại xã EaMdroh, huyện CưM’gar, tỉnh Đăk Lăk, theo Giấy chứng nhận số BS 835685 do UBND Huyện CưM’gar cấp ngày 14/01/2015. Theo hợp đồng thế chấp số 165/2019/TC/NTT ngày 09/5/2019. Giao dịch thế chấp đã được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai Huyện Cư M’gar.
Quá trình thực hiện hợp đồng, vợ chồng ông C và bà L chưa trả cho ngân hàng khoản tiền gốc lãi nào cả và còn nợ Ngân hàng tính đến ngày 28/7/2021 tổng số tiền 529.965.382 đồng, trong đó tiền gốc là 400.000.000 đồng, tiền lãi theo lãi suất trong hạn là 97.764.384 đồng, tiền lãi theo lãi suất quá hạn là 32.200.998 đồng.
Ngân hàng đề nghị Tòa án buộc vợ chồng ông C và bà L phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền 529.965.382 đồng và số tiền lãi phát sinh từ ngày 29/7/2021 theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng cho đến khi trả hết nợ. Trường hợp không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, đề nghị Tòa án tuyên xử lý tài sản đã thế chấp để thu hồi nợ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ pháp luật: Đây là tranh chấp hợp đồng tín dụng nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã triệu tập hợp lệ bị đơn ông Trần Văn C và bà Nguyễn Thị L nhưng ông C và bà L vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai, đại diện theo ủy quyền cho nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Về nội dung: Xét hợp đồng tín dụng ký kết giữa các bên là hoàn toàn tự nguyện. Việc ông Trần Văn C và bà Nguyễn Thị L không trả nợ cho Ngân hàng khi đến hạn là vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay. Do đó, cần buộc ông Trần Văn C và bà Nguyễn Thị L trả nợ toàn bộ số nợ gốc và nợ lãi theo hợp đồng tín dụng cho Ngân hàng là phù hợp với quy định tại các Điều 463; 466; 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 318; 319; 325; 463; 466; 468; 470 của Bộ luật dân sự năm 2015; Các Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín.
1. Buộc ông Trần Văn C và bà Nguyễn Thị L có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín số tiền 529.965.382 đồng (trong đó tiền gốc là 400.000.000 đồng, tiền lãi trong hạn là 97.764.384 đồng, tiền lãi quá hạn là 32.200.998 đồng). Ông Trần Văn C và bà Nguyễn Thị L tiếp tục trả lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng đối với khoản nợ gốc kể từ ngày 29/7/2021 cho đến khi trả xong nợ.
2. Trường hợp ông Trần Văn C và bà Nguyễn Thị L không trả nợ hoặc trả nợ không đủ cho Ngân hàng thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự phát mãi tài sản thế chấp là các quyền sử dụng đất theo các Giấy chứng nhận số CA 908964, CĐ 751398, BS 835685 để thu hồi nợ.
3. Về án phí: Ông Trần Văn C và bà Nguyễn Thị L phải chịu 25.198.615 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Ngân hàng TMCP S được nhận lại 11.194.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp.
|
Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND huyện Cư M’gar; - Chi cục THADS huyện Cư M’gar; - Các đương sự; - Lưu HS. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Huyền Diệu |
Bản án số 45/2021/DS-ST ngày 29/07/2021 của Tòa án nhân dân huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 45/2021/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/07/2021
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TMCP S yêu cầu ông C và bà L trả nợ theo hợp đồng tín dụng đã ký kết
