|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN Bản án số: 45/2021/DS-PT Ngày: 14/6/2021 V/v “Tranh chấp chia di sản thừa kế”. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Ngọc Hà
Các Thẩm phán: Ông Mai Tấn Hoàng và ông Ngô Chịu.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Quang – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Đẳng – Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 6 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 02/2020/TLPT-DS ngày 03 tháng 01 năm 2020 về việc “Tranh chấp chia di sản thừa kế”. Do bản án dân sự sơ thẩm số: 26/2019/DS-ST ngày 06 tháng 9 năm 2019 của Toà án nhân dân huyện P bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 20/2021/QĐ-PT ngày 15 tháng 4 năm 2021 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1954. Nơi cư trú: Thôn L, xã T, huyện P, tỉnh Phú Yên.
Người đại diện theo ủy quyền: Anh Đỗ Hoàng C1, sinh năm 1982; Nơi cư trú: Thôn L, xã T, huyện P, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
- Bị đơn: bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1966; Nơi cư trú: Thôn P2, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Đình C, sinh năm 1963; Nơi cư trú: Thôn P2, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Đình C, sinh năm 1963;
- Chị Nguyễn Thị Uyên L, sinh năm 1987;
- Chị Nguyễn Thị Bích Tr, sinh năm 1990;
- Chị Nguyễn Thị Thu Tr1, sinh năm 1993;
- Chị Nguyễn Thị Thu C2, sinh năm 1995;
Cùng trú tại: Thôn P2, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên.
Đại diện theo ủy quyền của chị L, Tr, Tr1, C2: ông Nguyễn Đình C, sinh năm 1963; Nơi cư trú: Thôn P2, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên.
Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị S và người đại diện theo ủy quyền của bị đơn (ông Nguyễn Đình C).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị S do người đại diện theo ủy quyền trình bày:
Cha mẹ tôi là ông Nguyễn H (chết năm 1989), bà Nguyễn Thị H1 (chết năm 2013), có 04 người con: Nguyễn Tấn D (chết năm 1967 không có vợ con), Nguyễn Thị Đ (chết năm 1983 không có chồng con), Nguyễn Thị S và Nguyễn Thị T. Cha mẹ tôi có thừa hưởng diện tích đất khoảng 3000m2 của ông bà để lại và tạo lập được căn nhà cấp 04 ở thôn P2, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên. Nay để đảm bảo quyền lợi hợp pháp, cũng như để có nơi thờ tự, nhang khói ông bà tổ tiên, tôi yêu cầu Tòa án chia di sản thừa kế theo quy định pháp luật toàn bộ khối di sản là diện tích đất khoảng 3000m2 ở thôn P2, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên của cha mẹ tôi để lại hiện do bà Nguyễn Thị T đang quản lý thuộc thửa đất 376 tờ bản đồ 276D diện tích 928m2 và thửa đất 472 tờ bản đồ 276D diện tích 2021m2; Ngoài ra không yêu cầu chia di sản gì khác.
Bị đơn bà Nguyễn Thị T trình bày: Về nguồn gốc đất tranh chấp thừa kế nói trên đúng là của cha mẹ chúng tôi để lại và thành phần gia đình anh, chị, em tôi thống nhất như nguyên đơn trình bày. Về yêu cầu khởi kiện chia di sản thừa kế theo quy định pháp luật của bà S đối với toàn bộ khối di sản nêu trên của cha mẹ tôi đã để lại thì tôi không đồng ý, đề nghị Tòa bác toàn bộ yêu cầu chia thừa kế của bà S vì: Ngày 13/5/1992, tại biên bản phân chia tài sản đã thống nhất giao nhà cho tôi. Ngày 16/6/2011, mẹ tôi đã lập di chúc để lại toàn bộ tài sản cho vợ chồng tôi. Hơn nữa đất sản xuất nông nghiệp mà nguyên đơn yêu cầu chia di sản thừa kế là của gia đình tôi do mẹ tôi đứng tên đại diện làm chủ hộ (gồm 07 người: Nguyễn Thị H1, Nguyễn Thị T, Nguyễn Đình C, Nguyễn Thị Uyên L, Nguyễn Thị Bích Tr, Nguyễn Thị Thu Tr1, Nguyễn Thị Thu C2) đã được Nhà nước cân đối giao đất theo Nghị định 64/CP.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Đình C, chị Nguyễn Thị Uyên L, chị Nguyễn Thị Bích Tr, chị Nguyễn Thị Thu Tr1, chị Nguyễn Thị Thu C2 do người đại diện hợp pháp theo ủy quyền ông Nguyễn Đình C trình bày: Thống nhất với ý kiến như trình bày của bị đơn bà Nguyễn Thị T.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 26/2019/DS-ST ngày 06 tháng 9 năm 2019 của Toà án nhân dân huyện P đã quyết định:
Căn cứ vào các Điều 609, 610, 611, 612, 613, 623, 624, 630, 643, 649, 651, 659 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 147, 165 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị S. Giao cho bà Nguyễn Thị S được nhận quyền sử dụng diện tích đất là di sản thừa kế gồm: 423,5m2 (trong đó có 62,5m2 đất ở nông thôn; 225m2 đất quy hoạch thổ cư; 136m2 đất vườn BHK) thuộc thửa đất số: 472 tờ bản đồ 276D có vị trí tứ cận: Đông giáp đất bà Nguyễn Thị T có cạnh 33,01m; Tây giáp đất ông Trần Văn Th có cạnh gấp khúc 20,76m, 2,48m, 3,16m, 2,34m và 3,37m; Nam giáp đường bê tông có cạnh 2,68m + 7,32m + 02m = 12m; Bắc giáp đất vợ chồng C- T có cạnh 18,37m tọa lạc tại thôn P2, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên (có sơ đồ bản vẽ kèm theo).
Bà S được quyền sở hữu số tài sản cây cối, vật kiến trúc có trên diện tích đất 423,5m2 đất giao nói trên. Bà Nguyễn Thị S phải có nghĩa vụ trả giá trị tài sản, vật kiến trúc, cây cối có trên diện tích đất 423,5m2 số tiền là 13.450.000đồng cho bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Đình C.
Bác yêu cầu đòi chia di sản thừa kế diện tích đất 1.828m2 (2.949m2 – 1.121m2) sản xuất nông nghiệp đã được Nhà nước cân đối theo Chính sách đất đai giao cho các nhân khẩu trong hộ gia đình ông C sản xuất, canh tác làm ăn (trong đó có 01 nhân khẩu: 749,28m2 phần của bà H1 đã di chúc để lại cho C- T).
Ghi nhận sự thỏa thuận của ông Nguyễn Đình C bà Nguyễn Thị T nội dung: Vợ chồng C- T đồng thống nhất bà T được nhận kỷ phần thừa kế suất bao nhiêu nhập chung thành tài sản chung của vợ chồng.
Giao cho vợ chồng ông C, bà T được quyền sử dụng diện tích đất là di sản thừa kế: 697,5m2 đất gồm: 187,5m2 đất ở, 225m2 đất quy hoạch đất ở, 285m2 đất vườn (136m2 + 149m2) thuộc thửa đất số: 472 tờ bản đồ 276D. Đồng thời hộ gia đình ông C gồm các nhân khẩu: Ông Nguyễn Đình C chị Nguyễn Thị Uyên L, chị Nguyễn Thị Bích Tr, chị Nguyễn Thị Thu Tr1, chị Nguyễn Thị Thu C2 và bà Nguyễn Thị T được tiếp tục quản lý sử dụng canh tác 900m2 đất sản xuất nông nghiệp đã được nhà nước cân đối giao cho hộ gia đình trước đây (900m2) đất này nằm chung trong thửa đất số: 472 tờ bản đồ 276D trên. Tổng diện tích 1.597,5m2 có sơ đồ bản vẽ kèm theo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào ý kiến các bên đương sự, Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: bị đơn bà Nguyễn Thị T và người đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Nguyễn Đình C tại phiên tòa ngày 29/7/2020 có mặt và yêu cầu tạm ngừng phiên tòa để xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc lại diện tích đất tranh chấp. Tại phiên tòa này vắng mặt, do đó HĐXX tiến hành xét xử.
[2] Xét kháng cáo của các đương sự: Người thừa kế của ông Nguyễn H (chết năm 1989) và bà Nguyễn Thị H1 (chết năm 2013) gồm bà Nguyễn Thị S và bà Nguyễn Thị T. Di sản của ông H, bà H1 hiện các đương sự tranh chấp gồm: Thửa đất số: 376, tờ bản đồ 276D, diện tích 940m2, đo đạc thực tế 928 m2 loại đất sản xuất nông nghiệp được nhà nước cân đối theo Nghị định 64/CP cho hộ gia đình bà H1. Thửa đất số: 472 tờ bản đồ 276D, diện tích: 1.600m2, đo đạc thực tế 2.021m2.
[3] Năm 1989, cụ H chết không có di chúc. Thừa kế được mở theo pháp luật nhưng lúc này không ai yêu cầu chia thừa kế. Đến nay có tranh chấp yêu cầu chia thừa kế đối với di sản do ông H để lại là còn thời hiệu theo Điều 623 Bộ luật dân sự năm 2015. Năm 2013, cụ H1 chết có di chúc lập ngày 16/6/2011. Di chúc có chứng thực của chính quyền địa phương. Cấp sơ thẩm xác định di chúc trên của bà H1 là hợp pháp đối với phần di sản của riêng bà H1 là có căn cứ.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn, bị đơn, sửa án sơ thẩm.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị S. Bà Nguyễn Thị S được nhận quyền sử dụng diện tích đất 508,8m2 (trong đó có 41,66m2 đất ở nông thôn; 202,5m2 đất quy hoạch thổ cư; 264,5m2 đất vườn) thuộc thửa đất số: 472 tờ bản đồ 276D có vị trí tứ cận: Đông giáp đất bà Nguyễn Thị T có cạnh 12,77m + 20,24m + 4,44m; Tây giáp đất ông Trần Văn T có cạnh gấp khúc từ điểm 25-30 và từ điểm 30-1, 1-3; Nam giáp đường bê tông có cạnh từ điểm 22 - 25; Bắc giáp thửa BHK 1290 từ điểm 3-5, tọa lạc tại thôn P2, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên (có sơ đồ bản vẽ kèm theo).
Bà Nguyễn Thị S được quyền sở hữu số tài sản cây cối, vật kiến trúc có trên diện tích đất 508,8m2 được giao nói trên và có nghĩa vụ trả cho vợ chồng bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Đình C giá trị tài sản trên đất là 6.756.000đ và giá trị chênh lệch diện tích đất là 3.010.000đ = Tổng cộng là 9.766.000đ (Chín triệu bảy trăm sáu mươi sáu ngàn đồng).
|
Nơi nhận: - TAND cấp cao tại Đà Nẵng; - VKSND tỉnh Phú Yên (2); - TAND huyện P (2); - CCTHADS huyện P; - P.GĐKT; - VP-TNV; - Các đương sự; - Lưu AV, hồ sơ vụ án. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Ngọc Hà |
Bản án số 45/2021/DS-PT ngày 14/06/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên về tranh chấp chia di sản thừa kế
- Số bản án: 45/2021/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia di sản thừa kế
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 14/06/2021
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: nguyên đơn yêu cầu chia qsd đất do cha mẹ để lại trong đó có đất cân đối theo NĐ 64/CP
