|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 4495/2024/DS-ST Ngày: 20/09/2024 V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Lũy.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Phạm Thị Ngọc Dưỡng
- Ông Võ Văn Lợi
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Trọng Luân – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 09 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 102/2024/TLST-DS ngày 11 tháng 01 năm 2024 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 4761/2024/QĐXXST-DS ngày 20 tháng 08 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 1013/2024/QĐ-HPT ngày 06 tháng 09 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Công ty T(Việt Nam )
Trụ sở: 91, P, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh
Ủy quyền bà Lâm Thị Thùy D
- Bị đơn: Ông Lê Văn N, sinh năm 1986
Trú tại: Số B, Tổ A, khu phố E, phường L, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bà D có đơn xin vắng mặt, ông N vắng mặt không lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại phiên Tòa ngày hôm nay bà Lâm Thị Thùy D là người đại diện hợp pháp của nguyên đơn Công ty T ( Việt Nam ) tuy vắng mặt nhưng theo nội dung đơn khởi kiện, tại bản tự khai, tại biên bản về việc không tiến hành hòa giải được thì nội dung và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn như sau:
Ngày 05/10/2022, Công ty T ( Việt Nam ) gọi tắt là Công ty T ký Hợp đồng tín dụng số 3723294 về việc cấp tín dụng cho ông Lê Văn N với khoản vay trị giá 31.980.000 đồng. Sau khi ký kết, Công ty T đã giải ngân theo đúng quy định trong Hợp đồng tín dụng cho ông Lê Văn N. Theo Hợp đồng tín dụng, ông Lê Văn N có trách nhiệm/nghĩa vụ thanh toán/trả góp hàng tháng với số tiền 2.027.038 đồng trong kỳ hạn 24 tháng kể từ ngày 05/11/2022 đến ngày 05/11/2024. Tuy nhiên sau khi được giải ngân, ông Lê Văn N đã không thanh toán theo nghĩa vụ hợp đồng đối với khoản vay mà phía Công ty T đã giải ngân. Công ty T đã tiến hành liên hệ qua điện thoại đề nghị ông Lê Văn N thực hiện nghĩa vụ thanh toán của mình theo hợp đồng. Đồng thời Công ty T cũng đã gửi thư đề nghị thanh toán/thực hiện nghĩa vụ thanh toán, để thông báo trực tiếp cho ông Lê Văn N biết về việc hoàn thành nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng. Tuy nhiên ông Lê Văn N vẫn không có bất kỳ hành động thực tế nào thực hiện/hoàn thành nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng cho phía Công ty T. Tính đến ngày 20/09/2024 ông Lê Văn N đã trễ hạn không thanh toán các khoản tiền sau: Số nợ gốc chưa thanh toán là 31.980.000 đồng; Nợ lãi trong hạn 15.975.170 đồng; Nợ lãi quá hạn 16.453.739 đồng; Số tiền lãi chậm trả là 1.978.131 đồng. Tổng cộng là 66.387.040 đồng. Yêu cầu Tòa án xử buộc ông Lê Văn N thanh toán một lần toàn bộ khoản vay cho Công ty T ( Việt Nam ) với tổng số tiền (bao gồm dư nợ gốc còn lại của khoản vay, lãi, phí) tạm tính đến ngày 20/09/2024 là 66.387.040 đồng đồng; buộc ông Lê Văn N thanh toán lãi, phí phát sinh từ ngày 21/09/2024 cho đến khi hoàn tất việc thanh toán khoản vay nói trên.
Bị đơn ông Lê Văn N vắng mặt suốt trong quá trình tố tụng nên Tòa án không có thu thập được lời khai.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa có bà Trần Thị H- kiểm sát viên phát biểu:
Về tố tụng: Vụ án trên đã được Toà án nhân dân Thành phố Thủ Đức thụ lý và giải quyết đúng theo trình tự mà Bộ luật Tố tụng dân sự đã qui định.
Về nội dung yêu cầu của nguyên đơn: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp với các chứng cứ có tại hồ sơ và chứng minh công khai tại phiên tòa, yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở. Đề nghị Hội đồng xét xử xét chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
1. Về thủ tục tố tụng:
[1] Quan hệ tranh chấp giữa Công ty T ( Việt Nam ) và ông Lê Văn N là tranh chấp hợp đồng tín dụng, nên căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự, tranh chấp trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận, huyện. Bị đơn cư trú tại Thành phố T nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự quan hệ tranh chấp trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức;
[2] Ông Lê Văn N là bị đơn trong vụ án, Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định để ông Lê Văn N đến Tòa cung cấp lời khai, tham gia phiên họp công khai chứng cứ, hòa giải và nghe xét xử nhưng ông Lê Văn N vẫn không đến Tòa, không nộp cho Tòa án văn bản nêu ý kiến của mình và không có lý do, nguyên đơn có đơn xin được vắng mặt. Căn cứ vào quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung.
2. Về nội dung tranh chấp:
Căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ, lời trình bày cùng như yêu cầu của bà Lâm Thị Thùy D là đại diện theo ủy quyền của Công ty T ( Việt Nam ), Công ty T ( Việt Nam ) yêu cầu ông Lê Văn N có trách nhiệm trả cho Công ty T ( Việt Nam ) số tiền nợ trong hợp đồng tín dụng tính đến ngày 20 tháng 09 năm 2024: Bao gồm nợ gốc chưa thanh toán là 31.980.000 đồng; Nợ lãi trong hạn 15.975.170 đồng; Nợ lãi quá hạn 16.453.739 đồng; Số tiền lãi chậm trả 1.978.131 đồng. Tổng cộng là 66.387.040 đồng, trả 01 lần ngay khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật và ông Lê Văn N còn phải tiếp tục thanh toán lãi, phí phát sinh từ ngày 21/09/2024 cho đến khi hoàn tất việc thanh toán khoản vay nói trên, yêu cầu của Công ty T ( Việt Nam ) Hội đồng xét xử xét:
[1] Công ty T ( Việt Nam ) khởi kiện ông Lê Văn N, kèm theo đơn là các tài liệu chứng minh ông Lê Văn N có nợ tiền Công ty T ( Việt Nam ). Tòa án đã triệu tập ông Lê Văn N đến Tòa để cung cấp bản tự khai, tham gia phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia phiên Tòa nhưng ông Lê Văn N đều không đến Tòa, không có văn bản phản đối nên theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự thì yêu cầu khởi kiện không thuộc trường hợp phải chứng minh. Ông Lê Văn N phải chịu trách nhiệm về yêu cầu khởi kiện và những tài liệu chứng cứ mà Công ty T ( Việt Nam ) đưa ra.
[2] Căn cứ Bản án là Hợp đồng tín dụng số 3723294 ngày 05 tháng 10 năm 2022 có chữ ký của ông Lê Văn N đã cho thấy ông Lê Văn N có đề nghị Công ty T ( Việt Nam ) cho vay số tiền 31.980.000 đồng. Công ty T ( Việt Nam ) đã chấp nhận cho cho ông Lê Văn N vay số tiền trên, mục đích vay mua hàng hóa, lãi suất thỏa thuận, việc thỏa thuận trên giữa Công ty T ( Việt Nam ) và ông Lê Văn N là phù hợp quy định tại Điều 116, Điều 117 Điều 463, Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015 và Đều 91 của Luật các tổ chức tín dụng. Sau khi được Công ty T ( Việt Nam ) giải ngân cho ông Lê Văn N, ông Lê Văn N đã tiến hành giao dịch. Sau khi ông Lê Văn N đã vay được tiền, trong vài tháng đầu ông Lê Văn N có thanh toán tiền cho Công ty, nhưng dần về sau thì ông Lê Văn N không thanh toán, Công ty đã nhắc nhở nhiều lần nhưng ông Lê Văn N vẫn cố tình né tránh không thực hiện nghĩa vụ. Do ông Lê Văn N vì phạm nghĩa vụ trả nợ nên Công ty T ( Việt Nam ) khởi kiện yêu cầu ông Lê Văn N phải trả nợ cho Công ty T ( Việt Nam ) với số tiền vốn gốc là 31.980.000 đồng là có cơ sở và đúng pháp luật, Hội đồng xét xử nghĩ nên chấp nhận;
[3] Đối với số tiền nợ lãi: Ông Lê Văn N đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Công ty T ( Việt Nam ) đã áp dụng mức lãi suất mà hai bên đã ký để tính lãi, căn cứ Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 qui định: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật. Các bên tự nguyện thỏa thuận về mức tiền lãi, và được quy định trong hợp đồng thì ông Lê Văn N phải chịu số tiền lãi mà Công ty T ( Việt Nam ) đã yêu cầu là có cơ sở. Hội đồng xét xử nghĩ nên chấp nhận.
[4] Về thời gian trả nợ, như phân tích tại [1], [2], và [3] thì ông Lê Văn N đã vi phạm thời gian thanh toán nợ. Việc ông Lê Văn N vi phạm thời gian thanh toán nợ đã làm ảnh hưởng đến lợi ích của Công ty T ( Việt Nam ). Nay Công ty T ( Việt Nam ) yêu cầu ông Lê Văn N phải trả 01 lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật là hoàn toàn có cơ sở không trái pháp luật. Hội đồng xét xử nghĩ nên chấp nhận;
[5] Về đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thủ Đức tại phiên tòa hôm nay về nội dung vụ án, đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thủ Đức là có cơ sở.
Từ những phân tích nêu trên cho thấy yêu cầu khởi kiện của Công ty T ( Việt Nam ) là có cơ sở, đúng pháp luật, Hội đồng xét xử nghĩ nên chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
Về án phí:
- Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
- Bị đơn phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 92, Điều 147, Điều 180, Điều 227, Điều 228, Điều 273, Điều 278, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
- Điều 116, Điều 117, Điều 463, Điều 466, Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015;
- Căn cứ Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng;
- Điều 2, Điều 6, Điều 7, Điều 9, Điều 30 Luật Thi hành án dân sự;
- Căn cứ Luật phí và lệ phí;
- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
[1] Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty T ( Việt Nam ) về việc yêu cầu ông Lê Văn N có nghĩa vụ trả nợ cho Công ty T(Việt Nam):
Buộc ông Lê Văn N có nghĩa vụ trả cho Công ty T ( Việt Nam ) số tiền 66.387.040 đồng, trong đó nợ gốc là 31.980.000 đồng; Nợ lãi trong hạn 15.975.170 đồng; Nợ lãi quá hạn 16.453.739 đồng; Số tiền lãi chậm trả là 1.978.131 đồng. Trả 01 lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Các bên thi hành tại Cơ quan có thẩm quyền về thi hành án dân sự.
Trường hợp ông Lê Văn N chậm trả tiền thì còn phải chịu thêm tiền lãi phát sinh tính từ ngày 21 tháng 09 năm 2024 cho đến khi thi hành xong theo mức lãi suất được quy định trong Đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng tín dụng số 3723294 ngày 05 tháng 10 năm 2022 mà Công ty T ( Việt Nam ) và ông Lê Văn N đã ký;
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7,và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
[2] Về án phí:
[2.1] Án phí dân sự sơ thẩm ông Lê Văn N phải chịu 3.319.352 đồng, nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
[2.2] H1 lại cho Công ty T ( Việt Nam ) số tiền 1.209.430 đồng mà Công ty T ( Việt Nam ) đã tạm nộp án phí theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000432 ngày 10 tháng 01 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự Thành phố Thủ Đức.
[3] Về quyền kháng cáo:
Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Toà tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được tống đạt hoặc ngày niêm yết bản án tại Ủy ban nhân dân phường.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Lũy |
Bản án số 4495/2024/DS-ST ngày 20/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 4495/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
