TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 4492/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 20/9/2024
V/v: “Ly hôn”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Hiếu
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Thái Tuấn Anh
2. Ông Vũ Song Hào
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Thu Phượng – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng – Kiểm sát viên.
Trong ngày 20 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 855/2024/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 4 năm 2024 về việc: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 5916/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 26/7/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 6900/QÐST-HNGĐ ngày 20/8/2024, giữa các đương sự:
-Nguyên đơn: Bà Đỗ Linh A, sinh năm: 1992; (Có đơn đề nghị vắng mặt);
Số căn cước công dân số [...]; cấp ngày 30/6/2022;
Địa chỉ thường trú: Tổ D, H, phường Ô, quận Đ, Hà Nội;
Địa chỉ tạm trú: B, V, phường V, quận L, Hà Nội;
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Đỗ Linh A: Luật sư Nguyễn Thị Mỹ V – Công ty L, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H; (Có đơn đề nghị vắng mặt);
- Bị đơn: Ông Nguyễn Hải T, sinh năm: 1988; (Vắng mặt);
Địa chỉ thường trú: 164 L, tổ B, phường H, quận H, Thành phố Đà Nẵng;
Địa chỉ cư trú hiện nay: C.0909 Chung cư T, 20 đường N, khu phố B, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 04/4/2024, quá trình giải quyết vụ án và tại bản tự khai đề ngày 27/4/2024, nguyên đơn – Bà Đỗ Linh A trình bày:
Bà Đỗ Linh A và ông Nguyễn Hải T xác lập quan hệ hôn nhân vào năm 2013 theo Giấy chứng nhận kết hôn số 35/2023 do Ủy ban nhân dân phường Ô, quận Đ, Thành phố Hà Nội cấp ngày 21/3/2023.
Thời gian đầu bà và ông T chung sống với nhau tương đối hạnh phúc. Tuy nhiên sau đó vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, không thể giải quyết được. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, không thể hòa hợp trong đời sống vợ chồng. Ông T không quan tâm đến bà và thường xuyên mất liên lạc với gia đình khi đi công tác xa nhà. Hiện nay tình cảm vợ chồng không còn. Vì vậy nay bà xin ly hôn với ông Nguyễn Hải T.
Về con chung: Có một con chung: Nguyễn Nhật Trí M, sinh ngày: 15/9/2024, bà đề nghị được nuôi con, không đề nghị cấp dưỡng.
Về tài sản, nợ chung chung: Không yêu cầu tòa án giải quyết.
Ý kiến người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Đỗ Linh A: Luật sư Nguyễn Thị Mỹ V trình bày:
Bà Đỗ Linh A và ông Nguyễn Hải T đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 35/2023 ngày 21/03/2023 của Ủy ban nhân dân Phường Ô, Quận Đ, Thành phố Hà Nội. Tuy nhiên, chỉ sau 02 (hai) tháng kết hôn thì hai bên đã phát sinh mâu thuẫn do quan điểm sống không phù hợp, khác biệt về tính cách. Nhận thấy, mâu thuẫn trong cuộc sống hôn nhân giữa bà Đỗ Linh A và ông Nguyễn Hải T là không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống hôn nhân giữa hai bên không thể kéo dài thêm. Do đó, đề nghị Tòa án giải quyết cho bà Đỗ Linh A ly hôn với ông Nguyễn Hải T.
Về con chung: Bà A, ông T có một con chung: Nguyễn Nhật Trí M, sinh ngày: 15/9/2024, từ khi mang thai đến khi sinh, ông T không quan tâm, hỗ trợ về tinh thần và tài chính, do đó đề nghị chấp nhận cho bà A được nuôi con, phía bà A không yêu cầu cấp dưỡng.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn – Ông Nguyễn Hải T trình bày tại bản tự khai ngày 15/5/2024:
Ông T thống nhất với trình bày của bà A về quan hệ hôn nhân. Tuy nhiên, những mẫu thuẫn mà bà A nêu ra chỉ là những mâu thuẫn nhất thời, hiểu nhầm. Vì tính chất công việc nên ông không ở cạnh để chăm sóc bà A, nhưng ông vẫn quan tâm và lo lắng cho bà. Ông muốn vợ chồng đoàn tụ cùng chăm lo cho gia đình.
Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Nhận thấy Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự: Đã thụ lý vụ án đúng thẩm quyền; xác định đúng quan hệ tranh chấp, đúng tư cách đương sự; tiến hành thủ tục thu thập chứng cứ, kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; tống đạt văn bản tố tụng và mở phiên tòa xét xử đúng quy định pháp luật;
Về nội dung:
- - Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Linh A về việc ly hôn với ông Nguyễn Hải T.
- - Con chung: Có một con chung: Nguyễn Nhật Trí M, sinh ngày: 15/9/2024, đề nghị chấp nhận cho bà A được trực tiếp chăm sóc, giáo dục con chung, do bà A không yêu cầu cấp dưỡng nên đề nghị không xem xét;
- - Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết do đó đề nghị không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn – Đỗ Linh A khởi kiện yêu cầu được ly hôn với bị đơn – ông Nguyễn Hải T có địa chỉ cư trú hiện tại tại thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Do đó, quan hệ tranh chấp của vụ án là “Ly hôn”. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án nhân dân thành phố Thủ Đức là Toà án có thẩm quyền giải quyết vụ án.
Về sự vắng mặt của các đương sự:
- + Đối với nguyên đơn: Bà Đỗ Linh A có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- + Đối với người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Mỹ V: Bà V có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt theo quy định tại khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- + Đối với bị đơn: Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để bị đơn tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không lý do. Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt ông Nguyễn Hải T theo quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân:
Xét thấy, nguyên đơn và bị đơn tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn vào năm 2023 theo Giấy chứng nhận kết hôn số 35/2023 ngày 21/3/2023 của Ủy ban nhân dân phường Ô, quận Đ, Thành phố Hà Nội. Căn cứ khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử công nhận quan hệ hôn nhân giữa nguyên đơn và bị đơn là hôn nhân hợp pháp.
Tại bản tự khai của bà A cũng như ông T đều thể hiện, do tính chất công việc nên vợ chồng từ khi đăng ký kết hôn không thường xuyên sống cùng nhau. Do đó Tòa án không thể thu thập chứng cứ tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi bà A và ông T sinh sống. Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án, ông T không tham gia để giải quyết vụ án, không đưa ra giải pháp để xây dựng gia đình hạnh phúc. Bà A vẫn cương quyết yêu cầu được ly hôn. Đây là cơ cơ sở xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa bà A, ông T là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, là điều kiện để giải quyết cho ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Do đó, yêu cầu ly hôn của bà A đối với ông T là có cơ sở để chấp nhận.
[2.2] Về con chung: Có một con chung: Nguyễn Nhật Trí M, sinh ngày: 15/9/2024. Quá trình giải quyết vụ án, ông T không có thiện chí hòa giải đoàn tụ. Mặt khác, trẻ Trí Minh được bà A chăm sóc, và có yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, giáo dục, để đảm bảo sự phát triển tốt nhất cho trẻ, chấp nhận yêu cầu của bà A được trực tiếp chăm sóc, giáo dục con chung. Bà A không yêu cầu cấp dưỡng nên không xem xét;
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Bà A, ông T xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết do đó Tòa án không xem xét.
[3] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.
[4] Ý kiến đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật và phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ.
Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đối với quan hệ hôn nhân, con chung và tài sản chung là đúng quy định nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, Điều 266, Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 9 và các Điều 51, 56, 57, 58, 71, 72, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014, 2018;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Q;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – Bà Đỗ Linh A:
- - Về quan hệ hôn nhân: Bà Đỗ Linh A được ly hôn với ông Nguyễn Hải T. Quan hệ hôn nhân giữa bà Đỗ Linh A và ông Nguyễn Hải T theo Giấy chứng nhận kết hôn số 35/2023 ngày 21/03/2023 của Ủy ban nhân dân phường Ô, quận Đ, Thành phố Hà Nội chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
- - Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Nhật Trí M, sinh ngày: 15/9/2024 cho bà Đỗ Linh A trực tiếp chăm sóc, giáo dục. Do bà Đỗ Linh A không yêu cầu cấp dưỡng nên không xem xét trong vụ án này.
Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi; có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ nêu trên; yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo qui định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.
Quyền, nghĩa vụ của bà Đỗ Linh A và ông Nguyễn Hải T trong việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn được thực hiện theo quy định tại các Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 và Điều 110 của Luật hôn nhân và Gia đình năm 2014.
- - Về tài sản chung, nợ chung: Bà A, ông T không yêu cầu giải quyết do đó Tòa án không xem xét.
2. Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm:
Nguyên đơn – Bà Đỗ Linh A phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng nhưng được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm mà bà A đã nộp là 300.000đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2023/0026236 ngày 11/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức. Bà A đã nộp đủ án phí.
3. Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được hoặc được niêm yết bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Ngọc Hiếu |
Bản án số 4492/2024/HNGĐ-ST ngày 20/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn
- Số bản án: 4492/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà A yêu cầu ly hôn ông T
