Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 449/2024/HS-ST

Ngày: 27-8-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Hòa.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Phan Anh Dũng;
  2. Bà Huỳnh Thị Kim Kiên.

- Thư ký phiên tòa: Ông Tôn Hoài Anh Tuyển – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy Duyên – Kiểm sát viên.

Trong ngày 27 tháng 8 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 469/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 8 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 460/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 8 năm 2024 đối với:

Bị cáo: Lê Huỳnh Chí T, Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1997, tại: Đồng Nai; Nơi cư trú: 5, khu phố D, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 12/12; Họ tên cha: Lê Hữu T1, sinh năm 1968 (còn sống); Họ tên mẹ: Huỳnh Thị Thanh V, sinh năm 1966 (còn sống); Bị cáo là con thứ nhất trong gia đình có 02 (hai) anh em và chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt)

- Bị hại: Bà Nguyễn Thị T2 (đã chết).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • Ông Huỳnh Ngọc T3, sinh năm 1978;
  • Ông Huỳnh Nguyễn Trí C, sinh năm 1982;

Cùng địa chỉ: A, khu phố G, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. (có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1. Nội dung chính của vụ án:

Lê Huỳnh Chí T, sinh năm 1997, HKTT: 5/4, khu phố D, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, là tài xế lái xe cho Công ty TNHH T4, có giấy phép lái xe hạng B2 do Sở Giao thông vận tải tỉnh Đ cấp có thời hạn sử dụng đến ngày 19/11/2030.

Khoảng 11 giờ 04 phút ngày 08/6/2023, Lê Huỳnh Chí T điều khiển xe ô tô tải biển số: 60H-019.07 của Công ty TNHH T4 lưu thông trên đường L hướng từ cầu A đi ngã tư Vũng Tàu, đến đoạn đường mở của dải phân cách thuộc khu phố I, phường A, thành phố B, do T chạy nhanh không giảm tốc độ, thiếu chú ý quan sát phía trước dẫn đến phần đầu bên trái xe ô tô biển số 60H-019.07 đã va chạm với đuôi xe mô tô biển số 60B2-031.37 do bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1959, HKTT: 15E/155, tổ B, khu phố G, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai điều khiển lưu thông phía trước xe ô tô và đang chuyển hướng từ phải qua trái để đi qua đoạn mở của dải phân cách làm bà T2 ngã xuống đường bị thương nặng, sau đó tử vong.

* Tại Kết quả khám nghiệm hiện trường tai nạn giao thông ngày 08/6/2023 của Công an thành phố B, đã xác định: Đoạn đường L hơi cong nhẹ về bên trái theo hướng đi từ cầu A về ngã tư Vũng Tàu, trải nhựa bằng phẳng có dải phân cách bé ở giữa chia làm 02 chiều lưu thông, chiều đi từ cầu A về ngã tư Vũng Tàu có 03 làn xe, chiều rộng từng làn tính từ bên phải lần lượt là: 3m6, 4m25 và 3m75. Hiện trường là đoạn mở dải phân cách, có vạch kẻ đường dành cho người đi bộ qua đường.

  • Xe mô tô biển số 60B2-031.37 ngã nghiêng bên phải trên đường, đầu xe quay hướng về ngã tư Vũng Tàu, đuôi xe quay hướng về cầu A.
  • Xe ô tô tải biển số 60H-019.07, dừng trên đường sau tai nạn, đầu xe quay hướng ra ngã tư Vũng Tàu, đuôi xe quay hướng cầu An Hảo.
  • Vết máu nạn nhân để lại trên mặt đường, tiết diện 15cm x18cm, tâm vết máu cách mép đường chuẩn là: 0m85 và cách tâm trục bánh trước xe mô tô biển số: 60B2-031.37 là 2cm25
  • Vết cày bung tróc nhựa đất trên đường của xe mô tô biển số 60B2-031.37 chiều hướng từ cầu A ra ngã tư Vũng Tàu, chiều dài tính từ đầu vết đến gác chân xe mô tô biển số 60B2-031.37 là 12m45, đầu vết cách mép đường chuẩn là 1m65.
  • Vết phanh bánh xe phía sau bên phải của xe ô tô tải biển số 60H-019.07 liên tục trên đường, chiều dài tính từ đầu vết đến bánh xe phía sau bên phải của xe ô tô tải biển số: 60H-019.07 là 16m35, đầu vết phanh cách mép đường chuẩn là 2m65, chiều rộng vết phanh là 0m35, là dạng phanh đôi.

* Tại Bản kết luận giám định số 1233/KL-KTHS ngày 04/7/2023 của Phòng K Công an tỉnh Đ, kết luận:

  • Phía trước bên trái xe ô tô biển số 60H-019.07 (dấu vết trượt xước, nứt vỡ tại các chi tiết phía trước bên trái: cản trước, biển số mất sơn màu vàng-đen, ca lăng) có cùng chiều từ trước ra sau; phù hợp va chạm với phía sau xe mô tô biển số 60B2-031.37 (dấu vết trượt xước, nứt vỡ, biến dạng, tại các chi tiết phía sau: vè chắn bùn nứt gãy và cong vào khe bánh sau, biển số gãy rời và dính chất màu vàng, ốp cụm đèn tín hiệu và ốp đuôi xe bên trái dính chất màu đen) có cùng chiều từ trái qua phải, sau ra trước.
  • Dấu vết trượt xước, mài mòn tại các chi tiết bên phải: đầu tay cầm lái, yếm chắn gió, bệ gác chân trước và khung gác chân sau, ốp trung tâm cùng ốp ống xả của xe mô tô biển số 60B2-031.37 có cùng chiều từ phải qua trái; phù hợp va chạm mặt đường.

* Tại Bản kết luận giám định số 2654/KL-KTHS ngày 15/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh Đ, kết luận: Tốc độ của xe ô tô biển số 60H-019.07 ngay tại thời điểm bắt đầu để lại vết phanh (điểm đầu dấu vết phanh) ở hiện trường trong khoảng từ 53.92 (km/h) đến 57,64 (km/h).

* Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 234/TT/2022 ngày 17/7/2023 của Trung tâm P, kết luận: Chấn thương sọ não gây vỡ trần hốc mắt phải, nứt sọ chẩm làn đến ống sống, tụ máu dưới màng cứng bán cầu não phải và đáy sọ phải, chảy máu màng mềm lan tỏa hai bán cầu đại não và tiểu não. Dập não trán hai bên, dập cầu não và dập xuất huyết trong chất trắng đại não, chảy máu trong não thất III; không tìm thấy E và methanol trong máu.

- Phương tiện tạm giữ:

  • Xe ô tô biển số 60H-019.07, số máy D4AF5239494; số khung RLPFGA17FP5T00011. Đây là tài sản của Công ty TNHH T4. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả cho đại diện Công ty TNHH T4.
  • Xe mô tô biển số 60B2-031.37, số máy 23B3053494, số khung RLCM23B30BY053493. Đây là tài sản của bà Nguyễn Thị Trà . Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả cho anh Huỳnh Ngọc T3 là con trai bà T2 - đại diện gia đình.

Trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị cáo Lê Huỳnh Chí T và Công ty TNHH T4 đã bồi thường cho gia đình của bà Nguyễn Thị T2 tổng số tiền 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng), đại diện gia đình của bà Nguyễn Thị T2 đã làm đơn xin bãi nại và không yêu cầu bồi thường gì thêm.

2. Truy tố:

Tại Cáo trạng số: 460/CT-VKSBH-HS ngày 05/8/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai đã truy tố bị cáo Lê Huỳnh Chí T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị;

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):

  • Xử phạt bị cáo Lê Huỳnh Chí T từ 12 tháng đến 18 tháng tù giam nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định.
  • Buộc bị cáo chịu án phí theo quy định.

Bị cáo T có mặt không có ý kiến tranh luận đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

3. Lời nói sau cùng: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã mô tả, nhận thức được hành vi sai trái của mình và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tố tụng:

Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Huỳnh Ngọc T3 và ông Huỳnh Nguyễn Trí C có đơn xin xét xử vắng mặt, lời khai của họ đã đầy đủ và có trong hồ sơ vụ án. Việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử nên Tòa án xét xử vắng mặt họ theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Về hành vi bị truy tố, tội danh và các tình tiết liên quan đến việc quyết định hình phạt:

- Những chứng cứ xác định có tội: Tại phiên tòa cũng như quá trình điều tra bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp lời khai trong biên bản hỏi cung bị can, biên bản lấy lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, lời khai của người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 11 giờ 04 phút ngày 08/6/2023, Lê Huỳnh Chí T có bằng lái xe hạng B2, điều khiển xe ô tô tải biển số 60H-019.07 lưu thông trên đường L hướng từ cầu A đi ngã tư Vũng Tàu, đến đoạn đường mở của dải phân cách thuộc khu phố I, phường A, thành phố B, do T chạy nhanh không giảm tốc độ, thiếu chú ý quan sát phía trước dẫn đến va chạm với đuôi xe mô tô biển số 60B2-031.37 do bà Nguyễn Thị T2 điều khiển lưu thông phía trước xe ôtô và đang chuyển hướng từ phải qua trái để đi qua đoạn mở của dải phân cách dẫn đến bà T2 tử vong.

- Về tội danh: Từ căn cứ trên, xác định bị cáo Lê Huỳnh Chí T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Như vậy, bản cáo trạng số 460/CT-VKSBH-HS ngày 05/8/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai và kết luận của Kiểm sát viên đề nghị truy tố bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điều khoản tương ứng nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

- Xét tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội và lỗi: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến an toàn công cộng về giao thông đường bộ, làm thiệt hại đến tính mạng của người khác, gây đau thương mất mát không gì bù đắp nổi cho gia đình nạn nhân, ảnh hưởng xấu đến trật tự, trị an xã hội. Bị cáo điều khiển xe chạy nhanh không giảm tốc độ, thiếu chú ý quan sát dẫn đến tai nạn giao thông làm bà T2 tử vong. Mặc dù đây là lỗi vô ý nhưng lỗi dẫn đến tai nạn đáng tiếc này hoàn toàn thuộc về bị cáo.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Người phạm tội đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả và được đại diện gia đình bị hại làm đơn bãi nại. Bị cáo có thân nhân tốt (chưa tiền án, tiền sự). Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Vì vậy cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Từ những nhận định trên, xét về tính chất, mức độ nguy hiểm, vai trò của hành vi phạm tội gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, chấp hành tốt chính sách, pháp luật tại địa phương; có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; bị cáo có khả năng tự cải tạo và việc không bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội nên việc cách ly bị cáo ra ngoài xã hội là không cần thiết.

Xét bị cáo Lê Huỳnh Chí T có đủ điều kiện được hưởng án treo theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) về án treo nên cho bị cáo hưởng án treo là phù hợp với quy định pháp luật.

[3] Về vật chứng:

Các tài sản dưới đây, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã xác minh thông tin và trả lại cho chủ sở hữu là phù hợp với quy định của pháp luật, gồm:

  • 01 xe ô tô biển số 60H-019.07, số máy D4AF5239494; số khung RLPFGA17FP5T00011. Đây là tài sản của Công ty TNHH T4. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả cho đại diện Công ty TNHH T4.
  • 01 xe mô tô biển số 60B2-031.37, số máy 23B3053494, số khung RLCM23B30BY053493. Đây là tài sản của bà Nguyễn Thị Trà . Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả cho anh Huỳnh Ngọc T3 là con trai bà T2 - đại diện gia đình.

[4] Trách nhiệm bồi thường thiệt hại về dân sự:

Đại diện gia đình của người bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[6] Nhận định về phần trình bày của Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa:

  • Đối với phần trình bày của Kiểm sát viên: Cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh nêu trên và đề nghị mức hình phạt phù hợp nên được chấp nhận.
  • Đối với phần trình bày của bị cáo tại phiên tòa được Hội đồng xét xử xem xét khi nghị án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao:

  • Tuyên bố bị cáo Lê Huỳnh Chí T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Xử phạt bị cáo Lê Huỳnh Chí T 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo Lê Huỳnh Chí T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

3. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;

Bị cáo Lê Huỳnh Chí T được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND thành phố Biên Hòa;
  • - Chi cục THADS thành phố Biên Hòa;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự TP.Biên Hòa
  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - Sở tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - Bị cáo;
  • - Các đương sự khác;
  • - Ủy ban nhân dân phường An Bình, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai;
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Thị Hòa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 449/2024/HS-ST ngày 27/08/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (vụ án hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 449/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Vụ án hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger