|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI -------- |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc -------- |
Bản án số:449/2025/HS-PT
Ngày: 23/5/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Chử Phương Ngọc.
Thẩm phán: Bà Đặng Thị Thanh Huyền.
Bà Tô Thanh Tú.
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Phương Minh - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà - Kiểm sát viên trung cấp.
Trong ngày 23/5/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 245/2025/TLPT-HS ngày 05/3/2025 do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 156/2024/HSST ngày 30/12/2024 của TAND huyện Ba Vì, Thành phố Hà Nội.
Bị cáo kháng cáo:
Họ và tên: Trần Trung D, sinh năm 1995, tại Hà Nội;
ĐKHKTT và nơi ở: Thôn E, xã Bại, huyện B, Thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Con ông Trần Đình T và bà Đào Thị B; V là Lê Diễm Q, có 02 con, lớn sinh năm 2021, nhỏ sinh năm 2023; Tiền án, nhân thân: Không; Tiền sự: Tại Quyết định số 57/QĐXPHC ngày 25/4/2023, Công an huyện B xử phạt 8.000.000đồng về hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (nộp phạt ngày 20/8/2024); Bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/7/2024 đến ngày 10/8/2024; Hiện áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.
Có mặt.
- Ngoài ra còn có các bị cáo khác, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo, Tòa án không triệu tập đến phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có quan hệ bạn bè nên vào cuối năm 2021 và đầu năm 2022 Phùng Thế Q1 đã cho anh Nguyễn Quang T1 vay 120.000.000đồng không có lãi, số tiền mà Q1 cho T1 vay là số tiền Q1 đã vay của Trần Trung D. Do nhiều lần T1 hứa trả tiền nhưng không trả, nên vào khoảng cuối năm 2022 Q1 trực tiếp đến nhà T1, gặp mẹ T1 là bà Lương Thị P để nói chuyện về việc T1 vay tiền của Q1 nhưng không trả, bà P không trả tiền và nói với Q1: "Không biết việc Q1 nợ tiền và ai nợ người ý trả". Sau đó, Q1 có nhờ bố mẹ đẻ là ông T2 và bà T6 đến gặp bà P nói chuyện nhưng bà P cũng không trả tiền. Từ cuối năm 2022 T1 bỏ đi khỏi địa phương, không trả tiền cho Q1.
Khoảng 19 giờ ngày 18/5/2024, Q1 đến uống rượu tại nhà D, D bảo Q1 thu xếp trả cho D số tiền 120.000.000đồng đã vay, Q1 kể lại cho D việc đã cho T1 vay số tiền 120.000.000đồng của D, Q1 đã nhiều lần đến nhà đòi tiền T1, nhưng T1 đã bỏ nhà đi và không trả tiền cho Q1. Thấy vậy, D bảo với Q1:“ Để hôm nào mày chở tao ra nhà thằng T1 để bảo mẹ nó trả tiền cho mày để mày gửi cho tao”, Q1 đồng ý.
Ngày 20/5/2024, D và Trần Hồng P1 cùng đến nhà Q1 uống rượu. Tại đây, bố mẹ Q1 tiếp tục nói chuyện với D việc T1 chưa trả tiền cho Q1, D nói với bố mẹ Q1 để D sắp xếp việc sẽ cùng với Q1 sang nhà T1 nói chuyện để mẹ T1 phải trả tiền thay cho T1.
Khoảng 08 giờ ngày 22/5/2024, D gọi điện bảo Q1 chở D, P1 và Nguyễn Tuấn A đến nói chuyện với mẹ T1 để đòi số tiền T1 nợ Q1. Q1 đồng ý và điều khiển xe ô tô nhãn hiệu KIA CERATO màu trắng, BKS: 30F-783.67 của gia đình chở D, Tuấn A và P1 đến nhà bà P. Khi đến nơi, D, Tuấn A và P1 xuống xe đứng ở cổng, D thấy bà P đang ở trong nhà nên gọi vọng vào: “Cô ơi cho cháu nhờ tý, cháu D ở trong Ba Trại, cô mở cửa cho cháu trình bày với cô tý, em T1 có qua Q1 cầm của cháu ít tiền, mấy năm nay không có ý kiến gì để trả tiền cho cháu”. Bà P liền đi ra ngoài sân đứng cách cổng 1,5m và chửi bới những nội dung: “Đ.m con nhà Tuân V1 nó cho con cô vay tiền mà không hỏi ý kiến”, thì D nói: “Chúng cháu đến đây hỏi cô có liên hệ được với T1 không chưa gì cô xúc phạm”, bà P nói lại: “Nó vay tiền thì chúng mày đi đòi nó tao không biết chúng mày là ai hết” rồi đi vào nhà, D và cả nhóm ra về.
Đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, D điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Airblade BKS: 29V1-195.66 của P1 chở P1 đi chơi ngang qua cửa hàng bán hoa “Hương Ngân” ở thôn E, xã B do chị Đàm Thị T3 làm chủ, thấy cửa hàng bán vòng hoa tang, D nảy sinh ý định sẽ đặt vòng hoa tang trước cổng nhà bà P, nhằm mục đích để gây áp lực lên gia đình bà P phải trả nợ thay cho T1. D liền vào đặt mua của chị T3 01 vòng hoa tang với giá 120.000đ, hẹn tối quay lại lấy. Khoảng 20 giờ cùng ngày, D gọi điện thoại và nói với Q1 “Mày vào anh uống bia, xong để chở vòng hoa ra đặt ở cổng nhà thằng T1”. Q1 đồng ý và một mình điều khiển xe ô tô BKS 30F- 783.67 đến nhà D. Khi gặp nhau, D bảo Q1 điều khiển xe ô tô chở D đến cửa hàng bán hoa nhà chị T3 lấy vòng hoa tang đã mua trước đó, rồi cả hai đi về nhà D ngồi uống bia. Một lúc sau, P1 đi xe máy Honda Airblade BKS: 29V1-195.66 đến ngồi uống bia cùng Q1 và D. Đến khoảng 22 giờ, D bảo Q1 chở vòng hoa tang đến đặt cổng nhà T1, D và P1 đi xe máy theo sau, Q1 và P1 đồng ý. Q1 điều khiển xe ô tô chở vòng hoa đi trước, còn P1 và D đi xe máy theo sau. Khi cách nhà T1 khoảng 300m, Q1 dừng xe, D lấy vòng hoa tang để lên xe máy của P1 đi đến trước cổng nhà T1, D mang vòng hoa tang đặt ở tường bao sát trụ cổng bên phải (hướng nhìn trực diện) nhà T1. Đến 6 giờ sáng ngày 23/5/2024, ông Ngô Xuân L đi tập thể dục qua thấy vòng hoa tang đặt ở cổng nên đã gọi báo bà P, ông L và bà P mang vòng hoa tang ra lề đường đốt bỏ.
Đến khoảng 12 giờ trưa ngày 23/5/2024, Q1 điều khiển xe ô tô BKS: 30F- 783.67 chở D đến quán bia “Công Hoan” do anh Dương Văn A1 làm chủ để uống bia. Sau đó, lần lượt có Trần Hồng P1 và Nguyễn Hữu H đến uống bia cùng. Đến khoảng 14 giờ chiều cùng ngày, D nảy sinh ý định mua xăng cho vào vỏ chai bia để mang đến nhà T1 hỏi nợ, D nói ý định và bảo P1 đi ra mua xăng của chủ quán bia “Công Hoan” cho vào 02 vỏ chai bia, P1 đồng ý. P1 đi ra ngoài cửa quán lấy 02 vỏ chai bia Hà Nội 300ml, P1 bảo anh A1 đổ đầy xăng vào 02 vỏ chai bia rồi mang để gần vị trí bàn uống bia của cả nhóm, D bảo P1 lấy giấy ăn nhét vào miệng vỏ chai để xăng không bị đổ. Một lúc sau, D rủ P1, H và Q1 lái xe chở tất cả ra nhà T1 để đòi nợ 120.000.000đ, tất cả đồng ý. Cả nhóm lên ô tô của Q1, D cầm lái, H cầm theo 02 vỏ chai bia đựng xăng cho cốp xe. Khi cách nhà T1 khoảng hơn 100m thì D dừng xe, trực tiếp lấy 01 chai xăng rồi đi bộ một mình vào nhà T1 còn Q1, P1, H ngồi đợi trên xe. Khi đến nơi, D thấy bà P và chị Nguyễn Thị M đang ở nhà, D gọi vọng vào: “Cô ơi, cháu trạo đội với cô tý việc”, bà P thấy D liền chửi: “Đ.m chúng mày, đ.m Tuân Vọng chúng mày cút ra khỏi nhà tao”, đồng thời bà P hỏi D ở đâu, D nói: “Cháu ở B, thằng Q1 thuê cháu đến đây” bà P tiếp tục chửi bới và đuổi D. Do bực tức nên D cầm chai bia đựng xăng đốt giấy ăn ở đầu chai bia rồi ném về phía cửa cổng bên phải nhà T1 khiến vỏ chai bia bị vỡ vụn, xăng bên trong chai bia bốc cháy. D quay lại xe ô tô, Q1 điều khiển xe chở D, H và P1 bỏ chạy về xã B. Bà P và chị M chạy bộ đuổi theo D, nhưng không đuổi kịp. Khi đi đến khu vực vườn nhà anh Nguyễn Văn T4, D bảo Q1 dừng xe, D lấy vỏ chai bia đựng xăng còn lại ném qua tường bao vào vườn nhà anh T4.
Tại cơ quan CSĐT, Trần Trung D, Phùng Thế Q1, Trần Hồng P1 và Nguyễn Hữu H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Tại bản Kết luận giám định số: 6668/KL-KTHS ngày 20/9/2024, Của Phòng K - Công an thành phố H, kết luận:
- “ - Không tìm thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong các file video (ký hiệu Al, A2 và A) gửi giám định.
- - Đã dịch nội dung âm thanh các file video (ký hiệu Al, A) gửi giám định thành văn bản (chi tiết trong Bản dịch nội dung âm thanh trong file video thành văn bản kèm theo).
- - F (ký hiệu A2) gửi giám định không có âm thanh nên không tiến hành dịch nội dung âm thanh trong file video thành văn bản.
- - Đã trích xuất hình ảnh đối tượng trong file video (ký hiệu A2) gửi giám định tại các thời điểm: 15:49:47; 15:50:50 và 15:50:59 (thời gian được tính theo thời gian hiển thị trên màn hình của file video, chi tiết trong Phụ lục kèm theo).
- Thời điểm: 16:09:49 (thời gian được tính theo thời gian hiển thị trên màn hình của file video) không có trong file video nên không tiến hành trích xuất hình ảnh.
- - Không xác định được file video (ký hiệu A3) gửi giám định có bị cắt ghép, chỉnh sửa nội dung không. Do file video không liên tục tại thời điểm 10:16:45 (thời gian được tính theo thời gian hiển thị trên màn hình của file video). Không xác định được nguyên nhân. Không thực hiện các yêu cầu giám định tiếp theo.”
Vật chứng thu giữ:
- - Quá trình khám nghiệm hiện trường, bà Lương Thị P giao nộp nhiều mảnh vỡ thủy tinh có ám khói từ mảnh chai bia.
- - Phùng Thế Q1 giao nộp: 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 6S; 01 điện thoại Iphone XS max màu vàng gold; 01 xe ôtô nhãn hiệu KIA, kiểu dáng Cerato, màu trắng, BKS: 30F-783.67.
- - Nguyễn Hữu H giao nộp: 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 14 Promax màu vàng gold.
- - Trần Trung D giao nộp: 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 7 Plus, màu đen.
- - Anh Nguyễn Quang T5 giao nộp: 02 đoạn video được ghi nhận lại từ hệ thống camera an ninh của gia đình bà Lương Thị P gần vị trí xảy ra vụ án.
- - Chị Đinh Thị C giao nộp: 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, kiểu dáng Airblade, màu đen có BKS: 29V1-195.66 là xe máy P1 sử dụng để chở D mang theo vòng hoa tang đặt tại cổng nhà bà P ngày 22/5/2024.
- - Cơ quan CSĐT đã tiến hành dẫn giải Trần Trung D xác định vị trí vứt bỏ chai bia Hà Nội, chiếc máy lửa ga. Tuy nhiên, không phát hiện, thu giữ được vật chứng của vụ án.
Đối với xe ôtô nhãn hiệu KIA, kiểu dáng Cerato, màu trắng, BKS: 30F-783.67: Xác định là tài sản hợp pháp của bà Nguyễn Thị T6 mua làm phương tiện đi lại cho gia đình. Ngày 22 và 23/5/2024, Phùng Thế Q1 đã tự ý sử dụng chiếc xe ôtô vào việc phạm tội, bà T6 không biết. Kết quả tra cứu xe ôtô trên không có trong cơ sở dữ liệu ô tô vật chứng. Ngày 10/9/2024, Cơ quan điều tra trả lại xe ô tô trên cho bà T6.
Đối với xe máy nhãn hiệu Honda, kiểu dáng Airblade, màu đen, có BKS: 29V1-195.66: Quá trình điều tra, xác định xe đăng ký chính chủ mang tên Đặng Như G. Anh G khai tháng 9/2013 mua xe máy trên ở khu vực chợ X thuộc phường D, quận C với giá 38.000.000đ, sau đó làm thủ tục sang tên, đăng ký chủ sở hữu. Đến tháng 06/2021, do không có nhu cầu sử dụng, anh G bán lại xe trên cho anh Trần Văn B1 với giá 16.000.000đ. Tiến hành triệu tập, gia đình cung cấp hiện tại anh B1 đang đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc, nên chưa ghi được lời khai của anh B1. Kết quả tra cứu xe máy không có trong hệ thống cơ sở dữ liệu vật chứng.
Về dân sự:Bà Lương Thị P yêu cầu Trần Trung D, Phùng Thế Q1, Trần Hồng P1 và Nguyễn Hữu H phải bồi thường danh dự và uy tín cho gia đình bà 100.000.000đ.
Tại bản Cáo trạng số: 123/CT-VKSBV ngày 29/10/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Vì, Thành phố Hà Nội truy tố các bị cáo Trần Trung D, Phùng Thế Q1, Trần Hồng P1 và Nguyễn Hữu H về tội Gây rối trật tự công cộng theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 156/2024/HSST ngày 30/12/2024 của TAND huyện Ba Vì, Thành phố Hà Nội đã quyết định: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm b khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Trần Trung D 48 (bốn mươi tám) tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/7/2024 đến ngày 08/10/2024.
Ngoài ra, bản án còn quyết định hình phạt đối với các bị cáo khác, dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 06/01/2025, bị cáo Trần Trung D kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo.
Tại phiên tòa, bị cáo xin rút yêu cầu kháng cáo xin hưởng án treo. Bị cáo trình bày đã khắc phục xong toàn bộ hậu quả, bị cáo là đoàn viên đã cùng Đoàn T7 tham gia công tác thiện nguyện năm 2024, bị cáo rất ân hận về hành vi của mình và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo sớm được trở về gia đình và xã hội.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội sau khi phân tích nội dung, tính chất vụ án, các tình tiết giảm nhẹ, đề nghị HĐXX áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 – BLTTHS chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Về áp dụng pháp luật: Bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nhưng Tòa án huyện B áp dụng điểm b khoản 1 Điều 51 – BLHS là không đúng nên sửa lại. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Trần Trung D từ 36 tháng đến 42 tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng. Đối với các bị cáo khác hình phạt đã phù hợp nên không xem xét. Các quyết định khác không có kháng cáo kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
Đơn kháng cáo của bị cáo đã tuân thủ đúng theo quy định về chủ thể, thủ tục và thời hạn kháng cáo tại Điều 331, Điều 332, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự nên được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về nội dung:
Xuất phát từ việc Nguyễn Quang T1 là con bà Lương Thị P vay Phùng Thế Q1 số tiền 120 triệu đồng không trả, số tiền này Q1 vay của Trần Trung D. Khi D yêu cầu Q1 trả lại số tiền trên, Q1 nói việc T1 không trả tiền cho Q1 nên Q1 không có để trả cho D, D rủ Q1 đến nhà bà P nói chuyện bà P trả thay tiền cho T1, Q1 đồng ý. Khoảng 8 giờ ngày 22/5/2024, D, Q1, P1 và Tuấn A đến nhà bà P, tại đây bà P không đồng ý trả tiền thay cho T1 và có chửi mắng cả nhóm. Bực tức về việc bị bà P chửi mắng, khoảng 22 giờ ngày 22/10/2024, D mua một vòng hoa tang và cùng Q1, H mang để tại trước cổng nhà bà P. Khoảng 12 giờ ngày 23/5/2024, D, Q1, P1 và H mang 02 chai bia Hà Nội loại 300ml đựng xăng đến cổng nhà bà P. Tại đây, sau khi bị bà P chửi đuổi, D đã đốt cháy 01 chai xăng rồi ném về phía cổng nhà bà P làm vỏ chai bị vỡ, xăng bốc cháy. Do vậy, Tòa án huyện Ba Vì xử phạt các bị cáo về tội Gây rối trật tự công cộng theo điểm b khoản 2 Điều 328 – BLHS là có căn cứ và đúng pháp luật.
Đối với bị cáo D, Tòa án huyện B căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ, nhân thân, vai trò áp dụng hình phạt tù là có căn cứ.
Tại phiên tòa bị cáo rút yêu cầu kháng cáo về việc xin hưởng án treo, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo: Xét bị cáo tiếp tục xuất trình tài liệu thể hiện đã bồi thường xong về dân sự cho bà P, đã từng tham gia công tác thiện nguyện, có các con còn nhỏ, nguyên nhân dẫn đến hành vi của bị cáo có một phần xuất phát từ xử sự của bà P không chuẩn mực, nên HĐXX xem xét áp dụng khoản 2 Điều 51 – BLHS cho bị cáo hưởng khoan hồng, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo yên tâm cải tạo sớm trở về gia đình và xã hội. Về áp dụng pháp luật: Tòa án Ba Vì xác định bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nhưng áp dụng điểm b khoản 1 Điều 51 – BLHS cho bị cáo là không đúng nên cần phải sửa lại.
Tại phiên tòa bị cáo xuất trình Biên lai thu tiền số 0014416 ngày 25/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Vì, thể hiện đã nộp xong 5.850.000đồng để bồi thường cho bà P, 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm, 290.250đồng án phí dân sự sơ thẩm theo, do vậy HĐXX xác định cho bị cáo đã bồi thường xong về dân sự và nộp xong án phí sơ thẩm. Bà P được nhận số tiền 5.850.000đồng.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật theo quy định của pháp luật.
[3] Về án phí: Do yêu cầu kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bị cáo Trần Trung D, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 156/2024/HSST ngày 30/12/2024 của TAND huyện Ba Vì, Thành phố Hà Nội.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 328, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Trần Trung D 39 (ba mươi chín) tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng. Thời hạn tù tính từ bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/7/2024 đến ngày 08/10/2024.
- Về dân sự: Xác nhận bị cáo Trần Trung D đã bồi thường xong cho bà Lương Thị P số tiền 5.850.000đồng (năm triệu tám trăm năm mươi ngàn đồng), bà P được nhận số tiền này do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Vì chi trả theo Biên lai thu tiền số 0014416 ngày 25/4/2025.
- Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
- - Bị cáo không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
- - Xác nhận bị cáo đã nộp xong 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm, 290.250đồng án phí dân sự sơ thẩm theo Biên lai thu tiền số 0014416 ngày 25/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Vì.
- Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật ngay kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Chử Phương Ngọc |
Bản án số 449/2025/HS-PT ngày 23/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự phúc thẩm (tội gây rối trật tự công cộng)
- Số bản án: 449/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Tội Gây rối trật tự công cộng)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 23/05/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Gây rối trật tự công cộng
