Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 449/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 30-09-2024

V/v tranh chấp HNGĐ

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Hải

Các hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Mão, ông Võ Duy Bảo

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Hương Ly, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An: Bà Trần Thị Tâm- Kiểm sát viên

Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử công khai vụ án thụ lý số 355/2024/TLST- HNGĐ ngày 26 tháng 7 năm 2024 về Tranh chấp Hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 434/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 30 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Lê Thị N, sinh năm 1995; địa chỉ trước xuất cảnh: Xóm Q, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An; hiện đang ở Hàn Quốc. Vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
  • - Bị đơn: Anh Nguyễn Đình H, sinh năm 1994; Nơi đăng ký HKTT: Xóm Q, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An; Hiện đang ở Nhật Bản (Vắng mặt)
  • - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Đình K, sinh năm 1948, bà Hồ Thị L, sinh năm 1954; Địa chỉ cư trú: Xóm Q, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An; Vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
  • Bà Võ Thị H1, sinh năm 1971; địa chỉ cư trú: Xóm X, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai (có xác nhận của Đ tại Hàn Quốc) nguyên đơn chị Lê Thị N trình bày: Chị và anh H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 09 tháng 05 năm 2014 tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn, vợ chồng chuyển về sống cùng bố mẹ chồng. Đến năm 2020, chị N đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc, đến năm 2023 anh H đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản. Nguyên nhân mâu thuẫn do khoảng cách địa lý xa xôi, cả hai không còn tin tưởng nhau, không tìm được tiếng nói chung. Đến nay, vợ chồng không còn quan tâm lẫn nhau cả về vật chất lẫn tinh thần. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị N làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn anh Trần Đình H2.

Về con chung: Chị Lê Thị N và anh Trần Đình H2 có 1 con chung là cháu Trần Bảo T, sinh ngày 16/11/2014 được chị N chăm sóc nuôi dưỡng đến năm 2020. Hiện nay cháu T đang ở cùng ông bà nội. Ly hôn, chị N yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung không yêu cầu anh H2 cấp dưỡng. Trường hợp được chấp nhận yêu cầu nuôi dưỡng con chung, chị N đề nghị tạm giao cháu T cho bà Võ Thị H1 (mẹ đẻ của chị N) chăm sóc nuôi dưỡng trong thời gian chị ở nước ngoài.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị N chưa yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về phía bị đơn anh Trần Đình H2: Quá trình từ khi thụ lý vụ án cho đến nay, bị đơn là anh Trần Đình H2 vắng mặt. Chị N không cung cấp được địa chỉ cụ thể hiện nay của anh H2 tại Nhật Bản. Tòa án đã gửi văn bản yêu cầu ông Trần Đình K, bà Hồ Thị L (bố mẹ đẻ của anh H2) cung cấp địa chỉ, tin tức của anh H2 cũng như yêu cầu ông bà thông báo cho anh H2 biết để anh H2 có ý kiến về việc giải quyết việc ly hôn gửi Tòa án. Tại biên bản lấy lời khai ngày 01 tháng 08 năm 2024 có nội dung như sau: Ông K là bố đẻ của anh Trần Đình H2. Anh H2 và chị N kết hôn với nhau vào năm 2014 và đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện Q tỉnh Nghệ An. Hiện nay anh H2 đang sinh sống và lao động tại Nhật Bản, anh H2 vẫn thường xuyên liên lạc về với gia đình và con cái thông qua các ứng dụng mạng xã hội. Ông K không cung cấp được địa chỉ hiện nay của anh H2 cho Tòa án. Ông đã thông báo về việc chị N khởi kiện ly hôn với anh H2 cho anh H2 được biết. Đến nay Tòa án vẫn không nhận được văn bản thể hiện ý kiến của ông anh H2 về việc giải quyết vụ án.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Trần Đình K, bà Hồ Thị L trình bày: Ông K và bà L nhất trí việc ly hôn giữa anh H2 chị N. Ông bà không yêu cầu anh H2 chị N phải thanh tóan tiền nuôi dưỡng cháu T từ trước cho đến nay. Về cháu T thì ông bà có mong muốn được tiếp tục nuôi dưỡng cháu trong thời gian chị N ở nước ngoài; được quyền thăm nom cháu không được ai cản trở.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Võ Thị H1 trình bày: Hiện chị N đang lao động tại Hàn Quốc chưa có điều kiện về Việt Nam để chăm sóc nuôi dưỡng cháu T. Trong trường hợp Tòa án giao cháu T cho chị N chăm sóc nuôi dưỡng và tạm giao cháu cho bà nuôi dưỡng thì bà đồng ý.

Cháu Trần Thị T1 trình bày nguyện vọng nếu bố mẹ ly hôn thì cháu mong muốn được ở với mẹ, mẹ ở nước ngoài thì sẽ ở với ông bà nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử tuân thủ đúng các quy định của pháp luật. Việc thu thập chứng cứ đầy đủ, tống đạt các văn bản tố tụng đúng quy định, đảm bảo quyền, nghĩa vụ của đương sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận nội dung đơn khởi kiện của chị Lê Thị N, cho chị N được ly hôn với anh Trần Đình H2; Về con chung: Đề nghị giao con chung cháu Trần Bảo T, sinh ngày 16/11/2014 cho chị Lê Thị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; Về cấp dưỡng nuôi con: Chị N không yêu cầu nên không xem xét. Về tài sản chung, nợ chung: Chị N không yêu cầu nên không xem xét; giành quyền khởi kiện về chia tài sản chung, nợ chung cho các đương sự trong vụ án dân sự khác khi có yêu cầu.

- Về tài sản chung, nợ chung đương sự không yêu cầu nên không xem xét;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Thủ tục tố tụng:

[1.1] Thẩm quyền giải quyết: Bị đơn là anh Trần Đình H2 có hộ khẩu thường trú tại xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An, hiện đang làm việc và sinh sống tại Nhật Bản nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 40 và Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 122, Điều 123, Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình.

[1.2] Anh Trần Đình H2 hiện đang ở Nhật Bản, không có địa chỉ cụ thể. Ông Trần Đình K, bà Hồ Thị L là bố mẹ đẻ của anh H2 đã thông báo cho anh H2 về việc thụ lý vụ án của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An. Tòa án cũng đã niêm yết các văn bản tố tụng liên quan theo quy định pháp luật đồng thời yêu cầu ông K, bà L cung cấp địa chỉ cụ thể anh H2 ở Nhật Bản nhưng chị không cung cấp được. Tính đến ngày mở phiên tòa xét xử lần thứ hai, Tòa án không nhận được bất cứ văn bản nào của anh H2 trình bày về yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị N nên được coi như trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết và vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 1 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nguyên đơn chị Lê Thị N vắng mặt và có đơn xin xử vắng mặt, bị đơn anh Trần Đình H2 vắng mặt. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành phiên tòa vắng mặt các đương sự.

[2] Nội dung:

[2.1] Quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị N và ông Trần Đình H2 kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn, là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chuyển về sống cùng bố mẹ chồng. Đến năm 2020, chị N đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc, đến năm 2023 anh H2 đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản. Nguyên nhân mâu thuẫn do khoảng cách địa lý xa xôi, cả hai không còn tin tưởng nhau, không tìm được tiếng nói chung. Đến nay, vợ chồng không còn quan tâm lẫn nhau cả về vật chất lẫn tinh thần. Xét thấy chị N và anh H2 không còn tình cảm vợ chồng, mục đích hôn nhân không đạt được, vì vậy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị N, căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình cho chị Lê Thị N được ly hôn với anh Trần Đình H2.

[2.2] Con chung: Chị Lê Thị N và anh Trần Đình H2 có 1 con chung là cháu Trần Bảo T, sinh ngày 16/11/2014 được chị N chăm sóc nuôi dưỡng đến năm 2020. Hiện nay cháu T đang ở cùng ông bà nội. Ly hôn, chị N có nguyện vọng giao con chung cho chị trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng không yêu cầu anh H2 cấp dưỡng nuôi con là phù hợp với điều kiện thực tế về việc nuôi con và đúng quy định tại các Điều 58, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình.

Nguyện vọng của chị N là chính đáng, phù hợp với quy định của pháp luật và điều kiện thực tế, vì hiện nay, anh Trần Đình H2 đang ở nước ngoài và cố tình giấu địa chỉ, chị Lê Thị N ở nước ngoài có địa chỉ cụ thể có tài liệu có xác nhận của Đ tại Hàn Quốc gửi về Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An. Do đó, căn cứ vào các Điều 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của chị N.

[2.3] Tài sản chung, nợ chung: Chị Lê Thị N không yêu cầu Tòa án giải quyết và ông Trần Đình H2 cũng chưa có ý kiến gì nên Tòa án chưa có cơ sở để xem xét. Dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu.

[3] Án phí: Chị Lê Thị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 122, Điều 123, Điều 127 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 37; Điều 40; Điều 147; Điều 207; Điều 227; Điều 228; Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

  1. Về hôn nhân: Chị Lê Thị N được ly hôn với anh Trần Đình H2.
  2. Về con chung: Giao con chung 1 con chung là cháu Trần Bảo T, sinh ngày 16/11/2014 cho chị Lê Thị N chăm sóc, nuôi dưỡng đến lúc đủ 18 tuổi, trưởng thành

    Chấp nhận sự tự nguyện của bà Võ Thị H1 nhận trách nhiệm quản lý, chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Trần Bảo T trong thời gian chị N ở nước ngoài

    - Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Lê Thị N không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

  3. Sau khi ly hôn, anh Trần Đình H2 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
  4. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Lê Thị N, anh Trần Đình H2 không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết. Dành quyền khởi kiện liên quan đến chia tài sản chung, nợ chung cho các đương sự trong một vụ án dân sự khác khi các đương sự có yêu cầu.
  5. Về án phí: Chị Lê Thị N phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0013049 ngày 24 tháng 07 năm 2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An.
  6. Về quyền kháng cáo: Ông Trần Đình K, bà Hồ Thị L, bà Võ Thị H1 vắng mặt có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ. Anh Trần Đình H2, chị Lê Thị N vắng mặt có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Cục THADS tỉnh Nghệ An;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã C, huyện Q
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Mỹ Hải

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 449/2024/HNGĐ-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 449/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và Gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hôn nhân gia đình Lê Thị N- Nguyễn Đình H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger