TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 449/2024/DS-PT Ngày: 20/5/2024 Về việc: “Tranh chấp về chia tài sản chung, chia thừa kế tài sản và thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Quỳnh Châu
Các thẩm phán:
- Bà Nguyễn Thị Thu
- Ông Phạm Hồng Giảng
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đình Quyện – Thư ký Tòa án Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Hương – Kiểm sát viên.
Ngày 20/5/2024, tại trụ sở Tòa án Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 298/2024/TLDS-PT ngày 21 tháng 3 năm 2024, về việc “Tranh chấp về chia tài sản chung, chia thừa kế tài sản và thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại và đòi tài sản”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 201/2023/DS-ST ngày 29/9/2023 của Tòa án Nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo và kháng nghị. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1121/2024/QĐPT-DS ngày 09 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 1293/2024/QĐ-PT ngày 02/5/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
- Bà Phạm Thị Thanh T, sinh năm 1979;
- Bà Phạm Thị Thanh T1, sinh năm 1987;
Địa chỉ: Số A V, Phường H, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ liên lạc: Số I T, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ thường trú: Số A V, Phường H, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ liên lạc: Số D Tổ H Ấp T, đường T, xã T, huyện H, thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện theo ủy quyền của bà T và bà T1: Ông Nguyễn Hữu T2, sinh năm 1990; (có mặt)
Địa chỉ: B Đường số G, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ liên hệ: CH6.6C2 Chung cư T, Đường số G KDC13E, Ấp E, xã P, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị đơn: Ông Phạm Thanh S, sinh năm 1977. (vắng mặt)
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Ông Phạm Thanh L, sinh năm 1967;
- Ông Phạm Thanh S1, sinh năm 1970; (có mặt)
- Bà Phạm Thanh H, sinh năm 1972;
- Bà Phạm Thị Thanh T3, sinh năm 1984;
- Bà Nguyễn Yến N, sinh năm 1977;
- Bà Võ Hoàng Linh T4, sinh năm 1978;
- Bà Lương Thị L1, sinh năm 1983;
- Bà Châu Ngọc T5, sinh năm 1968;
- Bà Phan Thị Thanh H2, sinh năm 1958;
- Ông Nguyễn Hữu T6, sinh năm 1977;
- Bà Nguyễn Thị Tuyết P, sinh năm 1979;
- Trẻ Nguyễn Hữu T7, sinh năm 2008;
- Trẻ Huỳnh Thanh T8, sinh năm 2013;
- Trẻ Huỳnh Kiến Q, sinh năm 2015;
- Ông Nguyễn Hoàng T9, sinh năm 1974;
- Trẻ Nguyễn Hoàng H3, sinh năm 2011;
- Bà Phan Thị Đ2, sinh năm 1950;
- Ông Nguyễn M, sinh năm 1944;
- Bà Nguyễn Thị Kim T10, sinh năm 1975;
- Trẻ Phạm Huỳnh Xuân N1, sinh năm 2010;
- Trẻ Phạm Huỳnh Trúc Q1, sinh năm 2019;
Địa chỉ: Số A V, Phường H, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ: Số A V, Phường H, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ: Số B, Khu phố E, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ: Số D B, Phường G, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Tiến Đ, sinh năm 1986;
Địa chỉ: Số D Q, Phường A, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ: Số E Đường H, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Văn H1, sinh năm 1986 (có mặt)
Địa chỉ: Số B Bà K, Phường I, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ: Số C M, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện theo ủy quyền của bà T4 và bà L1: Ông Nguyễn N, sinh năm 1981;
Địa chỉ: Số E Đường H, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ: Số C N, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Lương Văn Đ1, sinh năm 1981;
Địa chỉ: Số E Đường H, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ: Số A V, Phường H, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh.
Cùng địa chỉ: Số A V, Phường H, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Do ông Nguyễn Hữu T6 là cha làm đại diện theo pháp luật)
(Do bà Nguyễn Thị Tuyết P là mẹ làm đại diện theo pháp luật)
(Do ông Nguyễn Hoàng T9 là cha làm đại diện theo pháp luật)
Cùng địa chỉ: Số A V, Phường H, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh.
Cùng địa chỉ: Số A V, Phường H, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh.
Cùng địa chỉ: Số A V, Phường H, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Trẻ Nghi và trẻ Q1 do cha là ông Phạm Thanh S và mẹ bà Nguyễn Thị Kim T10 làm đại diện theo pháp luật)
Địa chỉ: Số A V, Phường H, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người kháng cáo: Ông Phạm Thanh S và bà Nguyễn Yến N.
Kháng nghị: Viện kiểm sát Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*Theo đơn khởi kiện và các lời khai, các lần hòa giải và đối chất, nguyên đơn bà Phạm Thị Thanh T và bà Phạm Thị Thanh T1 trình bày như sau: Đối với nhà, đất tại số A V, Phường H, Quận F, TP .: Nguồn gốc là tài sản chung của cha, mẹ là ông Phạm Văn T11 và bà Phan Thị H4 theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 369/2004 do Ủy ban Nhân dân Quận F cấp ngày 09/01/2004 (Thửa số 167, Tờ bản đồ số 29 (BĐĐC) P8Q6. Đến năm 2018, bà H4 và ông T11 chết không để lại di chúc, ông bà có bảy người con là: Phạm Thanh L, Phạm Thanh S1, Phạm Thị Thanh H5, Phạm Thanh S, Phạm Thị Thanh T3, Phạm Thị Thanh T và Phạm Thị Thanh T1. Sau khi ông T11 chết nên các anh, chị, em thỏa thuận phân chia di sản thừa kế là giao tài sản trên cho ông S, bà T và bà T1 cùng sở hữu chung để lo nhang khói cho cha, mẹ, nên đã cập nhật nội dung thay đổi chủ sở hữu vào ngày 05/9/2018. Nhưng trong quá trình ở chung thì đã xảy ra nhiều mâu thuẫn giữa ông S với bà T, bà T1, do dó bà T và bà T1 khởi kiện yêu cầu tòa án phân chia tài sản chung là nhà, đất trên cho bà T, bà T1 và ông S mỗi người một phần bằng nhau theo pháp luật. Ngày 12/6/2023, bà T và bà T1 có đơn được phân chia cụ thể là bà T, bà T1 xin mua lại nhà (nhận nhà) và phân chia cho ông S phần tài sản chung là số tiền mà ông S được nhận.
- Đối với ½ nhà, đất tại số A V, Phường H, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh: Nhà, đất này do bà H4 mua bằng giấy tay của vợ chồng bà Phan Thị Đ2, ông Nguyễn M và cùng 02 người con của ông M và bà Đ2 là bà Nguyễn Yến N, ông Nguyễn Hoàng T9 với giá 10 (Mười) lượng vàng SJC vào năm 2007, đồng thời hai bên có lập giấy tay cho nhà (bà T đang giữ bản chính giấy này). Bà H4 đã thanh toán đủ số vàng và nhận ½ căn nhà số A Văn Thân nêu trên để ở cùng các con từ năm 2007. Tuy nhiên, vào năm 2008 Ủy ban Nhân dân Quận F đã cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở cho bà Nguyễn Yến N (theo Giấy chứng nhận số 5801/2008/GCN cấp ngày 01/12/2008) đối với toàn bộ nhà, đất trên. Việc Ủy ban Nhân dân Quận F cấp giấy tờ nhà, đất đối với toàn bộ nhà đất 165/16P Văn Thân cho bà Nguyễn Yến N là sai, vì bà H4 đã mua ½ căn nhà trên. Do đó, bà T và bà T1 yêu cầu Tòa án chia thừa kế theo pháp luật đối với ½ nhà, đất 165/16P Văn Thân nói trên (do cha, mẹ đã mua). Nhưng sau đó, bà T và bà T1 thay đổi yêu cầu là không phân chia thừa kế mà yêu cầu tòa án xem xét việc mua bán nhà giữa mẹ là bà H4 với gia đình của ông M và bà Đ2.
Bà T, bà T1 không đồng ý toàn bộ yêu cầu độc lập của bà N về việc cấn trừ tiền hụi vào số vàng mà bà H4 đã đưa cho bà Đ2, vì ½ (một nửa) nhà đất tại A V, Phường H, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh nêu trên là thuộc sở hữu của cha, mẹ đã mua và đã thanh toán xong 10 lượng vàng SJC cho bà Đ2.
- Về nợ hụi của ông T11: Bà T và bà T1 không biết gì về việc hụi bà Nguyễn Yến N, bà Châu Ngọc T5, bà Lương Thị L1 và bà Võ Hoàng L2 Thy nêu, nên bà T, bà T1 không đồng ý thanh toán số tiền hụi các đương sự yêu cầu.
- Trước đây nguyên đơn có yêu cầu chia thừa kế liên quan đến các di sản thừa kế của ông T11, bà H4 để lại là nhà đất số B L, Khu phố E, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Nay bà T và bà T1 xin rút yêu cầu khởi kiện bổ sung liên quan đến nhà đất 26/19/59/1 Lâm Hoành này.
*Bị đơn ông Phạm Thanh S vắng mặt, mặc dù đã triệu tập hợp lệ nên tòa án không ghi nhận được ý kiến của ông S.
*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thanh H5 vắng mặt nên tòa án không ghi nhận được ý kiến.
*Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Thanh L, Phạm Thanh S1 có cùng ý kiến với bà T và bà T1.
*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị Thanh T3 có ông Lê Tiến Đ là đại diện ủy quyền trình bày: Bà T3 cũng có ý kiến như bà T và bà T1, đồng thời bà T3 không hay biết về việc nợ hụi của ông T11.
*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Võ Hoàng Linh T4 do ông Nguyễn N đại diện trình bày: Bà Võ Hoàng Linh T4 yêu cầu các đồng thừa kế của bà Phạm Thị H6 và ông Phạm Văn T11 gồm: T, T1, S, L, S1, H5, bà Phạm Thị Thanh T3 thanh toán số tiền hụi mà ông T11 còn nợ bà Linh T4 là 42.000.000 đồng, nhưng đã trả được hai lần số tiền là 4.000.000 đồng nên còn lại 38.000.000 đồng, bà Linh T4 yêu cầu thanh toán một lần ngay khi án có hiệu lực pháp luật. Bà Linh T4 yêu cầu các đồng thừa kế thực hiện nghĩa vụ trong phạm vi di sản thừa kế của ông T11, bà H6 để lại.
*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Lương Thị L1 do ông Nguyễn N đại diện trình bày: Bà Lương Thị L1 yêu cầu các đồng thừa kế của bà Phạm Thị H6 và ông Phạm Văn T11 gồm: T, T1, S, L, S1, H5, bà Phạm Thị Thanh T3 thanh toán số tiền hụi mà ông T11 còn nợ bà L1 là 33.200.000 đồng và có trả được hai lần số tiền 4.000.000 đồng nên còn lại 29.200.000 đồng, bà L1 yêu cầu thanh toán một lần ngay khi án có hiệu lực pháp luật. Bà L1 yêu cầu các đồng thừa kế thực hiện nghĩa vụ trong phạm vi di sản thừa kế của ông T11, bà H6 để lại.
*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Châu Ngọc T5 do ông Lương Văn Đ1 đại diện trình bày: Bà Châu Ngọc T5 yêu cầu các đồng thừa kế của bà Phạm Thị H6 và ông Phạm Văn T11, gồm: T, T1, S, L, S1, H5, bà Phạm Thị Thanh T3 thanh toán số tiền hụi mà ông T11 còn nợ bà T5 là 542.200.000 đồng nay chỉ yêu cầu 542.000.000 đồng và bà T5 yêu cầu thanh toán một lần ngay khi án có hiệu lực pháp luật. Bà T5 yêu cầu các đồng thừa kế thực hiện nghĩa vụ trong phạm vi di sản thừa kế của ông T11, bà H6 để lại.
*Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Yến N do ông Nguyễn N là đại diện ủy quyền trình bày: Trước đây, không nhớ năm nào thì bà Phan Thị H4 có cho bà Phan Thị Đ2 là mẹ của bà N mượn 10 (Mười) lượng vàng 9999, để nhận cầm cố ½ nhà, đất tại A V, Phường H, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh, nhưng bà không rõ các bên có lập giấy tờ về việc cố nhà này không. Sau đó, cha, mẹ cho bà toàn bộ nhà, đất trên nên bà hợp thức hóa và đã đứng tên chủ sở hữu theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 5801/2008/GCN do Ủy ban Nhân dân Quận F cấp ngày 01/12/2008. Hiện toàn bộ nhà, đất số A V, Phường H, Quận F bà đã chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn L3 theo hợp đồng mua bán nhà ở và chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 30650, quyển số 04, lập tại Văn Phòng C ngày 26/4/2019. Nhà, đất này do ông L3 cùng vợ là Phan Thị Thanh H2 và các cháu của ông L4 đã ở, quản lý, sử dụng và chưa sang tên cho ông L3. Năm 2021, ông L3 mất thì hiện nay do bà H2 cùng các cháu của bà H2 đang ở.
Do không có việc mua bán nhà như nguyên đơn trình bày, nên bà N không đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Mặt khác, do bà có tham gia các dây hụi của ông T11 và ông T11 còn thiếu bà các dây hụi này, nên bà N yêu cầu những người thừa kế của ông Phạm Văn T11 và Phan Thị H4 thanh toán lại số tiền hụi cho bà N là 360.750.000 đồng và nay chỉ yêu cầu 360.000.000 đồng. Trường hợp, nếu những người thừa kế của ông Phạm Văn T11 và Phan Thị H4 trả số tiền hụi trên thì bà N đồng ý cấn trừ lại số tiền tương ứng 10 lượng vàng 9999 tạm tính là 500.000.000 đồng, để bà N lấy lại ½ căn nhà A V, Phường H, Quận F mà bà Phan Thị Đ2 đã cầm cố cho bà H4.
*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Phan Thị Đ2 và ông Nguyễn M trình bày: Bà Đ2 là em ruột của bà Phan Thị H4, trước đây nhà, đất số A V, Phường H, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh là của bà. Vào năm 2007, bà có mượn của bà Phan Thị H4 10 lượng vàng 9999, để đảm bảo cho việc vay mượn thì bà có cầm cố một phần căn nhà A Văn Thân cho bà H4, cụ thể là bà H4 có quyền sử dụng một phần căn nhà A V. Tuy nhiên, bà H4 không đồng ý nhận cầm cố mà đề nghị bà Đ2 lập giấy cho nhà ngày 10/4/2007, giấy này do bà Đ2 viết và có chữ ký của bà H4. Đồng thời, bà H4 đề nghị cả gia đình bà gồm có bà, chồng là ông Nguyễn M, các con là Nguyễn Hoàng T9 và Nguyễn Yến N cùng ký tên trong giấy cho nhà ngày 10/4/2007. Thời gian đầu sau khi mượn 10 lượng vàng 9999 thì gia đình bà H4 không có ai sử dụng nên hằng tháng bà có đưa tiền lãi cho bà H4, nhưng vài năm sau thì bà H4 cho con trai là ông Phạm Thanh S vào ở phần nhà mà bà cầm cố cho bà H4, nên hàng tháng bà không đưa tiền lãi cho bà H4 nữa.
Năm 2008, thì gia đình bà đã cho Nguyễn Yến N đứng tên sở hữu nhà đất tại địa chỉ A V theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất hồ sơ gốc số 5801/2008/GCN do Ủy ban Nhân dân Quận F cấp ngày 01/12/2008. Đến năm 2017, bà H4 có nói với bà Đ2 là cho bà Đ2 chuộc lại một phần căn nhà A Văn Thân và đề nghị bà đưa 400.000.000 đồng thì bà H4 sẽ trả lại nhà và bà cũng đồng ý. Nhưng do không xoay được tiền ngay, nên bà có xin ít thời gian để thu xếp tiền trả nợ, tuy nhiên bà chưa kịp trả tiền cho bà H4 thì đến năm 2018 bà H4 đã chết. Sau khi, bà H4 chết bà có nói chuyện với bà Phạm Thị Thanh T là con gái của bà H4, tuy nhiên bà T không đồng ý cho bà chuộc lại nhà A đã cầm cố.
Do đó, bà có cùng yêu cầu với Nguyễn Yến N là đề nghị được thanh toán lại các đồng thừa kế của ông T11 và bà H4 10 lượng vàng 9999 mà bà đã mượn của bà H4 để lấy lại một phần căn nhà A V, Phường H, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh mà bà đã cầm cố cho bà H4 trước đây. Đồng thời, ông M có cùng ý kiến với bà Phan Thị Đ2
*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Phan Thị Thanh H2 trình bày: Bà H2 là vợ của ông Nguyễn Văn L3. Vào năm 2019, ông L3 có nhận chuyển nhượng nhà đất tại A V, Phường H, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh từ bà Nguyễn Yến N theo Hợp đồng mua bán nhà ở và chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở số công chứng 03650 quyển số 04 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 26/4/2019, số tiền mua bán nhà này là tài sản chung của bà H2 và ông L3.
Đến ngày 08/5/2019, ông L3 nộp hồ sơ tại Văn phòng Đ3 để đăng ký chuyển quyền do nhận chuyển nhượng căn nhà trên thì được biết thông tin căn nhà A V, Phường H, Quận F đang là tài sản tranh chấp tại Tòa án Nhân dân Quận 6. Do vậy, ông L3 không đăng ký chuyển quyền được nên vợ chồng bà mới biết sự việc này, do khi mua đất thì thấy bà Nguyễn Yến N có giấy tờ chủ quyền nhà đầy đủ nên vợ chồng mới mua chứ không biết đến sự việc tranh chấp.
Đến năm 2021, ông L3 chết và hiện nay bà đang sống trong căn nhà này cùng với những người cháu gồm: Nguyễn Hữu T7, Huỳnh Thanh T8, Huỳnh Kiến Q, Nguyễn Hoàng T9 và Nguyễn Hoàng H3, do sức khỏe ngày càng kém nên hiện bà không nhớ rõ năm sinh của những người cháu này.
Hiện giờ chồng đã mất cộng thêm sức khỏe ngày càng yếu, việc mua bán trước đây của ông L3 và bà N cũng là hợp pháp nên bà đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo quy định pháp luật, vì nhà A V, Phường H, Quận F là của ông L3 mua và nhận chuyển nhượng đúng quy định.
Tòa án đã tống đạt văn bản theo đúng qui định nhưng bị đơn ông Phạm Thanh S, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Thanh L, ông Phạm Thanh S1 và bà Phạm Thanh H5 đều vắng mặt không có lý do, riêng ông Phạm Thanh L, ông Phạm Thanh S1 là có bản tự khai còn nhưng các đương sự khác là không có ý kiến phản hồi. Do đó, căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định pháp luật tố tụng dân sự.
* Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 201/2023/DS-ST ngày 29/9/2023 của Tòa án Nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
- Xác định tài sản chung của ông Phạm Thanh S, bà Phạm Thị Thanh T và bà Phạm Thị Thanh T1 là nhà, đất tọa lạc tại địa chỉ A V, Phường H, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh (Theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, có Hồ sơ gốc số 369/2004 do Ủy ban Nhân dân Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 09/01/2004, Thửa đất số 167; Tờ bản đồ số 29 (BĐĐC) P8Q6).
- Hủy Giấy cho nhà ngày 10/4/2007 ký giữa bà Phạm Thị H6 với ông Nguyễn M, bà Phan Thị Đ2, ông Nguyễn Hoàng T9 và bà Nguyễn Yến N.
- Không chấp nhận các yêu cầu độc lập của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Yến N, bà Châu Ngọc T5, bà Võ Hoàng Linh T4, bà Lương Thị L1 về thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại (nợ hụi của ông Phạm Văn T11).
- Đình chỉ yêu cầu của nguyên đơn về việc chia thừa kế tài sản nhà đất tại số B L, Khu phố E, phường A quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Về trách nhiệm thi hành án: Các bên thi hành án tại Chi cục Thi hành án dân sự Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh.
Chia quyền sở hữu chung như sau: Giao cho bà Phạm Thị Thanh T và bà Phạm Thị Thanh T1 được quyền sử dụng và quyền sở hữu đối với nhà, đất nêu trên; bà Phạm Thị Thanh T và bà Phạm Thị Thanh T1 có nghĩa vụ hoàn lại cho ông Phạm Thanh S phần tài sản chung được nhận là 765.994.310 (Bảy trăm sáu mươi lăm triệu chín trăm chín mươi bốn nghìn ba trăm mười) đồng, trong thời hạn 03 (ba) tháng kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Nếu hết thời hạn 03 (ba) tháng, bà Phạm Thị Thanh T và bà Phạm Thị Thanh T1 không hoàn lại đủ cho ông S số tiền nêu trên thì các đương sự liên quan phần tài sản chung này được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền tổ chức phát mãi tài sản chung là nhà, đất nêu trên để phân chia theo tỷ lệ mỗi người được nhận 1/3 giá trị nhà, đất này sau khi trừ các chi phí tổ chức thi hành án theo quy định pháp luật.
Sau khi, bà Phạm Thị Thanh T và bà Phạm Thị Thanh T1 hoàn lại cho ông Phạm Thanh S phần tài sản chung nói trên thì ông Phạm Thanh S và những người đang ở tại căn nhà này có trách nhiệm thu dọn đồ đạc để bàn giao căn nhà cho bà Phạm Thị Thanh T và bà Phạm Thị Thanh T1, cụ thể là ông Phạm Thanh S, bà Nguyễn Thị Kim T10, cháu Phạm Huỳnh Xuân N1 và Phạm Huỳnh Trúc Q1.
Bà Phạm Thị Thanh T và bà Phạm Thị Thanh T1 được quyền liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để xác lập quyền sử dụng và quyền sở hữu đối với nhà, đất nói trên, đồng thời bà Phạm Thị Thanh T và bà Phạm Thị Thanh T1 phải chấp hành việc quy hoạch đô thị khi Nhà nước có yêu cầu.
Bà Phan Thị Đ2 và bà Nguyễn Yến N có trách nhiệm hoàn trả lại cho các đồng thừa kế của ông T11 và bà H6 số tiền là 680.500.000 (Sáu trăm tám mươi triệu năm trăm nghìn) đồng, bao gồm các ông bà: Nguyễn Thanh L5; Phạm Thanh S1; Phạm Thanh H5; Phạm Thanh H5; Phạm Thanh S; Phạm Thị Thanh T và Phạm Thị Thanh T1.
Thanh toán làm một lần sau khi bản có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
- Án phí dân sự sơ thẩm:
- Phạm Thanh S phải nộp án phí là 34.639.772 (Ba mươi bốn triệu sáu trăm ba mươi chín nghìn bảy trăm bảy mươi hai) đồng.
- Bà Phạm Thị Thanh T và bà Phạm Thị Thanh T1 phải nộp án phí mỗi người là 34.639.772 (Ba mươi bốn triệu sáu trăm ba mươi chín nghìn bảy trăm bảy mươi hai) đồng, nhưng bà T và bà T1 được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là: 5.000.000 (Năm triệu) đồng theo biên lai thu số AA/2018/0011075 ngày 22/4/2019 của Chi cục Thi hành án Dân sự Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh; do đó án phí của mỗi người phải nộp là 32.139.772 (Ba mươi hai triệu một trăm ba mươi chín nghìn bảy trăm bảy mươi hai) đồng.
- Ngoài ra, bà Phạm Thị Thanh T còn được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 14.000.000 (Mười bốn triệu đồng) theo biên lai thu số AA/2018/0010822 ngày 29/01/2019 của Chi cục Thi hành án Dân sự Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh, nên bà T còn phải nộp án phí là 18.139.772 (Mười tám triệu một trăm ba mươi chín nghìn bảy trăm bảy mươi hai) đồng.
- Bà Nguyễn Yến N phải nộp án phí là 17.410.000 (Mười bảy triệu bón trăm mười nghìn) đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 9.019.000 (Chín triệu không trăm mười chín nghìn) đồng theo biên lai thu số AA/2019/0010993 ngày 02/02/2021 và 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số AA/2019/0010992 ngày 02/02/2019 của Chi cục Thi hành án Dân sự Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh; bà Nguyễn Yến N còn phải nộp án phí là 8.091.000 (Tám triệu không trăm chín mươi mốt nghìn) đồng.
- Bà Phan Thị Đ2 phải nộp án phí là 15.610.000 (Mười lăm triệu sáu trăm mười nghìn) đồng.
- Bà Châu Ngọc T5 phải nộp án phí là 25.680.000 (Hai mươi lăm triệu sáu trăm tám mươi nghìn) đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số AA/2018/0011086 ngày 23/4/2019 của Chi cục Thi hành án Dân sự Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh, bà Châu Ngọc T5 còn phải nộp án phí là 25.380.000 (Hai mươi lăm triệu ba trăm tám mươi nghìn) đồng.
- Bà Võ Hoàng Linh T4 phải nộp án phí là 1.900.000 (Một triệu chín trăm nghìn) đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 950.000 (Chín trăm năm mươi nghìn) đồng theo biên lai thu số AA/2018/0011774 ngày 03/12/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh, bà Võ Hoàng Linh T4 còn phải nộp án phí là 950.000 (Chín trăm năm mươi nghìn) đồng.
- Bà Lương Thị L1 phải nộp án phí là 1.460.000 (Một triệu bốn trăm sáu mươi nghìn) đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 730.000 (Bảy trăm ba mươi nghìn) đồng theo biên lai thu số AA/2018/0011775 ngày 03/12/2019 của Chi cục Thi hành án Dân sự Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh, bà Lương Thị L1 còn phải nộp án phí là 730.000 (Bảy trăm ba mươi nghìn) đồng.
- Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đượng sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
* Ngày 05 tháng 02 năm 2024 Tòa án Nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định sửa chữa, bổ sung bản án sơ thẩm số 04/2024/QĐ-SCBSBA
* Ngày 12/11/2023 ông Phạm Thanh S có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Ngày 10/10/2023 bà Nguyễn Yến N có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm
* Ngày 27/10/2023 Viện kiểm sát Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 8415/QĐKNPT-VKS-DS/QĐKNPT-VKS-DS đề nghị hủy một phần bản án sơ thẩm.
* Tại phiên tòa phúc thẩm:
Người khởi kiện bà Phạm Thị Thanh T và bà Phạm Thị Thanh T1 rút một phần đơn khởi kiện đối với tranh chấp liên quan đến nhà đất số A V, Phường H, Quận F, TP , người kháng cáo không rút đơn kháng cáo. Các bên đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án. Viện kiểm sát Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên toàn bộ Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 8415/QĐKNPT-VKS-DS ngày 27/10/2023 đề nghị hủy một phần bản án sơ thẩm. Đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Yến N không đồng ý với yêu cầu rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Nguyên đơn xác định không có nợ hụi giữa ông T11 và bà N và nguyên đơn đã rút phần yêu cầu khởi kiện tranh chấp liên quan đến nhà đất số A V, Phường H, Quận F nên không yêu cầu đến việc có nợ hụi hay không, nguyên đơn đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm
- Đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày: Bà N xác định yêu cầu kháng cáo như sau: Bà ngọc không kháng cáo liên quan đến nhà đất số A V, Phường H, Quận F, TP ., bà N chỉ kháng cáo yêu cầu hội đồng xét xử hủy một phần bản án sơ thẩm do trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà N có làm đơn yêu cầu độc lập tranh chấp liên quan đến tiền nợ hụi và yêu cầu các đồng thừa kế của ông T11 thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại đối với phần nợ hụi mà ông T11 nợ bà N là 360.750.000 đồng. Bà N đóng tiền tạm ứng phí đối với yêu cầu độc lập này và đã được Tòa án sơ thẩm ra Thông báo thụ lý về yêu cầu đọc lập này nhưng tòa án cấp sơ thẩm không xem xét nhận định và quyết định gì về quan hệ pháp luật tranh chấp nợ hụi của bà N là vi phạm tố tụng gây thiệt hại đến quyền lợi của bà N và quyền kháng cáo của đương sự.
Ngoài ra, tòa án sơ thẩm còn buộc bà N phải liên đới chịu trách nhiệm hoàn trả lại cho các người kế thừa của ông T11, bà H6 số tiền 680.500.000 đồng là không đúng quy định pháp luật vì bà Đ2 là người nhận tiền của bà H6, không phải bà N nhận tiền của bà H6. Bà N chỉ là người được bà Đ2 tặng cho tài sản, do đó bà N không có trách nhiệm liên đới trông việc trả lại 10 lượng vàng bà Đ2 đã nhận của bà H6, Tòa án cấp sơ thẩm buộc bà N có trách nhiệm liên đới là làm thiệt hại thiệt hại đến quyền lợi của bà N đề nghị tòa án hủy một phần bản án sơ thẩm.
- Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
+ Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến thời điểm Hội đồng xét xử tuyên bố nghị án, Thẩm phán chủ tọa, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Những người tham gia tố tụng đã được thực hiện đúng, đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
+ Về nội dung: Đề nghị hội đồng xét xử phúc thẩm hủy một phần bản án sơ thẩm, chấp nhận kháng cáo của bà N.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa;
- Về thời hạn kháng cáo:
[1] Ngày 29/9/2023 Tòa án Nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm. Ngày 12/11/2023 ông Phạm Thanh S có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm. Ngày 10/10/2023bà Nguyễn Yến N có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm. Ngày 27/10/2023 Viện kiểm sát Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 8415/QĐKNPT-VKS-DS đề nghị hủy một phần bản án sơ thẩm. Căn cứ khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự xác định đơn kháng cáo và Kháng nghị làm trong thời hạn luật định, là hợp lệ được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.
- Về thủ tục tố tụng:
[2] Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Phạm Thị Thanh T và bà Phạm Thị Thanh T1 là ông Nguyễn Hữu T2 có mặt; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Phạm Thanh S1 có mặt, Đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Yến N có mặt. Các đượng sự còn lại gồm: Bị đơn ông Phạm Thanh S; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Phạm Thanh L vắng mặt,, bà Phạm Thanh H5, bà Phạm Thị Thanh T3 ủy quyền cho ông Lê Tiến Đ, bà Võ Hoàng Linh T4, bà Lương Thị L1 có đại diện ủy quyền của bà N, bà T4 và bà L1 là ông Nguyễn N, bà Châu Ngọc T5 ủy quyền cho ông Lương Văn Đ1, bà Phan Thị Thanh H2, ông Nguyễn Hữu T6, bà Nguyễn Thị Tuyết P, trẻ Nguyễn Hữu T7, sinh năm 2008 (Do ông Nguyễn Hữu T6 là cha làm đại diện theo pháp luật); Trẻ Huỳnh Thanh T8, sinh năm 2013; Trẻ Huỳnh Kiến Q, sinh năm 2015 (Do bà Nguyễn Thị Tuyết P là mẹ làm đại diện theo pháp luật), ông Nguyễn Hoàng T9, Trẻ Nguyễn Hoàng H3, sinh năm 2011(Do ông Nguyễn Hoàng T9 là cha làm đại diện theo pháp luật), bà Phan Thị Đ2, ông Nguyễn M, bà Nguyễn Thị Kim T10, Trẻ Phạm Huỳnh Xuân N1, sinh năm 2010 và Trẻ Phạm Huỳnh Trúc Q1, sinh năm 2019 (Trẻ Nghi và trẻ Q1 do cha là ông Phạm Thanh S và mẹ bà Nguyễn Thị Kim T10 làm đại diện theo pháp luật) đều được Tòa án triệu tập lần thứ 2 nhưng vắng mặt không có lý do, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
-Về nội dung:
[3] Bị đơn ông Phạm Thanh S có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm nhưng tòa án cấp phúc thẩm đã triệu tập tham gia phiên tòa phúc thẩm hợp lệ lần thứ 2 nhưng ông sang vắng mặt không có lý do nên căn cứ khoản 3 Điều 296 Bộ luật Tố tụng Dân sự coi như ông S từ bỏ việc kháng cáo, Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của ông S.
[4] Đối với tranh chấp về yêu cầu chia tài sản chung, chia thừa kế liên quan nhà đất số A V, Phường H, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh đương sự không kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị nên được giữ nguyên.
[5] Đối với việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn về việc không tranh chấp liên quan đến ½ nhà, đất số A V, Phường H, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh, xét thấy việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn, người kháng cáo không đồng ý, do đó Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm căn cứ Điều 299 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 không chấp nhận việc rút yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
[6] Xét yêu cầu kháng cáo của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Yến N, Hội đồng xét xử nhận định: Quá trình giải quyết tại Tòa án cấp sơ thẩm người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Yến N có đơn yêu cầu độc lập ngày 04/01/2021 (BL 48) yêu cầu buộc các đồng thừa kế của ông T11, bà H6 thanh toán tiền nợ hụi 360.750.000 đồng cho bà N và bà N đề nghị được cấn trừ số tiền nợ hụi vào nghĩa vụ của bà Đ2 phải thanh toán lại cho các đồng thừa kế của ông T11, bà H6 là 10 lượng vàng 9999. Bà N đã đóng tiền tạm ứng án phí đối với yêu cầu độc lập nói trên và Tòa án cấp sơ thẩm đã ra Thông báo thụ lý số 68/2021/TB-TLYCĐL ngày 04/02/2021 (BL 441) thụ lý yêu cầu độc lập của bà N nhưng tại bản án sơ thẩm, Tòa án cấp sơ thẩm chỉ xác định quan hệ tranh chấp về chia tài sản chung, chia thừa kế tài sản và thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại mà không có quan hệ tranh chấp về nợ hụi là chưa chính xác.
[7] Đối với phần Tòa án cấp sơ thẩm tuyên buộc bà Phan Thị Đ2 và bà Nguyễn Yến N có trách nhiệm hoàn trả cho các đồng thừa kế của ông T11, bà H6 số tiền 680.500.000 đồng là không có căn cứ, bởi lẽ năm 2007 bà H6, ông T11 cho bà Đ2 mượn 10 lượng vàng 9999, số vàng này do cá nhân bà Đ2 nhận, không liên quan đến bà N, bà N chỉ là người ký tên vào Giấy cho nhà ngày 10/4/2007 chứ bà N không tham gia nhận 10 lượng vàng của ông T11, bà H6 nên việc Tòa án cấp sơ thẩm buộc bà N cùng liên đới với bà Đ2 trả lại số tiền 680.500.000 đồng cho các đồng thừa kế của ông T11, bà H6 là không đúng quy định pháp luật, gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà N.
[8] Xét, kháng nghị của Viện kiểm sát Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử nhận định: bà T1 và bà T yêu cầu xác định ½ nhà, đất số A V, Phường H, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh là di sản thừa kế của bà H6, ông T11 và chia đều cho 7 anh chị em. Tuy nhiên, tại phiên tòa sơ thẩm (vắng mặt 5 người thừa kế), đại diện ủy quyền của bà T thay đổi yêu cầu khởi kiện: Yêu cầu hủy giấy cho nhà và bà Yến N (con của ông M, bà Đ2) phải trả lại 10 lượng vàng SJC, xét thấy nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện, Tòa án cấp sơ thẩm không thực hiện việc lấy ý kiến của 5 đồng thừa kế còn lại là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng và làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đồng thừa kế còn lại vì ½ căn nhà trên là di sản thừa kế của bà H6, ông T11 nên 7 đồng thừa kế của ông T11, bà H6 đều có quyền quyết định ngang nhau trong việc phân chia di sản thừa kế này, cá nhân bà T không có quyền quyết định toàn bộ quyền của 05 đồng thừa kế con lại là vi phạm khoản 3 Điều 73; khoản 2 Điều 71 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015. Do đó, để đảm bảo hai cấp xét xử và quyền kháng cáo của đương sự cần hủy một phần bản án sơ thẩm đối với tranh chấp yêu cầu thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại và đòi tài sản liên quan đến ½ nhà, đất số A V, Phường H, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh như đã nhận định trên và chấp nhận Quyết định kháng nghị số 8415/QĐKNPT-VKS-DS ngày 27/10/2023 của Viện kiểm sát Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Giao hồ sơ về cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo quy định pháp luật.
[9] Đối với phần Viện kiểm sát Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh kháng nghị về án phí dân sự sơ thẩm liên quan đến tranh chấp nợ hụi; yêu cầu thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại và đòi tài sản ½ nhà, đất số A V, Phường H, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh. Xét thấy, Tòa án cấp phúc thẩm đã hủy một phần bản án sơ thẩm như đã nhận định trên nên án phí dân sự sự sơ thẩm sẽ được xem xét, quyết định khi vụ án được giải quyết lại theo thủ tục chung.
[10] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm chấp nhận yêu cầu kháng cáo của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Yến N; Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh; hủy một phần bản án sơ thẩm.
[11]Án phí dân sự sơ thẩm:
- Phạm Thanh S phải chịu án phí là 34.639.772 (Ba mươi bốn triệu sáu trăm ba mươi chín nghìn bảy trăm bảy mươi hai) đồng.
- Bà Phạm Thị Thanh T và bà Phạm Thị Thanh T1 phải chịu án phí mỗi người là 34.639.772 (Ba mươi bốn triệu sáu trăm ba mươi chín nghìn bảy trăm bảy mươi hai) đồng. Bà T và bà T1 được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là: 5.000.000 (Năm triệu) đồng theo biên lai thu số AA/2018/0011075 ngày 22/4/2019 của Chi cục Thi hành án Dân sự Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh; do đó án phí của mỗi người phải nộp là 32.139.772 (Ba mươi hai triệu một trăm ba mươi chín nghìn bảy trăm bảy mươi hai) đồng. Ngoài ra, bà Phạm Thị Thanh T còn được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 14.000.000 (Mười bốn triệu) đồng theo biên lai thu số AA/2018/0010822 ngày 29/01/2019 của Chi cục Thi hành án Dân sự Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh, nên bà T còn phải nộp án phí là 18.139.772 (Mười tám triệu một trăm ba mươi chín nghìn bảy trăm bảy mươi hai) đồng.
- Bà Châu Ngọc T5 phải nộp án phí là 25.680.000 (Hai mươi lăm triệu sáu trăm tám mươi nghìn) đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số AA/2018/0011086 ngày 23/4/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh, bà Châu Ngọc T5 còn phải nộp án phí là 25.380.000 (Hai mươi lăm triệu ba trăm tám mươi nghìn) đồng.
- Bà Võ Hoàng Linh T4 phải nộp án phí là 1.900.000 (Một triệu chín trăm nghìn) đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 950.000 đồng (Chín trăm năm mươi nghìn) đồng theo biên lai thu số AA/2018/0011774 ngày 03/12/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh, bà Võ Hoàng Linh T4 còn phải nộp án phí là 950.000 (Chín trăm năm mươi nghìn) đồng.
- Bà Lương Thị L1 phải nộp án phí là 1.460.000 (Một triệu bốn trăm sáu mươi nghìn) đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 730.000 (Bảy trăm ba mươi nghìn) đồng theo biên lai thu số AA/2018/0011775 ngày 03/12/2019 của Chi cục Thi hành án Dân sự Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh, bà Lương Thị L1 còn phải nộp án phí là 730.000 (Bảy trăm ba mươi nghìn) đồng.
[12] Án phí dân sự phúc thẩm: Do hủy một phần bản án sơ thẩm nên người kháng cáo ông Phạm Thanh S và bà Nguyễn Yến N không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp cho ông S và bà N.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 3 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016.
Tuyên xử:
- Chấp nhận kháng cáo người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Yến N; Chấp nhận Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 8415/QĐKNPT-VKS-DS ngày 27/10/2023 của Viện kiểm sát Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh; Hủy một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 201/2023/DS-ST ngày 29/9/2023 của Tòa án Nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh, cụ thể:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
- Xác định tài sản chung của ông Phạm Thanh S, bà Phạm Thị Thanh T và bà Phạm Thị Thanh T1 là nhà, đất tọa lạc tại địa chỉ A V, Phường H, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh (Theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, có Hồ sơ gốc số 369/2004 do Ủy ban Nhân dân Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 09/01/2004, Thửa đất số 167; Tờ bản đồ số 29 (BĐĐC) P8Q6).
- Không chấp nhận các yêu cầu độc lập của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Yến N, bà Châu Ngọc T5, bà Võ Hoàng Linh T4, bà Lương Thị L1 về thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại (nợ hụi của ông Phạm Văn T11).
- Đình chỉ yêu cầu của nguyên đơn về việc chia thừa kế tài sản nhà đất tại số B L, Khu phố E, phường A quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Về trách nhiệm thi hành án: Các bên thi hành án tại Chi cục Thi hành án Dân sự Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Hủy một phần bản án sơ thẩm số 201/2023/DS-ST ngày 29/9/2023 của Tòa án Nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh đối với tranh chấp yêu cầu thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại và đòi tài sản liên quan đến ½ nhà, đất số A V, Phường H, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Phạm Thanh S.
Chia quyền sở hữu chung như sau: Giao cho bà Phạm Thị Thanh T và bà Phạm Thị Thanh T1 được quyền sử dụng và quyền sở hữu đối với nhà, đất nêu trên; bà Phạm Thị Thanh T và bà Phạm Thị Thanh T1 có nghĩa vụ hoàn lại cho ông Phạm Thanh S phần tài sản chung được nhận là 765.994.310 (Bảy trăm sáu mươi lăm triệu chín trăm chín mươi bốn nghìn ba trăm mười) đồng, trong thời hạn 03 (ba) tháng kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Nếu hết thời hạn 03 (ba) tháng, bà Phạm Thị Thanh T và bà Phạm Thị Thanh T1 không hoàn lại đủ cho ông S số tiền nêu trên thì các đương sự liên quan phần tài sản chung này được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền tổ chức phát mãi tài sản chung là nhà, đất nêu trên để phân chia theo tỷ lệ mỗi người được nhận 1/3 giá trị nhà, đất này sau khi trừ các chi phí tổ chức thi hành án theo quy định pháp luật.
Sau khi, bà Phạm Thị Thanh T và bà Phạm Thị Thanh T1 hoàn lại cho ông Phạm Thanh S phần tài sản chung nói trên thì ông Phạm Thanh S và những người đang ở tại căn nhà này có trách nhiệm thu dọn đồ đạc để bàn giao căn nhà cho bà Phạm Thị Thanh T và bà Phạm Thị Thanh T1, cụ thể là ông Phạm Thanh S, bà Nguyễn Thị Kim T10, cháu Phạm Huỳnh Xuân N1 và Phạm Huỳnh Trúc Q1.
Bà Phạm Thị Thanh T và bà Phạm Thị Thanh T1 được quyền liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để xác lập quyền sử dụng và quyền sở hữu đối với nhà, đất nói trên, đồng thời bà Phạm Thị Thanh T và bà Phạm Thị Thanh T1 phải chấp hành việc quy hoạch đô thị khi Nhà nước có yêu cầu.
Giao toàn bộ Hồ sơ dân sự phúc thẩm thụ lý số 298/2024/TLDS-PT ngày 21 tháng 3 năm 2024, về việc “Tranh chấp về chia tài sản chung, chia thừa kế tài sản và thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại và đòi tài sản” cho Toà án Nhân dân Quận 6 giải quyết lại theo quy định.
Kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
- Án phí dân sự sơ thẩm:
- Phạm Thanh S phải chịu án phí là 34.639.772 (Ba mươi bốn triệu sáu trăm ba mươi chín nghìn bảy trăm bảy mươi hai) đồng.
- Bà Phạm Thị Thanh T và bà Phạm Thị Thanh T1 phải chịu án phí mỗi người là 34.639.772 (Ba mươi bốn triệu sáu trăm ba mươi chín nghìn bảy trăm bảy mươi hai) đồng. Bà T và bà T1 được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là: 5.000.000 (Năm triệu) đồng theo biên lai thu số AA/2018/0011075 ngày 22/4/2019 của Chi cục Thi hành án Dân sự Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh; do đó án phí của mỗi người phải nộp là 32.139.772 đồng (Ba mươi hai triệu một trăm ba mươi chín nghìn bảy trăm bảy mươi hai) đồng. Ngoài ra, bà Phạm Thị Thanh T còn được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 14.000.000 (Mười bốn triệu) đồng theo biên lai thu số AA/2018/0010822 ngày 29/01/2019 của Chi cục Thi hành án Dân sự Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh, nên bà T còn phải nộp án phí là 18.139.772 đồng (Mười tám triệu một trăm ba mươi chín nghìn bảy trăm bảy mươi hai) đồng.
- Bà Châu Ngọc T5 phải nộp án phí là 25.680.000 (Hai mươi lăm triệu sáu trăm tám mươi nghìn) đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số AA/2018/0011086 ngày 23/4/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh, bà Châu Ngọc T5 còn phải nộp án phí là 25.380.000 (Hai mươi lăm triệu ba trăm tám mươi nghìn) đồng.
- Bà Võ Hoàng Linh T4 phải nộp án phí là 1.900.000 (Một triệu chín trăm nghìn) đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 950.000 đồng (Chín trăm năm mươi nghìn) đồng theo biên lai thu số AA/2018/0011774 ngày 03/12/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh, bà Võ Hoàng Linh T4 còn phải nộp án phí là 950.000 (Chín trăm năm mươi nghìn) đồng.
- Bà Lương Thị L1 phải nộp án phí là 1.460.000 (Một triệu bốn trăm sáu mươi nghìn) đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 730.000 (Bảy trăm ba mươi nghìn) đồng theo biên lai thu số AA/2018/0011775 ngày 03/12/2019 của Chi cục Thi hành án Dân sự Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh, bà Lương Thị L1 còn phải nộp án phí là 730.000 (Bảy trăm ba mươi nghìn) đồng.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Phạm Thanh S và bà Nguyễn Yến N không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp cho ông S và bà N mỗi người 300.000 đồng đã nộp theo biên lại tạm ứng án phí số 0038442 ngày 18/10/2023 và biên lai số 0038543 ngày 13/11/ 2023 của Chi cục thi hành án Dân sự Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Quỳnh Châu |
Bản án số 449/2024/DS-PT ngày 20/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH (Phúc thẩm) về tranh chấp về chia tài sản chung, chia thừa kế tài sản và thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại
- Số bản án: 449/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về chia tài sản chung, chia thừa kế tài sản và thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 20/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH (Phúc thẩm)
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận kháng cáo người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Yến N; Chấp nhận Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 8415/QĐKNPT-VKS-DS ngày 27/10/2023 của Viện kiểm sát Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh; Hủy một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 201/2023/DS-ST ngày 29/9/2023 của Tòa án Nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh
