Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 449/2025/DS-ST

Ngày: 19-6-2025

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Tuý Như

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Lâm Bình Đăng
  2. Nguyễn Văn Quản

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lê – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Huyền Trang – Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 1066/2024/TLST-DS ngày 21 tháng 11 năm 2024 về tranh chấp hợp đồng tín dụng, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 590/2025/QĐXXST-DS ngày 05 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 740/2025/QÐST-DS ngày 26 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Công ty T (Việt Nam)
  2. Địa chỉ: Số 1 đường P, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Lâm Thị Thùy D – Sinh năm 2000 là đại diện theo ủy quyền (Theo Giấy ủy quyền ngày 01 tháng 3 năm 2024).

    Địa chỉ: P tầng D Tòa nhà S T, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Đại diện hợp pháp của nguyên đơn có đơn xin vắng mặt.

  3. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Hồng G - Sinh năm 1998
  4. Địa chỉ: B, Khu phố B (Nay là Khu phố A), phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Bị đơn vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Về nội dung, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Trong đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:

Ngày 19/05/2022, Công ty T (Việt Nam) (sau đây gọi tắt là Công ty T) ký Hợp đồng tín dụng số 3173773 về việc cấp tín dụng cho bị đơn Nguyễn Thị Hồng G với khoản vay trị giá 31.980.000 đồng (Gồm 30.000.000 đồng giải ngân qua số tài khoản 060218528220 mở tại Ngân hàng TMCP S và 1.980.000 đồng tiền bảo hiểm khoản vay), lãi suất 44%/năm.

Sau khi ký kết, Công ty T đã giải ngân theo đúng quy định trong Hợp đồng tín dụng cho bị đơn. Theo Hợp đồng tín dụng, bị đơn có nghĩa vụ thanh toán hàng tháng trong kỳ hạn 24 tháng kể từ ngày 15/06/2022 đến ngày 15/05/2024.

Sau khi được giải ngân, bị đơn đã thanh toán 16.332.518 đồng (Trong đó: G1 đã trả là 8.012.882 đồng; L đã trả là 8.253.672 đồng; Lãi chậm trả đã trả là 5.964 đồng; Phí thu hộ đã trả là 60.000 đồng). Ngày 20/10/2022 đến ngày 10/02/2023, bà G ngưng không thanh toán. Ngày 11/02/2023, bà G thanh toán lại và ngày 20/4/2023, là ngày thanh toán cuối cùng. Từ ngày 21/4/2023, bị đơn đã ngừng thanh toán cho đến nay. Do đó, từ ngày 15/02/2023 (kỳ thanh toán thứ 9), công ty đã chuyển toàn bộ khoản nợ của bà G thành khoản nợ quá hạn và bắt đầu tính nợ quá hạn đối với từng kỳ thanh toán mà bà G vi phạm.

Tạm tính đến hết ngày 19/6/2025, bà Nguyễn Thị Hồng G còn nợ tổng số là 59.891.558 (Năm mươi chín triệu tám trăm chín mươi mốt ngàn năm trăm năm mươi tám) đồng. Trong đó: Số dư nợ gốc còn lại chưa thanh toán là 23.967.118 (Hai mươi ba triệu chín trăm sáu mươi bảy ngàn một trăm mười tám) đồng; Số tiền lãi trong hạn là 8.015.041 (Tám triệu không trăm mười lăm sáu triệu ba trăm bảy mươi sáu ngàn bảy trăm bảy mươi lăm) đồng; Số tiền lãi quá hạn là 26.376.775 (Hai mươi sáu triệu ba trăm bảy mươi sáu ngàn bảy trăm bảy mươi lăm) đồng; Số tiền lãi chậm trả là 1.532.624 (Một triệu năm trăm ba mươi hai ngàn sáu trăm hai mươi bốn) đồng.

Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết:

Buộc bị đơn bà Nguyễn Thị Hồng G phải trả tổng số tiền tạm tính kể từ ngày 15/02/2023 đến ngày 19/6/2025 là 59.891.558 (Năm mươi chín triệu tám trăm chín mươi mốt ngàn năm trăm năm mươi tám) đồng. Trong đó: Số dư nợ gốc còn lại chưa thanh toán là 23.967.118 (Hai mươi ba triệu chín trăm sáu mươi bảy ngàn một trăm mười tám) đồng; Số tiền lãi trong hạn là 8.015.041 (Tám triệu không trăm mười lăm sáu triệu ba trăm bảy mươi sáu ngàn bảy trăm bảy mươi lăm) đồng; Số tiền lãi quá hạn là 26.376.775 (Hai mươi sáu triệu ba trăm bảy mươi sáu ngàn bảy trăm bảy mươi lăm) đồng; Số tiền lãi chậm trả là 1.532.624 (Một triệu năm trăm ba mươi hai ngàn sáu trăm hai mươi bốn) đồng.

Ngoài ra, nguyên đơn còn yêu cầu Tòa án buộc bị đơn phải thanh toán lãi phát sinh kể từ ngày 20/6/2025 cho đến khi thi hành xong bản án có hiệu lực pháp luật.

Yêu cầu bà Nguyễn Thị Hồng G trả một lần toàn bộ số tiền nêu trên ngay sau khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

* Về ý kiến, đề nghị của bị đơn:

Trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án, bị đơn không đến Tòa cũng không gửi bất kỳ văn bản ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn mặc dù đã được Tòa án nhân dân Quận 12 tống đạt thông báo thụ lý, giấy triệu tập cũng như thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải để đến Tòa án để giải quyết vụ kiện.

* Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 12 tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Thủ tục khởi kiện và thụ lý vụ án thực hiện đúng quy định của pháp luật. Tòa án thụ lý đúng thẩm quyền. Việc tống đạt các văn bản tố tụng và chuyển hồ sơ cho Viện Kiểm sát nghiên cứu thực hiện đúng theo quy định pháp luật. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử tuân theo quy định của pháp luật Tố tụng dân sự. Viện kiểm sát kiến nghị về việc khắc phục vi phạm thời hạn chuẩn bị xét xử. Ngoài ra còn nhận xét về việc tham gia tố tụng của các đương sự.

Về nội dung: Đề nghị Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn phải trả tiền nợ phát sinh từ hợp đồng tín dụng do hai bên đã xác lập. Đây là quan hệ pháp luật “Tranh chấp về hợp đồng tín dụng”. Bị đơn cư trú tại địa chỉ: B, Khu phố B (Nay là Khu phố A), phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Do đó, theo quy định tại các Điều 26, 35, 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

[2] Về thủ tục tố tụng:

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa nhưng vắng mặt không rõ lý do nên theo quy định tại các điểm a và b khoản 2 Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

[3] Về các yêu cầu của nguyên đơn:

Căn cứ vào lời khai của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở để xác định:

Công ty T (Việt Nam) là tổ chức tín dụng phi ngân hàng (theo quy định tại khoản 4 Điều 4 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi bổ sung năm 2017) hoạt động theo Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi bổ sung năm 2017, được cấp tín dụng theo hình thức “cho vay” theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 108 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Ngày 19/5/2022, Công ty T (Việt Nam) và bà Nguyễn Thị Hồng G ký Hợp đồng tín dụng số 3173773 về việc cấp tín dụng cho bà Nguyễn Thị Hồng G với khoản vay trị giá 31.980.000 đồng. Việc nguyên đơn và bị đơn giao kết hợp đồng tín dụng là tự nguyện, phù hợp với quy định pháp luật.

Ngày 20/10/2022 đến ngày 10/02/2023, bà G ngưng không thanh toán cho nguyên đơn. Ngày 11/02/2023, bà G thanh toán lại và ngày 20/4/2023, là ngày thanh toán cuối cùng. Từ ngày 21/4/2023, bị đơn đã ngừng thanh toán tiền cho nguyên đơn cho đến nay. Do đó, từ ngày 15/02/2023 (kỳ thanh toán thứ 9), công ty đã chuyển toàn bộ nợ của bà G thành nợ quá hạn và bắt đầu tính nợ quá hạn đối với từng kỳ thanh toán mà bà G vi phạm. Việc bà G không thanh toán đầy đủ theo nghĩa vụ hợp đồng đối với khoản vay mà phía Công ty T đã giải ngân nên đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán tại mục 3.3 và điểm a mục 8.1 của hợp đồng tín dụng số 3173773 ngày 19/5/2022. Việc nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn phải trả lại tiền gốc của hợp đồng tín dụng số 3173773 ngày 19/5/2022 là có cơ sở.

Căn cứ vào mục 8.3 Hợp đồng tín dụng số 3173773 ngày 19/5/2022, Khoản 2 Điều 91 Luật tổ chức tín dụng năm 2010 về Lãi suất, phí trong hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng thì yêu cầu bị đơn thanh toán tiền lãi của nguyên đơn là phù hợp.

Do đó, việc nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn phải trả một lần ngay sau khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật toàn bộ số tiền nợ gốc và nợ lãi chưa thanh toán tạm tính đến hết ngày 19/6/205 là 59.891.558 (Năm mươi chín triệu tám trăm chín mươi mốt ngàn năm trăm năm mươi tám) đồng và yêu cầu tiền lãi phát sinh từ ngày 20/6/2025 cho đến khi trả hết nợ là hoàn toàn có cơ sở chấp nhận, phù hợp với quan điểm của Viện kiểm sát.

[4] Về án phí:

Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí sơ thẩm đối với vụ án về tranh chấp dân sự có giá ngạch.

Hoàn trả cho nguyên đơn toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp khi khởi kiện.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 227, 228, 271, 273, 278 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Căn cứ vào các Điều 2, 6, 7, 9, 30 Luật Thi hành án Dân sự;

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Buộc bà Nguyễn Thị Hồng G phải trả cho Công ty T (Việt Nam) tổng số tiền phát sinh theo hợp đồng tín dụng số 3173773 ngày 19 tháng 5 năm 2022 tạm tính đến hết ngày 19 tháng 6 năm 2025 là 59.891.558 (Năm mươi chín triệu tám trăm chín mươi mốt ngàn năm trăm năm mươi tám) đồng. Trong đó: Số dư nợ gốc còn lại chưa thanh toán là 23.967.118 (Hai mươi ba triệu chín trăm sáu mươi bảy ngàn một trăm mười tám) đồng; Số tiền lãi trong hạn là 8.015.041 (Tám triệu không trăm mười lăm sáu triệu ba trăm bảy mươi sáu ngàn bảy trăm bảy mươi lăm) đồng; Số tiền lãi quá hạn là 26.376.775 (Hai mươi sáu triệu ba trăm bảy mươi sáu ngàn bảy trăm bảy mươi lăm) đồng; Số tiền lãi chậm trả là 1.532.624 (Một triệu năm trăm ba mươi hai ngàn sáu trăm hai mươi bốn) đồng.

Buộc bà Nguyễn Thị Hồng G phải tiếp tục chịu các khoản lãi phát sinh theo thỏa thuận với Công ty T (Việt Nam) kể từ ngày 20 tháng 6 năm 2025 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.

Bà Nguyễn Thị Hồng G có nghĩa vụ trả cho Công ty T (Việt Nam) một lần toàn bộ số tiền nêu trên ngay sau khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

2. Về án phí:

2.1 Buộc bà Nguyễn Thị Hồng G phải chịu án phí sơ thẩm đối với vụ án về tranh chấp dân sự có giá ngạch là 2.994.578 (Hai triệu chín trăm chín mươi tư ngàn năm trăm bảy mươi tám) đồng.

2.2 Hoàn trả cho Công ty T (Việt Nam) toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp khi khởi kiện là 955.891 (Chín trăm năm mươi lăm ngàn tám trăm chín mươi mốt) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0049508 ngày 21/11/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu thi hành án:

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án Dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

4. Quyền kháng cáo:

Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND TP.HCM;
  • - VKSND Quận 12;
  • - Chi cục Thi hành án Dân sự Quận 12;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Thị Túy Như

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 449/2025/DS-ST ngày 19/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 449/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger