|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 448/2024/DS-PT Ngày 21-11-2024 V/v tranh chấp quyền sử dụng đất |
|
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Châu Minh Hoàng
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thành Lập
Bà Đinh Cẩm Đào
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Chọn là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Hữu Duy Khánh - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 393/2024/TLPT- DS ngày 14 tháng 10 năm 2024 về việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 127/2024/DS-ST ngày 06 tháng 8 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Cái Nước bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 320/2024/QĐ-PT ngày 30 tháng 10 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thị B, sinh năm: 1954. Địa chỉ cư trú: Ấp Ô, xã Đ, huyện N, tỉnh Cà Mau (có mặt).
- Bị đơn:
- Ông Nguyễn Quốc V, sinh năm: 1960 (có mặt)
- Bà Phạm Thị Đ, sinh năm: 1962 (có mặt)
Cùng địa chỉ cư trú: Ấp M, xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Mỹ N, sinh năm: 1981 (có mặt)
- Ông Nguyễn Văn C, sinh năm: 1980 (có mặt)
Cùng địa chỉ cư trú: Ấp M, xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau.
- Người kháng cáo: Ông Nguyễn Quốc V và bà Phạm Thị Đ là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn bà Trần Thị B trình bày:
Nguồn gốc phần đất tranh chấp diện tích là 14 tầm từ mé sông chạy dài đến kinh giữa (nay cặp quốc lộ A), tọa lạc tại ấp M, xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau của mẹ bà là bà Nguyễn Thị N1. Sau đó, mẹ của bà không canh tác nữa nên sang nhượng phần đất lại cho cháu là ông Nguyễn Quốc V với giá là 15 chỉ vàng 24k nhưng ông V chỉ đưa 13 chỉ vàng 24k, riêng 01 công mồ mã ông bà thì chừa lại không bán, ông V đã làm thủ tục đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đến khi quốc lộ A mở, gia đình ông V khó khăn về kinh tế nên bán phần đất từ quốc lộ A chạy dài đến kinh giữa, phần còn lại từ quốc lộ A chạy dài xuống sông lộ xe ông V có ý định bán luôn phần đất này nhưng bà và mẹ của bà nghe tin nên nói với ông V phần đất này là của phụ ấm nên chỉ được bán cho người nhà thôi, gia đình ông V đồng ý trả lại cho bà. Gia đình bà và vợ chồng ông V thỏa thuận đi đến thống nhất là phần vàng còn thiếu của mẹ bà là 02 chỉ vàng 24k chuyển thành ông V bán 02 công trừ 02 chỉ vàng 24k này và phần mồ mã 01 công còn lại không bán. Đến ngày 26/12/2001 âm lịch, vợ chồng ông V bán cho bà phần đất còn lại ngang 15 mét x dài 160 mét tới mé sông với giá 06 cây vàng 24k và thêm 02 chỉ vàng 24k là do ông V đã nhận cọc người khác nên bà đưa thêm cho ông V để ông V trả cọc lại. Việc sang nhượng có làm biên bản và có nhiều người chứng kiến, xác nhận chính quyền địa phương. Sau khi sang nhượng do gia đình ông V khó khăn không có đất ở và canh tác nên xin ở trên phần đất này thêm 01 thời gian. Lúc này, gia đình bà chưa có nhu cầu sử dụng nên gia đình bà cho ông V mượn ở trong thời gian 03 năm sẽ lấy lại đất. Do thời gian trên bà ở N, các con còn nhỏ nên chưa có nhu cầu sử dụng nên ông V và con ông V là ông C, bà N sử dụng cho đến nay. Hiện nay, các con đã lớn nên bà yêu cầu lấy lại phần đất ngang 15 mét x dài 160 mét tới mé sông nhưng ông V không đồng ý trả hết đất cho bà mà chỉ đồng ý trả lại cho bà phần đất ngang 10mét x dài 160 mét tới mé sông. Nay bà yêu cầu vợ chồng ông V và bà Đ tiếp tục thực hiện đúng theo hợp đồng chuyển nhượng đất đã ký kết, yêu cầu bà Đ, ông V và anh C, chị N giao trả lại cho bà phần đất theo đo đạc thực tế diện tích là ngang 15m x dài 159,84 m, cụ thể tại các cạnh M1M2M3M4M5M6M9M10M1 = 2.363,3 m² tọa lạc ấp M, xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau. Bà đồng ý với trích đo hiện trạng của Công ty TNHH MTV T3; Chứng thư thẩm định giá của Công ty Cổ phần T4.
Bị đơn ông Nguyễn Quốc V và bà bà Phạm Thị Đ thống nhất trình bày:
Nguồn gốc phần đất tranh chấp hiện nay là của cô N1 (mẹ bà B) nhưng vợ chồng bà mua lại của ông Trần Thanh P năm 1991 với giá 01 lượng 3 chỉ vàng 24k, giao vàng cho ông P. Năm 2001 vợ chồng bà bán cho ông Ba V1 nhưng ông V1 bỏ cọc 01 chỉ vàng 24k thì ai trả vàng lại cho ông V1 02 chỉ vàng 24k thì tôi không biết. Năm 2001 vợ chồng bà có chuyển nhượng cho bà Bên phần đất diện tích 01 công 2 góc 3 với giá 05 lượng vàng 24k. Bà B đã giao đủ số vàng sang nhượng đất cho vợ chồng bà là 05 lượng vàng 24k, do là họ hàng nên hai bên không có làm giấy tờ nhưng có họp thân tộc. Tại buổi họp thân tộc ngày 26/12/2001 có mặt bà N1 là mẹ bà B, bà B, vợ chồng bà, ông Trần Thanh P, ông Nguyễn Văn T, ông Võ Hải T1, chính quyền địa phương là ông Lê Quốc V2 chứng kiến ký tên. Từ khi bà bán đất cho bà Bên năm 2001 thì ông bà vẫn quản lý sử dụng và đến năm 2002 thì bà giao cho vợ chồng anh C, chị N quản lý sử dụng đất đến nay. Nay ông V2 và bà Đ cũng đồng ý thực hiện việc chuyển nhượng đất với bà B, đồng ý giao phần đất chuyển nhượng cho bà B tại các cạnh M1M2M3M4M10= 1.590,8 m², tọa lạc ấp M, xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau. Đối với phần đất ngang 5m x dài 159,84m, cụ thể tại các cạnh M4M5M6M9M10 = 772,5 m² tọa lạc ấp M, xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau thì vợ chồng bà không đồng ý giao lại đất theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì vợ chồng ông bà không có chuyển nhượng phần này. Ông bà đồng ý với Trích đo hiện trạng của Công ty TNHH MTV T3, Chứng thư thẩm định giá của Công ty Cổ phần T4.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Mỹ N thống nhất trình bày:
Ông C và vợ là bà N ở trên phần đất tranh chấp giữa bà B và bà Đ, ông V2 năm 2002 đến nay, do các con của ông bà đi làm xa không quản lý đất. Trên phần đất bà B hiện đang yêu cầu cạnh M1M2M3M4M5M6M9M10M1 = 2.363,3 m² thì đất vuông tôm, không có trồng cây và không có công trình xây dựng gì. Nay trước ý kiến của ông V2, bà Đ thì vợ chồng ông cũng thống nhất việc ông V2, bà Đ đồng ý thực hiện việc chuyển nhượng đất, giao phần đất chuyển nhượng cho bà B tại các cạnh M1M2M3M4M10= 1.590,8 m², tọa lạc ấp M, xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau. Đối với phần đất ngang 5m x dài 159,84m, cụ thể tại các cạnh M4M5M6M9M10 = 772,5 m² tọa lạc ấp M, xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau thì vợ chồng bà không đồng ý giao lại đất theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì vợ chồng ông V2 bà Đ không có chuyển nhượng phần này. Ông bà đồng ý với Trích đo hiện trạng của Công ty TNHH MTV T3, Chứng thư thẩm định giá của Công ty Cổ phần T4.
Từ nội dung trên, Bản án dân sự sơ thẩm số: 127/2024/DS-ST ngày 06/8/2024 của Toà án nhân dân huyện Cái Nước đã quyết định:
- Công nhận sự thỏa thuận giữa bà Trần Thị B, ông Nguyễn Quốc V, bà Phạm Thị Đ, ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Mỹ N về việc giao cho bà Trần Thị B được quản lý, sử dụng phần đất thể hiện tại các cạnh M1M2M3M4M10 theo đo đạc thực tế có diện tích là 1.590,8 m², tọa lạc ấp M, xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị B đối với ông Nguyễn Quốc V, bà Phạm Thị Đ. Công nhận việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Trần Thị B và ông Nguyễn Quốc V, bà Phạm Thị Đ. Buộc ông Nguyễn Quốc V, bà Phạm Thị Đ, ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Mỹ N phải giao lại cho bà Trần Thị B phần đất thể hiện tại các cạnh M4M5M6M9M10 theo đo đạc thực tế có diện tích là 772,5 m² tọa lạc ấp M, xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau.
Vị trí tứ cận của phần đất thể hiện tại các cạnh M1M2M3M4M5M6M9M10M1 như sau:
- Hướng Nam: Cạnh M6-M9 giáp phần đất còn lại của ông Trần Quốc V3.
- Hướng Bắc: Cạnh M1-M2 giáp phần đất của ông Trương Văn T2.
- Hướng Đông: Cạnh M2-M3-M4-M5-M6 giáp Kinh lộ xe.
- Hướng Tây: Cạnh M9-M10-M1 giáp Quốc lộ A.
(Có trích đo hiện trạng kèm theo của Công ty TNHH MTV T3).
Bà Trần Thị B có quyền liên hệ đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện thủ tục kê khai chuyển tên, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất nêu trên theo quy định pháp luật.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 29 tháng 8 năm 2024 bị đơn là ông Nguyễn Quốc V và bà Phạm Thị Đ có đơn kháng cáo với nội dung: Không đồng ý một phần bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số: 127/2024/DS-ST ngày 06/8/2024 của Toà án nhân dân huyện Cái Nước theo hướng không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị B đối với phần diện tích đất ngang 05m dài 160m tổng diện tích 772,5 m² vì lý do ông V, bà Đ không chuyển nhượng phần đất này.
Tại phiên toà phúc thẩm: Bị đơn ông Nguyễn Quốc V và bà Phạm Thị Đ vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, chỉ đồng ý trả lại cho bà Bên phần đất ngang 10m, dài 160m theo đo đạc thực tế có diện tích là 1.590,8m², chứ không đồng ý giao lại phần diện tích đất ngang 05m dài 160m tổng diện tích 772,5m² vì vợ chồng ông bà không có chuyển nhượng phần này. Nguyên đơn bà Trần Thị B đồng ý với bản án sơ thẩm, yêu cầu bà Đ, ông V và ông C, bà N trả đủ diện tích phần đất theo đo đạc thực tế diện tích là ngang 15m, dài 159,84m tổng diện tích 2.363,3m² .
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án, của Hội đồng xét xử và những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng tại phiên tòa đúng quy định pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, hủy Bản án dân sự sơ thẩm số: 127/2024/DS-ST ngày 06 tháng 8 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Cái Nước do vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, giao hồ sơ vụ án về Tòa án nhân dân huyện Cái Nước giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của những người tham gia tố tụng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Tại phiên tòa phúc thẩm bị đơn ông V và bà Đ vẫn giữ nguyên kháng cáo một phần bản án sơ thẩm, yêu cầu cấp phúc thẩm không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện nguyên đơn đối với phần diện tích đất ngang 05m dài 160m tổng diện tích 772,5 m² vì lý do ông V bà Đ không chuyển nhượng phần đất này. Nguyên đơn bà B đồng ý với quyết định của bản án sơ thẩm không có kháng cáo.
[2] Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm đã có vi phạm thủ tục tố tụng, cụ thể:
Ngày 23 tháng 6 năm 2020, Tòa án nhân dân huyện Cái Nước thụ lý vụ án dân sự số 179/2020/TLST-DS về tranh chấp quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn là bà Trần Thị B với bị đơn là ông Nguyễn Quốc V và bà Phạm Thị Đ, theo đó bà B yêu cầu ông V và bà Đ trả cho bà B diện tích đất theo đo đạc thực tế có tổng diện tích là 6.452,6m², trong đó có phần diện tích ngang 15m dài 159,84m cụ thể: Tại các cạnh M1 M2 M3 M4 M5 M6 M9 M10 M1 = 2.363,3m² tọa lạc tại ấp H, xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau.
Ngày 16 tháng 12 năm 2022, Tòa án nhân dân huyện Cái Nước đã ra Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 248/2022/QĐST-DS với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm có Hội thẩm nhân dân là ông Nguyễn Văn Mầm, lý do đình chỉ là nguyên đơn bà Trần Thị Bên đã rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện.
Ngày 29 tháng 6 năm 2023, Tòa án nhân dân huyện Cái Nước tiếp tục thụ lý vụ án dân sự về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Trần Thị B với ông Nguyễn Quốc V, bà Phạm Thị Đ với nội dung bà B yêu cầu ông V, bà Đ trả cho bà B phần đất theo đo đạc thực tế có diện tích là 2.363,3 m² theo vị trí đo vẽ như đã nêu trên.
Ngày 06 tháng 8 năm 2024, Tòa án nhân dân huyện Cái Nước đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm, tại Bản án dân sự sơ thẩm số 127/2024/DS-ST ngày 06 tháng 8 năm 2024 thể hiện thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm có Hội thẩm nhân dân vẫn là ông Nguyễn Văn M. Như vậy, Hội thẩm nhân dân ông Nguyễn Văn M đã tham gia giải quyết theo thủ tục sơ thẩm vụ án dân sự đó và đã ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án nhưng vẫn tiến hành tố tụng, tham gia Hội đồng xét xử ra bản án sơ thẩm khi thụ lý giải quyết lại vụ án là không đúng quy định.
Xét quá trình giải quyết vụ án cấp sơ thẩm đã vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng đối với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm theo quy định tại khoản 3 Điều 53, khoản 2 Điều 310 của Bộ luật tố tụng dân sự, do đó cấp phúc phẩm không thể khắc phục được.
[3] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 127/2024/DS-ST ngày 06 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, giao hồ sơ vụ án về cho Tòa án nhân dân huyện Cái Nước giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm. Do hủy án sơ thẩm nên không xem xét kháng cáo của bị đơn là ông Nguyễn Quốc V và bà Phạm Thị Đ.
[4] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tại phiên tòa là phù hợp nên được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.
[5] Án phí dân sự sơ thẩm, phúc thẩm: Ông Nguyễn Quốc V và bà Phạm Thị Đ đã được xét miễn tạm ứng án phí và án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 308, khoản 2 Điều 310 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số: 127/2024/DS-ST ngày 06 tháng 8 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Cái Nước. Giao hồ sơ vụ án về Tòa án nhân dân huyện Cái Nước giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
- Án phí dân sự sơ thẩm, phúc thẩm: Bị đơn ông Nguyễn Quốc V và bà Phạm Thị Đ đã được xét miễn tạm ứng án phí và án phí theo quy định.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Châu Minh Hoàng |
6
Bản án số 448/2024/DS-PT ngày 21/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 448/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 21/11/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hủy án sơ thẩm do vi phạm thủ tục tố tụng
