Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 448/2024/DS-PT

Ngày: 20/5/2024

Về việc: “Tranh chấp hợp đồng

chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Quỳnh Châu

Các thẩm phán:

2. Ông Phạm Hồng Giảng

1. Bà Nguyễn Thị Thu

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đình Quyện – Thư ký Tòa án Nhân dân Thành phố

Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa:

Bà Võ Thị Vĩnh Hưng – Kiểm sát viên.

Ngày 20/5/2024 tại trụ sở Tòa án Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 351/2024/DSPT ngày 10 tháng 4 năm 2024, về việc: “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 36/2024/DS-ST ngày 22/01/2024 của Tòa án Nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 2322/2024/QĐPT-DS ngày 25/4/2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Trần Văn B, sinh năm 1993; (có mặt)

    Địa chỉ: Số I N, ấp C, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

  2. Bị đơn: Ông Nguyễn Hoàng P, sinh năm 1960;

    Địa chỉ: Số A, ấp C, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Công Á, sinh năm 1987; (có mặt)

    Địa chỉ: Tổ E, ấp P, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. 3.1 Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1961;

      Địa chỉ: Số A, ấp C, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

      Đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Công Á, sinh năm 1987; (có mặt)

      Địa chỉ: Tổ E, ấp P, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

    2. 3.2 Văn phòng công chứng Nguyễn Tất T;

      Đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị N, chức vụ: Trưởng văn phòng C1;

      Địa chỉ: Số D Tỉnh lộ 8, Ấp C, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

  4. 4. Người làm chứng:
    1. 4.1 Ông Lê Văn R, sinh năm 1965;

      Địa chỉ: Tổ G, ấp C, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

    2. 4.2 Ông Phạm Trung C, sinh năm 1968;

      Địa chỉ: Tổ A, Ấp C, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

    3. 4.3 Ông Nguyễn Minh S, sinh năm 1969;

      Địa chỉ: Tổ C, ấp C, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người kháng cáo: Bị đơn ông Nguyễn Hoàng P.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Theo nội dung Đơn khởi kiện đề ngày 10/3/2023, các đơn khởi kiện bổ sung và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Trần Văn B trình bày:

Vào ngày 26/3/2021, ông có nhận chuyển nhượng của vợ chồng ông Nguyễn Hoàng P, bà Nguyễn Thị H phần đất tại thửa đất số 26, tờ bản đồ số 03 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: A0 487756, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất H00169/14 do Ủy ban Nhân dân huyện C cấp cho ông Nguyễn Hoàng P đứng tên; đất tọa lạc tại xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh với giá 250.000.000 (Hai trăm năm mươi triệu) đồng. Ông nhận chuyển nhượng phần đất này với hình thức công chứng ủy quyền theo Hợp đồng ủy quyền số công chứng: 001089/HĐGD-HĐUQ ngày 26/3/2021 tại Văn phòng C1. Ông cùng ông P đến xem vị trí đất và tiến hành cắm ranh đất nhưng ông không ra chính quyền địa phương xã để nhờ hỗ trợ xem quy hoạch và vị trí thửa đất này. Sau đó, ông đã làm đơn xin gia hạn thời gian sử dụng đất và nộp lên Văn phòng đăng ký đất đai Thành phố H - Chi nhánh huyện C nhưng Văn phòng đăng ký đất đai không cho ông gia hạn thời hạn quyền sử dụng đất mà hướng dẫn ông đo vẽ lại hiện trạng và vị trí thửa đất trên. Khi đo đạc xong và nhận bản vẽ, ông phát hiện vị trí thửa đất trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không đúng với vị trí thửa đất mà ông P đã bàn giao cho ông trước đó. Ông có đến Ủy ban Nhân dân xã T để hỏi thì được hướng dẫn làm Đơn xin trích lục toàn bộ hồ sơ thửa đất trên thì biết được thửa đất mà ông P đã bán cho ông không thuộc quyền sở hữu của ông P. Ông đã yêu cầu ông P hoàn trả lại số tiền mà ông đã nhận chuyển nhượng thửa đất trên nhưng ông P không đồng ý và né tránh trách nhiệm. Nay ông yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau:

  1. 1/ Hủy bỏ Hợp đồng đặt cọc lập ngày 23/3/2021 của thửa đất số 26, tờ bản đồ số 3, diện tích đất là 280,6m², tọa lạc tại xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
  2. 2/ Hủy bỏ Hợp đồng ủy quyền số công chứng 001089/HĐGĐ-HĐUQ lập ngày 26/3/2023 tại Văn phòng C1 giữa ông và vợ chồng ông Nguyễn Hoàng P bà Nguyễn Thị H đối với thửa đất số 26, tờ bản đồ số 3, diện tích đất là 280,6m², tọa lạc tại xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
  3. 3/ Yêu cầu vợ chồng ông P, bà H hoàn trả 250.000.000 (Hai trăm năm mươi triệu) đồng là số tiền mà ông mua thửa đất của ông P và bồi thường thiệt hại số tiền 112.500.000 đồng (1.5%/tháng x 30 tháng x 250.000.000đ) do ông Nguyễn Hoàng P bà Nguyễn Thị H có lỗi làm hợp đồng vô hiệu.

*Bị đơn ông Nguyễn Hoàng P và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H cùng thống nhất trình bày:

Vợ chồng ông P, bà H có chuyển nhượng một phần đất diện tích 280.6m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông P đứng tên cho ông Trần Văn B với giá tiền 250.000.000 đồng. Ông P, bà H chuyển nhượng cho ông B toàn bộ diện tích trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và giao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông B. Sau đó, Ông P, bà H có ra Văn phòng Công chứng Nguyễn Tất T ký hợp đồng ủy quyền thửa đất trên cho ông B. Từ ngày ra công chứng ký hợp đồng ủy quyền ông P, bà H không còn trách nhiệm đối với diện tích đất 280.6m² tại thửa đất số 26, tờ bản đồ số 3, thuộc xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông P, bà H đã nhận đủ số tiền 250.000.000 đồng và giao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của thửa đất cho ông B.

Qua yêu cầu khởi kiện nêu trên của ông Trần Văn B thì Ông P, bà H không đồng ý vì không còn trách nhiệm gì.

*Văn phòng Công chứng Nguyễn Tất T trình bày:

Ngày 26/3/2021, Văn phòng C1 có tiếp nhận yêu cầu công chứng hợp đồng ủy quyền quyền sử dụng đất tại thửa đất số 26, tờ bản đồ số 03, tại xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh với nội dung ủy quyền “ông Nguyễn Hoàng P và vợ là bà Nguyễn Thị H ủy quyền cho ông Trần Văn B đại diện thay mặt mình toàn quyền chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp...” đối với toàn bộ quyền sử dụng đất tại thửa đất nêu trên với thời hạn ủy quyền là 20 (hai mươi) năm. Sau khi thẩm tra hồ sơ, công chứng viên đã thực hiện đúng, đầy đủ quy trình tiếp nhận và giải quyết công chứng hợp đồng như sau:

Tiếp nhận phiếu yêu cầu công chứng, yêu cầu các bên cung cấp giấy tờ về nhân thân, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau khi xem xét kỹ, thấy hồ sơ hợp lệ và đầy đủ các giấy tờ cần thiết theo quy định của pháp luật, công chứng viên chuyển sang bộ phận soạn thảo hợp đồng. Trước khi tiến hành công chứng hợp đồng, công chứng viên đã giải thích toàn bộ nội dung, quyền lợi, nghĩa vụ cũng như trách nhiệm trước pháp luật các bên khi tham gia ký kết hợp đồng này.

Các bên tham gia hợp đồng đã đọc toàn bộ Hợp đồng và đồng ý toàn bộ nội dung hợp đồng. Các bên khẳng định việc giao kết hợp đồng ủy quyền là hoàn toàn tự nguyện, không bị lừa dối, ép buộc.

Trước khi các bên ký vào 03 (ba) bản hợp đồng chính thức, Công chứng viên đã hỏi kỹ các bên một lần nữa và các bên trả lời là đã hiểu rõ nội dung hợp đồng, hiểu rõ quyền lợi, nghĩa vụ cũng như trách nhiệm trước pháp luật của các bên.

Như vậy công chứng viên đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật về công chứng hợp đồng giao dịch, đã tận tình giải thích lại toàn bộ nội dung, quyền lợi, nghĩa vụ cũng như trách nhiệm trước pháp luật các bên khi tham gia ký kết hợp đồng này.

*Người làm chứng ông Nguyễn Minh S trình bày:

Vào ngày 23/3/2021, ông S có chứng kiến ông Nguyễn Hoàng P và bà Nguyễn Thị H có chuyển nhượng đất với ông Trần Văn B. Giao dịch chuyển nhượng đất tại nhà ông P và có đặt cọc 100.000.000 (Một trăm triệu) đồng. Ông S là người chứng kiến, chịu trách nhiệm trong bản tự khai. Có gì sai trái ông S xin chịu trách nhiệm trước pháp luật.

*Người làm chứng ông Lê Văn R trình bày:

Vào khoảng tháng 3/2021, ông R có gặp ông S là người giới thiệu ông R thửa đất và ông P là người chủ sử dụng thửa đất trên. Sau đó, ông R giữ liên lạc với ông S để tiến hành thương lượng. Sau khoảng vài ngày thì ông S gọi cho ông R và thông báo là thửa đất đó bán với giá tiền là 250.000.000 đồng và phải cho riêng ông S 10.000.000 đồng như vậy tổng là 260.000.000 đồng chứ không phải là 250.000.000 đồng như hợp đồng đặt cọc giữa hai bên. Sau khi đặt cọc thì ông P cùng ông R với ông C cắm mốc ranh giới. Chính ông P bàn giao đất cho ông R do công việc của ông B bận rộn nên chỉ ông R với ông C và ông P cắm ranh thửa đất này. Xảy ra tranh chấp, ông R đại diện bên mua làm chứng sự việc trên là đúng sự thật.

*Người làm chứng ông Phạm Trung C trình bày:

Vào khoảng tháng 3 năm 2021, ông C có nhận làm phụ cắm ranh đất cùng với ông P và ông R. Ông R thì mua trụ, ông P thì chỉ góc ranh, còn ông C đào lỗ và cắm trụ. Nay xảy ra sự việc tranh chấp, ông C đứng ra làm chứng cho quyền lợi của các bên. Ông C cam đoan ông C khai đúng sự thật.

* Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 36/2024/DS-ST ngày 22/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên xử:

  1. [1]. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Văn B đối với yêu cầu bị đơn ông Nguyễn Hoàng P và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H bồi thường thiệt hại số tiền 112.500.000 (Một trăm mười hai triệu năm trăm nghìn) đồng.
  2. [2]. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Văn B:
    1. [2.1]. Tuyên bố hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 23/3/2021 giữa ông Nguyễn Hoàng P và ông Trần Văn B đối với quyền sử dụng đất 280,6m² tại thửa đất số 26, thuộc tờ bản đồ số 3; địa chỉ thửa đất: Xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh là vô hiệu;
    2. [2.2]. Tuyên bố hợp đồng ủy quyền số công chứng: 001089, quyển số: 03/2021/TP/CC-SCC/HĐGD lập ngày 26/3/2021 tại Văn phòng C1 giữa vợ chồng ông Nguyễn Hoàng P bà Nguyễn Thị H với ông Trần Văn B đối với quyền sử dụng đất 280,6m² tại thửa đất số 26, thuộc tờ bản đồ số 3; địa chỉ thửa đất: Xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh là vô hiệu;
    3. [2.3]. Buộc vợ chồng ông Nguyễn Hoàng P bà Nguyễn Thị H có nghĩa vụ liên đới trả lại cho ông Trần Văn B số tiền là 250.000.000đ (Hai trăm năm mươi triệu đồng). Thi hành ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
    4. [2.4]. Buộc ông Trần Văn B có nghĩa vụ trả lại cho ông Nguyễn Hoàng P bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: A0 487756, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00169/14 ngày 16/12/2009 do Ủy ban Nhân dân huyện C cấp cho ông Nguyễn Hoàng P đứng tên ngay sau khi vợ chồng ông P bà H trả hết số tiền 250.000.000₫ (Hai trăm năm mươi triệu đồng).
  3. [3]. Về chi phí tố tụng: Buộc bị đơn ông Nguyễn Hoàng P phải hoàn trả cho nguyên đơn ông Trần Văn B số tiền chi phí tố tụng mà ông B đã tạm ứng tổng cộng là 9.586.331đ (Chín triệu năm trăm tám mươi sáu nghìn ba trăm ba mươi mốt đồng). Thi hành ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
  4. [4]. Án phí dân sự sơ thẩm:
    1. [4.1]. Ông Nguyễn Hoàng P và bà Nguyễn Thị H được miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.
    2. [4.2]. Trả lại cho nguyên đơn ông Trần Văn B số tiền tạm ứng án phí là 7.375.000đ (bảy triệu ba trăm bảy mươi lăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2023/0017051 ngày 30/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh;
  5. [5]. Về quyền yêu cầu thi hành án:

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án Dân sự năm 2014 thì người được thi án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án Dân sự năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án Dân sự năm 2014.

    Thi hành tại Chi cục Thi hành án Dân sự có thẩm quyền.

  6. [6]. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

* Ngày 29/01/2024, bị đơn ông Nguyễn Hoàng P có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

* Tại phiên tòa phúc thẩm:

Người khởi kiện không rút đơn khởi kiện, người kháng cáo không rút đơn kháng cáo. Các bên đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

- Nguyên đơn trình bày: Bị đơn chuyển nhượng phần đất đã hết thời hạn Nhà nước cho phép sử dụng đất, hai bên không thể gia hạn, do thời hạn sử dụng đất đã hết nên bị đơn không còn quyền sử dụng đất hợp pháp để chuyển nhượng cho nguyên đơn. Do đó nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả lại số tiền đã nhận cho nguyên đơn là 250 triệu, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

- Đại diện của bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày: Bị đơn và nguyên đơn thỏa thuận chuyển nhượng, nguyên đơn sẽ làm thủ tục gia hạn thời hạn sử dụng đất, hai bên thỏa thuận miệng không có chứng cứ chứng minh vì thời hạn sử dụng đất do Nhà nước cấp cho bị đơn được quyền sử dụng đến năm 2014 là hết hạn sử dụng đất theo quy định. Khi chuyển nhượng hai bên đều biết đất đã hết thời hạn sử dụng đất từ năm 2014 đến nay chưa được gia hạn, số tiền 250 triệu bị đơn đã nhận của nguyên đơn bị đơn dùng để chữa bệnh nên nay không có điều kiện trả lại cho nguyên đơn nên đề nghị không chấp nhận yêu cầu trả lại tiền đã nhận cho nguyên đơn.

- Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:

+ Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến thời điểm Hội đồng xét xử tuyên bố nghị án, Thẩm phán chủ tọa, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Những người tham gia tố tụng đã được thực hiện đúng, đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

+ Về nội dung: Đề nghị hội đồng xét xử phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm, không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa;

- Về thời hạn kháng cáo:

[1] Ngày 22/01/2024, Tòa án Nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm. Ngày 29/01/2024, bị đơn ông Nguyễn Hoàng P có đơn kháng cáo. Căn cứ khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự xác định đơn kháng cáo của bị đơn làm trong thời hạn luật định, là hợp lệ được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.

- Về thủ tục tố tụng:

[2] Nguyên đơn ông Trần Văn B có mặt; Đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Nguyễn Hoàng P và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H là ông Trần Công Á có mặt; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Văn phòng Công chứng Nguyễn Tất T có đơn vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

- Về nội dung:

[3] Xét kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Hoàng P, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định: Căn cứ Hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất viết tay ngày 23/3/2021 (viết tắt hợp đồng chuyển nhượng) (BL 164) do nguyên đơn ông Trần Văn B và bị đơn ông Nguyễn Hồng P1 ký kết ngày 23/3/2021 (không công chứng, chứng thực) thỏa thuận ông P1 sẽ chuyển nhượng cho ông B phần đất có diện tích đất 280,6m² thuộc thửa số 26, tờ bản đồ số 3 tọa lạc tại xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: A0 487756, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00169/14 ngày 16/12/2009 do Ủy ban Nhân dân huyện C cấp cho ông Nguyễn Hoàng P (BL 130), giá chuyển nhượng là 250.000.000 đồng. Các bên thừa nhận tính đến ngày 26/3/2021 tổng cộng ông B đã thanh toán cho ông P toàn bộ số tiền 250.000.000 đồng (trong đó tiền đặt cọc 100.000.000 đồng giao ngày 23/3/2021 và 150.000.000 đồng giao ngày 26/3/2021) nên vợ chồng ông P bà H đã ký Hợp đồng ủy quyền số công chứng: 001089, quyển số: 03/2021/TP/CC-SCC/HĐGD ủy quyền toàn phần cho ông B đối với phần đất chuyển nhượng tại Văn phòng C1.

[4] Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ quy định tại Điều 502 của Bộ luật Dân sự năm 2015 và điểm a khoản 3 Điều 167 của Luật Đất đai năm 2013 quy định về “hình thức, thủ tục thực hiện hợp đồng về quyền sử dụng đất” xác định hợp đồng chuyển nhượng giữa ông B và ông P ngày 23/3/2012 bị vô hiệu do vi phạm hình thức của Hợp đồng theo Điều 119 của Bộ luật Dân sự năm 2015 là đúng và xác định việc ông P, bà H lập Hợp đồng ủy quyền ngày 26/3/2021 nhằm mục đích che giấu việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất nên tuyên Hợp đồng ủy quyền số công chứng: 001089, quyển số: 03/2021/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 26/3/2021 vô hiệu do giả tạo theo quy định tại Điều 124 của Bộ luật Dân sự năm 2015 là có căn cứ được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Căn cứ Điều 4 của hợp đồng chuyển nhượng các bên thỏa thuận “Trường hợp đất đai nằm trong...cấm mua bán mà cả hai bên đều không biết....thì bên a phải hoàn trả lại một lần toàn bộ số tiền mà bên B đã đặt cọc trong vòng 24 giờ kể từ khi phát hiện” đối chiếu với thời hạn sử dụng đất tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: A0 487756, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00169/14 ngày 16/12/2009 do Ủy ban Nhân dân huyện C cấp cho ông Nguyễn Hoàng P thì phần đất chuyển nhượng đã hết hạn sử dụng đất từ năm 2014 cho đến năm 2021 là thời điểm ông P chuyển nhượng đất cho ông B thì ông P chưa được gia hạn thời hạn sử dụng đất theo quy định nên đất thuộc quyền quản lý của Nhà nước nên việc ông P chuyển nhượng đất cho ông B là vi phạm điều cấm, không đúng quy định pháp luật theo quy định tại Điều 123, Điều 128 và Điều 407 Bộ luật Dân sự năm 2005 nên bị vô hiệu, cần buộc phía bị đơn phải hoàn trả lại số tiền 250.000.000 đồng đã nhận cho nguyên đơn theo thỏa thuận nói trên là có căn cứ. Vì vậy, không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Hoàng P về việc không hoàn trả lại cho nguyên đơn số tiền 250.000.000 đồng đã nhận, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[6] Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm là có cơ sở, được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.

[7] Án phí phúc thẩm: Do giữ nguyên bản án sơ thẩm nên bị đơn phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, nhưng bị đơn thuộc trường hợp người cao tuổi theo quy định tại Điều 2 của Luật Người cao tuổi và Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án nên được miễn nộp án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016.

Tuyên xử:

  1. 1. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Hoàng P; Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 36/2024/DS-ST ngày 22/01/2024 của Tòa án Nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” giữa nguyên đơn ông Trần Văn B và bị đơn ông Nguyễn Hoàng P;
  2. 2. Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Hoàng P được miễn án phí dân sự phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân Tối cao;
  • - TAND Cấp cao tại TP.HCM;
  • - VKSND TP. HCM;
  • - TAND huyện Củ Chi;
  • - Chi cục THADS huyện Củ Chi;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Quỳnh Châu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 448/2024/DS-PT ngày 20/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 448/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 20/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Hoàng P; Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 36/2024/DS-ST ngày 22/01/2024 của Tòa án Nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” giữa nguyên đơn ông Trần Văn B và bị đơn ông Nguyễn Hoàng P
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger