Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 448/2025/DS-PT

Ngày: 30 - 12 - 2025

Về việc: Chia thừa kế, chia tài sản

thuộc sở hữu chung.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thanh
Các Thẩm phán: Bà Lê Thị VânÔng Nguyễn Thành Tâm

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Duy Nhàn – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng: Bà Nguyễn Thị Thanh Hương - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 30 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 484/2025/TLDS-PT ngày 24 tháng 11 năm 2025 về việc “Chia thừa kế, chia tài sản thuộc sở hữu chung”.

Do Bản án Dân sự sơ thẩm số: 72/2025/DS-ST ngày 24/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Lâm Đồng bị kháng nghị.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 620/2025/QĐ-PT ngày 01 tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Lương Văn Q, sinh năm: 1974.

Địa chỉ liên hệ: Số D Quốc lộ A, phường H, Thành phố T (Nay là phường H), Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Lê Thị Thủy T, sinh năm: 1981. Địa chỉ: Số D Quốc lộ A, phường H, Thành phố T (Nay là phường H), Thành phố Hồ Chí Minh (Theo Hợp đồng uỷ quyền lập ngày 14/8/2025) – Có mặt.

2. Bị đơn:

  • - Ông Lương C, sinh năm: 1947;
  • - Bà Lương Thị H, sinh năm: 1951;
  • - Bà Lương Thị Ngọc L, sinh năm: 1958;
  • - Bà Lương Thị Thảo Q1, sinh năm: 1977.

Cùng địa chỉ: Số A C (số mới là 39), phường I, thành phố Đ (nay là phường L - Đ), tỉnh Lâm Đồng.

Người đại diện theo ủy quyền: ông Nguyễn Văn T1, sinh năm: 1992. Địa chỉ liên hệ: Số A T, phường D, thành phố Đ (Theo văn bản ủy quyền lập ngày 21/5/2024; Hợp đồng ủy quyền do T6 tại S - Úc chứng ngày 17/7/2024 và Văn phòng C1 công chứng ngày 05/8/2024) – Có mặt.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Văn phòng C2 (Nay là Văn phòng C1).

Địa chỉ: Số E T, phường D, thành phố Đ (Nay là phường X - Đ), Lâm Đồng – Vắng mặt.

Do có kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn ông Lương Văn Q và người đại diện theo ủy quyền trình bày: Nguồn gốc tài sản thuộc sở hữu chung theo phần:

Ngày 11/9/2012, các anh em trong gia đình gồm: Ông Lương Q3, ông Lương C, bà Lương Thị H, bà Lương Thị Ngọc L đã ra Văn phòng công chứng mở thừa kế và đến ngày 01/10/2012, GCNQSDĐ số AB 373277 đã được cập nhật, điều chỉnh từ tên của bà Lê Thị T2 (đã chết) và ông Lương T3 (đã chết) thừa kế cho ông Lương Q3, ông Lương C, bà Lương Thị H, bà Lương Thị Ngọc L đối với quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất (căn nhà 01 triệt, 02 lầu 01 áp mái) có diện tích 115,36m² đất ở đô thị thuộc thửa 108, tờ bản đồ số 12 tọa lạc tại số A C, phường I, Thành phố Đ (nay là số C C, phường L - Đ), tỉnh Lâm Đồng được UBND thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng cấp GCNQSDĐ ở số AB373277 ngày 06/10/2005 (cập nhật tại trang 4 vào ngày 01/10/2012 sang tên cho các ông, bà Lương Q3, Lương C, Lương Thị H, Lương Thị Ngọc L theo văn bản phân chia tài sản thừa kế lập ngày 11/9/2012).

- Quan hệ nhân thân của ông Lương Q3:

Ông Lương T3 chết ngày 09/03/2000 và bà Lê Thị T2 chết ngày 14/08/2009 là cha mẹ ruột của ông Lương Q3;

Ông Q3 có vợ là bà Nguyễn Thị T4, đã ly hôn ngày 06/03/1981 số: 27/SL-TA sao lục tại Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng ngày 27/06/2023.

Kể từ thời điểm ly hôn đến ngày 01/01/2019, ông Q3 không tái hôn với ai.

Ông Q3 và bà T4 có 02 người con chung là Lương Văn Q và Lương Thị Thảo Q1.

Ông Q3 không có con nuôi, con riêng .

- Thời điểm mở thừa kế:

Ông Lương Q3, sinh năm 1943, chết ngày 01/01/2019.

Trước khi chết, Ông Quảng chết có lập di chúc có nội dung: để lại ¼ (một phần tư) phần quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo GCNQSDĐ số AB 373277 do U cấp ngày 06/10/2005, điều chỉnh thừa kế ngày 1/10/2012 cho ông Lương Q3 đứng tên đồng sở hữu chung theo phần với ông Lương C, bà Lương Thị H, bà Lương Thị Ngọc L. Thửa đất số 108 tờ bản đồ số 12 (nay đổi thành tờ bản đồ số 09) tọa lạc: tại số A C, phường I, Tp Đ (nay là số C C, phường L - Đ), tỉnh Lâm Đồng. Và để lại cho 2 người con của ông là ông Lương Văn Q và bà Lương Thị Thảo Q1 (di chúc lập tại Văn phòng C2 ngày 26/09/2013). Là Người thừa kế quyền sở hữu chung của người để lại di sản.

Như vậy, căn cứ di chúc do ông Lương Quảng L1 tại Văn phòng C2 ngày 26/09/2013 thì ông Lương Văn Q và em gái là bà Lương Thị Thảo Q1 được hưởng phần di sản của ông Q3 để lại cũng là đồng sở hữu chung theo phần với ông C, bà H và bà L là căn nhà số A C, phường I, Tp Đ (nay là số C C, phường L - Đ), tỉnh Lâm Đồng.

- Về việc xác định giá trị tài sản tranh chấp: ông Q đề nghị Toà án lấy trung bình quân của 02 lần thẩm định giá (tại Chứng thư thẩm định giá số: 063/2024/029-BĐS ngày 17/09/2024 của Công ty TNHH MTV Đ1 và thẩm định giá Bảo T5 và Chứng thư thẩm định giá số: 088/2025/51 ngày 18/7/2025 của Công ty TNHH MTV Đ1 và thẩm định giá Năm thành viên) để làm cơ sở giải quyết vụ án, cụ thể: (22.774.950.000đ + 18.456.615.000đ) ÷ 2 = 20.615.782.500₫ (Hai mươi tỷ, sáu trăm mươi lăm triệu, bảy trăm tám mươi hai nghìn, năm trăm đồng).

Nay, ông Lương Văn Q khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:

  • - Công nhận di chúc của ông Lương Q3 được Văn phòng C2 công chứng ngày 26/9/2013;
  • - Chia tài sản thuộc sở hữu chung và chia di sản thừa kế của ông Lương Q3 là một phần quyền sử dụng đất và tài sản (căn nhà 01 trệt, 02 lầu, 01 áp mái) có trên diện tích 115,36m² đất ở đô thị thuộc thửa 108 TBĐ 12 tọa lạc tại số S C, phường I, Tp Đ (nay là số C C, phường L - Đ), tỉnh Lâm Đồng được UBND thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng cấp GCNQSDĐ số AB 373277 ngày 06/10/2005 (cập nhật tại trang 4 vào ngày 01/10/2012 sang tên cho các ông bà Lương Q3, L, Lương Thị H, Lương Thị Ngọc L do nhận thừa kế) theo hướng:
  • + Giao nhà đất trên cho các ông bà Lương C, Lương Thị H, Lương Thị Ngọc L, Lương Thị Thảo Q2;
  • + Các ông bà Lương C, Lương Thị H, Lương Thị Ngọc L, Lương Thị Thảo Q1 có trách nhiệm thanh toán lại cho ông Q phần di sản của ông Lương Quảng Đ lại tương ứng 1/8 giá trị nhà đất tranh chấp theo trung bình quân giá của 02 chứng thư thẩm định giá là: 20.615.782.500₫ ÷ 8 = 2.576.972.812đ (Hai tỷ, năm trăm bảy mươi sáu triệu, chin trăm bảy mươi hai triệu, tám trăm mười hai triệu đồng).

Người đại diện hợp pháp cho các bị đơn trình bày thì:

Ông Lương C, bà Lương Thị H và bà Lương Thị Ngọc L là con ruột của ông bà Lương T3 – đồng sở hữu ngôi nhà số C đường C phường I, TP Đ. (Trừ ông Lương Q đã được thừa kế riêng-37 C). Ngôi nhà này hiện là nhà từ đường của gia đình, do gia đình bà Lương Thị H đã và đang quản lý.

- Nguồn gốc tài sản tranh chấp: Ngày 11/9/2012, các anh em trong gia đình gồm: Ông Lương Q3, ông Lương C, bà Lương Thị H, bà Lương Thị Ngọc L đã ra văn phòng công chứng mở thừa kế và đến ngày 01/10/2012, GCNQSDĐ số AB 373277 đã được cập nhật, điều chỉnh từ tên của bà Lê Thị T2 (đã chết) và ông Lương T3 (đã chết) thừa kế cho ông Lương Q3, ông Lương C, bà Lương Thị H, bà Lương Thị Ngọc L đối với quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất (căn nhà 01 triệt, 02 lầu 01 áp mái) có diện tích 115,36m² đất ở đô thị thuộc thửa 108, tờ bản đồ số 12 tọa lạc tại số A C, phường I, Tp Đ (nay là số C C, phường L - Đ), tỉnh Lâm Đồng được U, tỉnh Lâm Đồng cấp GCNQSDĐ ở số AB 373277 ngày 06/10/2005 (cập nhật tại trang 4 vào ngày 01/10/2012 sang tên cho các ông, bà Lương Q3, Lương C, Lương Thị H, Lương Thị Ngọc L do nhận thừa kế).

- Quan hệ nhân thân của ông Lương Q3:

Ông Lương T3 chết ngày 09/03/2000 và bà Lê Thị T2 chết ngày 14/08/2009 là cha mẹ ruột của ông Lương Q3;

Ông Q3 có vợ là bà Nguyễn Thị T4, đã ly hôn ngày 06/03/1981 số: 27/SL-TA sao lục tại Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng ngày 27/06/2023.

Kể từ thời điểm ly hôn đến ngày 01/01/2019, ông Q3 không tái hôn với ai.

Ông Q3 và bà T4 có 02 người con chung là Lương Văn Q và Lương Thị Thảo Q1. Ông Q3 không có con nuôi, con riêng.

- Thời điểm mở thừa kế:

Ông Lương Q3, sinh năm 1943, chết ngày 01/01/2019.

Trước khi chết, Ông Quảng chết có lập di chúc có nội dung: để lại ¼ (một phần tư) phần quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo GCNQSDĐ số AB 373277 do U cấp ngày 06/10/2005, điều chỉnh thừa kế ngày 1/10/2012 cho ông Lương Q3 đứng tên đồng sở hữu chung theo phần với ông Lương C, bà Lương Thị H, bà Lương Thị Ngọc L. Thửa đất số 108 tờ bản đồ số 12 (nay đổi thành tờ bản đồ số 09) tọa lạc: tại số A C, phường I, Tp Đ (nay là số C C, phường L - Đ), tỉnh Lâm Đồng. Và để lại cho 2 người con của ông là ông Lương Văn Q và bà Lương Thị Thảo Q1 (di chúc lập tại Văn phòng C2 ngày 26/09/2013). Là Người thừa kế quyền sở hữu chung của người để lại di sản.

Như vậy, căn cứ di chúc do ông Lương Quảng L1 tại Văn phòng C2 ngày 26/09/2013 thì ông Lương Văn Q và em gái là bà Lương Thị Thảo Q1 được hưởng phần di sản của ông Q3 để lại cũng là đồng sở hữu chung theo phần với ông C, bà H và bà L là căn nhà số A C, phường I, Tp Đ (nay là số C C, phường L - Đ), tỉnh Lâm Đồng.

- Về việc xác định giá trị tài sản tranh chấp: Bị đơn thống nhất với chứng thư thẩm định giá số 088/2025/51 ngày 18/7/2025 của Công ty TNHH MTV Đ1 và thẩm định giá Năm thành viên là 18.456.614.682đ hoặc giá thị trường của Tài sản mà người mua đề ra là 19.000.000.000đ (Mười chín tỷ đồng).

Ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của ông Lương Văn Q:

Bị đơn thống nhất về yêu cầu Công nhận di chúc của ông Lương Q3 được Văn phòng C2 công chứng ngày 26/9/2013; Chia tài sản thuộc sở hữu chung và chia di sản thừa kế của ông Lương Q3 là một phần quyền sử dụng đất và tài sản (căn nhà 01 trệt, 02 lầu, 01 áp mái) có trên diện tích 115,36m² đất ở đô thị thuộc thửa 108 TBĐ 12 tọa lạc tại số A C, phường I, Tp Đ (nay là số C C, phường L - Đ), tỉnh Lâm Đồng cấp GCNQSDĐ số AB 373277 ngày 06/10/2005 (cập nhật tại trang 4 vào ngày 01/10/2012 sang tên cho các ông bà Lương Q3, L, Lương Thị H, Lương Thị Ngọc L do nhận thừa kế) theo hướng:

  • + Giao nhà đất trên cho các ông bà Lương C, Lương Thị H, Lương Thị Ngọc L, Lương Thị Thảo Q1;
  • + Các ông bà Lương C, Lương Thị H, Lương Thị Ngọc L, Lương Thị Thảo Q1 có trách nhiệm thanh toán lại cho ông phần di sản của ông Lương Quảng Đ lại tương ứng 1/8 giá trị nhà đất nói trên theo kết quả thẩm định giá tại chứng thư thẩm định giá số: 088/2025/51 ngày 18/7/2025 của Công ty TNHH MTV Đ1 và thẩm định giá Năm thành viên là 18.456.614.682đ hoặc giá thị trường của Tài sản mà người mua đề ra là 19.000.000.000đ (Mười chín tỷ đồng)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – Văn phòng C2 (nay là Văn phòng C1) trình bày:

Ngày 26/3/2013, Văn phòng C2 chứng nhận di chúc của ông Lương Văn Q3 số công chứng 2598, quyển số: 06TP/CC-SCC/HĐGD; Nội dung: ông Lương Văn Q3 lập di chúc để lại tài sản là phần quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại số A C, phường I, thành phố Đ (thửa đất 108 TBĐ số 09 theo GCN QSD đất số AB 373277 số vào sổ cấp GCNQSDĐ H 00268) cho ông Lương Văn Q, bà Lương Thị Thảo Q1.

Di chúc nêu trên được chứng nhận đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật.

Nay ông Lương Văn Q khởi kiện tranh chấp liên quan đến di chúc Văn phòng C2 đã chứng nhận, đề nghị Toà án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng không được.

Tại Bản án Dân sự sơ thẩm số: 72/2025/DS-ST ngày 24/9/2025 của Toà án nhân dân khu vực 1 – Lâm Đồng đã xử:

  1. Công nhận di chúc của ông Lương Quảng L1 ngày 26/9/2013 tại Văn phòng C2 (số C, quyển số 06TP/CC-SCC/HĐGD);
  2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lương Văn Q đối với bị đơn các ông bà Lương C, Lương Thị H, Lương Thị Ngọc L, Lương Thị Thảo Q1 về việc chia tài sản thuộc sở hữu chung và chia di sản thừa kế của ông Lương Q3 là một phần quyền sử dụng đất và tài sản (căn nhà 01 trệt, 02 lầu, 01 áp mái) có trên diện tích 115,36m² đất ở đô thị thuộc thửa 108 TBĐ 12 tọa lạc tại số A C, phường I, Tp Đ (nay là số C C, phường L - Đ), tỉnh Lâm Đồng được UBND thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng cấp GCN QSD đất số AB 373277 ngày 06/10/2005 (cập nhật tại trang 4 vào ngày 01/10/2012 sang tên cho các ông bà Lương Q3, L, Lương Thị H, Lương Thị Ngọc L do nhận thừa kế), cụ thể:
    • - Giao nhà đất thuộc thửa 108 TBĐ 12 tọa lạc tại số A C, phường I, Tp Đ (nay là số C C, phường L - Đ), tỉnh Lâm Đồng được UBND thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng cấp GCN QSD đất số AB 373277 ngày 06/10/2005 cho các ông bà Lương C, Lương Thị H, Lương Thị Ngọc L, Lương Thị Thảo Q1;
    • - Ông Lương C, bà Lương Thị H, bà Lương Thị Ngọc L và bà Lương Thị Thảo Q1 có trách nhiệm liên đới thanh toán lại cho ông Lương Văn Q kỷ phần thừa kế theo di chúc của ông Lương Q3 với số tiền là 2.375.000.000₫ (Hai tỷ, ba trăm bảy mươi lăm triệu đồng)
    • - Các ông/bà Lương Cai, Lương Thị H, Lương Thị Ngọc L, Lương Thị Thảo Q1 được quyền liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để được cấp nhật sang tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

Căn cứ Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự, kể từ ngày bên được thi hành án dân sự có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong khoản tiền phải trả, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu thêm khoản tiền lãi trên số tiền chưa thi hành án.

2. Về chi phí tố tụng:

  • - Ông Lương Văn Q phải chịu chi phí tố tụng với số tiền là 10.810.225₫ (Mười triệu, tám trăm mười nghìn, hai trăm hai mươi lăm đồng), ông Q đã nộp đủ;
  • - Các ông/bà L, Lương Thị H, Lương Thị Ngọc L, Lương Thị Thảo Q1 phải chịu chi phí tố tụng với số tiền là 75.671.574đ (Bảy mươi lăm triệu, sáu trăm bảy mươi mốt nghìn, năm trăm bảy mươi bốn đồng).
  • Các ông/bà L, Lương Thị H, Lương Thị Ngọc L, Lương Thị Thảo Q1 có trách nhiệm hoàn trả cho ông Lương Văn Q số tiền chi phí tố tụng nguyên đơn đã tạm nộp trong quá trình giải quyết vụ án là 65.171.574₫ (Sáu mươi lăm triệu, một trăm bảy mươi mốt nghìn, năm trăm bảy mươi bốn đồng)

3. Về án phí:

  • - Nguyên đơn ông Lương Văn Q phải chịu 79.500.000₫ (Bảy mươi chín triệu, năm tram nghìn đồng) án phí DSST có giá ngạch, được trừ vào số tiền 36.000.000₫ (Ba mươi sáu triệu đồng) đã nộp theo biên lại thu số 0000521 ngày 14/3/2024 của Chi cục Thị hành án dân sự thành phố Đ, ông Q còn phải nộp 43.500.000₫ (Bốn mươi ba triệu năm trăm nghìn đồng) án phí DSST.
  • - Bị đơn Ông Lương C, Lương Thị H, Lương Thị Ngọc L, Lương Thị Thảo Q1 không phải chịu án phí DSST.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về quyền kháng cáo và trách nhiệm thi hành của các đương sự.

Ngày 23/10/2025, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân tỉnh Lâm Đồng ban hành Quyết định kháng nghị số: 05/QĐ-VKS-DS kháng nghị phúc thẩm một phần Bản án dân sự sơ thẩm số: 72/2025/DS-ST ngày 24/9/2025 của Toà án nhân dân khu vực 1 – Lâm Đồng. Đề nghị cấp phúc thẩm căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa bản án sơ thẩm về cách tuyên của bản án sơ thẩm và buộc bà Lương Thị Thảo Q1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm với số tiền là 79.500.000₫.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng giữ nguyên quyết định kháng nghị.

Nguyên đơn, bị đơn không kháng cáo và đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng nêu ý kiến về việc chấp hành pháp luật của Hội đồng xét xử: Từ khi thụ lý vụ án tới thời điểm này Thẩm phán đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử phúc thẩm và Thư ký đã thực hiện đúng quy định về phiên tòa phúc thẩm; các đương sự đã thực hiện đúng quy định về quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đồng thời nêu quan điểm đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân tỉnh Lâm Đồng và căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự sửa bản án sơ thẩm về cách tuyên và về phần án phí.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về quan hệ tranh chấp: Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp giữa các bên là “Chia thừa kế, chia tài sản thuộc sở hữu chung” là có căn cứ và đúng pháp luật.

[2] Xét kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng thì thấy rằng: Quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng thực hiện đúng về hình thức, nội dung và thời hạn theo quy định tại các Điều 278, Điều 279, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự nên đủ điều kiện để Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

[3] Về nội dung kháng nghị:

[3.1] Nguyên đơn ông Lương Văn Q khởi kiện yêu cầu Tòa án chia di sản thừa kế của ông Lương Q3, đồng thời chia tài sản thuộc sở hữu chung là nhà, đất tại số C C, phường L - Đ, tỉnh Lâm Đồng. Tất cả các bị đơn ông Lương C, bà Lương Thị H, bà Lương Thị Ngọc L, bà Lương Thị Thảo Q1 đều đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là công nhận di chúc do ông Lương Quảng L1 ngày 26/9/2013 tại Văn phòng C2 và thống nhất cùng nhận di sản thừa kế bằng hiện vật và cùng có trách nhiệm thanh toán bằng giá trị phần di sản thừa kế cho ông Lương Văn Q được nhận.

Theo nội dung di chúc, ông Lương Q3 để lại cho ông Lương Văn Q và bà Lương Thị Thảo Q1 mỗi người được hưởng ½ phần tài sản mà ông được hưởng trong khối tài sản chung (½ giá trị toàn bộ nhà, đất). Như vậy, thông qua việc ông Q khởi kiện công nhận di chúc của ông Q3 thì bà Q1 cũng đã được chia ½ di sản thừa kế của ông Q3 để lại và đã thống nhất phân chia di sản thừa kế, nhận bằng hiện vật chung với phần thuộc sở hữu chung với các đồng sở hữu là ông C, bà H, bà L.

Bản án sơ thẩm cũng đã tuyên: “Giao nhà đất thuộc thửa 108 TBĐ 12 tọa lạc tại số A C, phường I, TP Đ (nay là số C C. phường L - Đ), tỉnh Lâm Đồng cho các ông bà Lương C, Lương Thị H, Lương Thị Ngọc L, Lương Thị Thảo Q1... Các ông/bà L, Lương Thị H, Lương Thị Ngọc L, Lương Thị Thảo Q1 được quyền liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để được cập nhật sang tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật”.

Như vậy, phần di sản thừa kế của ông Lương Q3 đã được giải quyết xong cho ông nguyên đơn là ông Q được nhận bằng giá trị, bà Q1 được nhận bằng hiện vật, phần di sản thừa kế đã chuyển thành tài sản thuộc sở hữu chung của các bị đơn, không còn là di sản thừa kế chưa được phân chia nữa.

Theo quy định tại điểm a khoản 7 Điều 27 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: “Khi các bên đương sự không xác định được phần tài sản của mình hoặc mỗi người xác định phần tài sản của mình trong khối tài sản chung, phần di sản của mình trong khối di sản thừa kế là khác nhau và có một trong các bên yêu cầu Tòa án giải quyết chia tài sản chung, di sản thừa kế đó thì mỗi bên đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo mức tương ứng với giá trị phần tài sản mà họ được chia, được hưởng trong khối tài sản chung hoặc trong khối di sản thừa kế...”

Bản thân bà Lương Thị Thảo Q1 là người được hưởng di sản thừa kế của ông Lương Quảng Đ lại như ông Lương Văn Q nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch tương ứng với giá trị tài sản được chia giống như ông Lương Văn Q.

Việc Tòa án cấp sơ thẩm nhận định cho rằng các ông, bà Lương C, Lương Thị H, Lương Thị Ngọc L, Lương Thị Thảo Q1 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm vì “Không xác định phần giá trị tài sản của từng người” để không buộc bà Q1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là không đúng quy định của pháp luật.

[3.2] Ngoài ra, việc ông Q khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết trong vụ án này là: Công nhận di chúc của ông Lương Quảng L1 ngày 26/9/2013 tại Văn phòng C2; Chia tài sản thuộc sở hữu chung và chia di sản thừa kế của ông Lương Quảng Đ lại là phần ¼ giá trị nhà, đất thuộc GCNQSDĐ số AB 373277. Do đó, trước tiên bản án phải tuyên xử: 1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về nội dung mà nguyên đơn đã yêu cầu Tòa án giải quyết, nhưng bản án sơ thẩm lại tuyên xử: “1/ Công nhận di chúc của ông Lương Quảng L1 ngày 26/9/2013 tại Văn phòng C2. Rồi mới đến “2/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ...”, là chưa đúng với mẫu số 52-DS ban hành kèm theo Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP NG ngày 13/01/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về mẫu bản án, quyết định trong tố tụng dân sự.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Lương Văn Q và bà Lương Thị Thảo Q1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[5] Từ những phân tích trên cần chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân tỉnh Lâm Đồng và căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự sửa bản án sơ thẩm về cách tuyên và phần án phí dân sự sơ thẩm như đã phân tích trên là có căn cứ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng phí, án phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân tỉnh Lâm Đồng.

Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số: 72/2025/DS-ST ngày 24/9/2025 của Toà án nhân dân khu vực 1 – Lâm Đồng.

Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lương Văn Q về việc chia tài sản thuộc sở hữu chung và chia di sản thừa kế của ông Lương Q3, đối với bị đơn các ông bà Lương C, Lương Thị H, Lương Thị Ngọc L, Lương Thị Thảo Q1.
  2. Công nhận di chúc của ông Lương Quảng L1 ngày 26/9/2013 tại Văn phòng C2 (số C, quyển số 06TP/CC-SCC/HĐGD).
  3. Xác định quyền sử dụng đất và tài sản (căn nhà 01 trệt, 02 lầu, 01 áp mái) trên diện tích 115,36m² đất ở đô thị thuộc thửa 108 tờ bản đồ 12 tọa lạc tại số A C, phường I, thành phố Đ (nay là số C C, phường L - Đ), tỉnh Lâm Đồng được UBND thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB 373277 ngày 06/10/2005 (cập nhật tại trang 4 vào ngày 01/10/2012 sang tên cho các ông bà Lương Q3, L, Lương Thị H, Lương Thị Ngọc L do nhận thừa kế), là di sản thừa kế của cụ Lương Q3.
    1. Giao nhà đất thuộc thửa 108 tờ bản đồ 12 tọa lạc tại số A C, phường I, Tp Đ (nay là số C C, phường L - Đ), tỉnh Lâm Đồng được UBND thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB 373277 ngày 06/10/2005 cho các ông bà Lương C, Lương Thị H, Lương Thị Ngọc L, Lương Thị Thảo Q1 được quản lý sử dụng.
    2. Ông Lương C, bà Lương Thị H, bà Lương Thị Ngọc L và bà Lương Thị Thảo Q1 có trách nhiệm liên đới thanh toán cho ông Lương Văn Q kỷ phần thừa kế theo di chúc của ông Lương Q3 với số tiền là 2.375.000.000₫ (Hai tỷ, ba trăm bảy mươi lăm triệu đồng).

Các ông/bà L, Lương Thị H, Lương Thị Ngọc L, Lương Thị Thảo Q1 được quyền liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để được cấp nhật sang tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

4. Về chi phí tố tụng:

  • - Ông Lương Văn Q phải chịu chi phí tố tụng với số tiền là 10.810.225₫ (Mười triệu, tám trăm mười nghìn, hai trăm hai mươi lăm đồng), ông Q đã nộp đủ.
  • - Các ông/bà L, Lương Thị H, Lương Thị Ngọc L, Lương Thị Thảo Q1 phải chịu chi phí tố tụng với số tiền là 75.671.574₫ (Bảy mươi lăm triệu, sáu trăm bảy mươi mốt nghìn, năm trăm bảy mươi bốn đồng).
  • Các ông/bà L, Lương Thị H, Lương Thị Ngọc L, Lương Thị Thảo Q1 có trách nhiệm hoàn trả cho ông Lương Văn Q số tiền chi phí tố tụng nguyên đơn đã tạm nộp trong quá trình giải quyết vụ án là 65.171.574₫ (Sáu mươi lăm triệu, một trăm bảy mươi mốt nghìn, năm trăm bảy mươi bốn đồng).

5. Về án phí:

  1. Nguyên đơn ông Lương Văn Q phải chịu 79.500.000đ (Bảy mươi chín triệu, năm trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền 36.000.000₫ (Ba mươi sáu triệu đồng) đã nộp theo biên lại thu số 0000521 ngày 14/3/2024 của Chi cục Thị hành án dân sự thành phố Đ (Nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 1 – Lâm Đồng), ông Q còn phải nộp 43.500.000₫ (Bốn mươi ba triệu năm trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
  2. Bà Lương Thị Thảo Q1 phải chịu 79.500.000đ (Bảy mươi chín triệu, năm trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án Dân sự.

Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 448/2025/DS-PT ngày 30/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG về chia thừa kế, chia tài sản thuộc sở hữu chung.

  • Số bản án: 448/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Chia thừa kế, chia tài sản thuộc sở hữu chung.
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 30/12/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân tỉnh Lâm Đồng, sửa Bản án dân sự sơ thẩm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger