Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MÊ LINH-TP . HÀ NỘI

----------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập-Tự do-Hạnh phúc

--------------------

Bản án số: 448/2024/HNGĐ-ST

Ngày 27/11/2024

V/v ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH-THÀNH PHỐ HÀ NỘI

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Khánh

Bà Dương Thị Kim Lan

-Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hồng Hạnh-Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Mê Linh.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội: Bà Nguyễn Thị Hương Mai-Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 27 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số 375/2024/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2024 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 150/2024/QĐXX-ST ngày 21 tháng 10 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1987

    Địa chỉ: Thôn B, xã X, huyện S, Hà Nội.

  2. Bị đơn: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1991

    Địa chỉ: Tổ I, thị trấn Q, huyện M, Hà Nội.

Có mặt anh H, vắng mặt chị L.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện đề ngày 20/9/2024 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn là anh Nguyễn Văn H trình bày:

-Về hôn nhân: Anh và chị Nguyễn Thị L đăng ký kết hôn ngày 24/5/2023 tại UBND xã X, huyện S, Hà Nội. Sau khi cưới chị L về gia đình anh làm dâu, vợ chồng ở chung cùng với gia đình anh. Quá trình chung sống vợ chồng sống hạnh phúc được thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau, luôn bất đồng quan điểm, mỗi lần vợ chồng xảy ra mâu thuẫn chị L lại bỏ nhà đi. Gia đình hai bên cũng như bản thân hai vợ chồng đều cố gắng hàn gắn nhưng quan hệ vợ chồng không thay đổi. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 10/2023 đến nay, không ai quan tâm đến ai. Nay anh xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, anh đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn.

-Về con chung: Vợ chồng không có con chung. Ly hôn anh không đề nghị Tòa án giải quyết.

-Về tài sản, công sức, nợ và đất sản xuất nông nghiệp: Anh không đề nghị Tòa án giải quyết.

Bị đơn là chị Nguyễn Thị L: Quá trình điều tra, Tòa án đã báo gọi nhiều lần nhưng chị L không đến Tòa làm việc. Tòa án đi xác minh tại nơi chị L cư trú được bà Nguyễn Thị N là mẹ đẻ chị L cho biết: Chị L và anh H kết hôn năm 2023, có đăng ký kết hôn tại UBND xã X, huyện S, Hà Nội. Sau khi cưới chị L về gia đình anh H làm dâu. Vợ chồng chung sống với nhau được thời gian ngắn thì chị L về gia đình bà ở. Bà có hỏi chị L thì chị L nói do vợ chồng không hợp nhau nên không thể tiếp tục chung sống. Vợ chồng anh chị sống ly thân từ tháng 10/2023 đến nay. Nay anh H có đơn xin ly hôn chị L, quan điểm của bà đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật. Về con chung: anh H và chị L không có con chung.

Toàn bộ các giấy tờ, Tòa án tống đạt cho chị L bà nhận thay và có trách nhiệm giao cho chị L.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

-Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Hội đồng xét xử và nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

-Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình. Xử:

  • +Về hôn nhân: Cho anh Nguyễn Văn H được ly hôn chị Nguyễn Thị L.
  • +Về con chung: Không có
  • +Về tài sản, công sức, nợ và đất sản xuất nông nghiệp: Không đặt ra xem xét, giải quyết.
  • +Về án phí: Anh H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, Tòa án nhân dân huyện Mê Linh nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

-Về sự vắng mặt của bị đơn: Quá trình điều tra Tòa án đã tống đạt hợp lệ 2 lần cho chị L nhưng tại phiên tòa hôm nay, chị L vắng mặt không rõ lý do nên căn cứ khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn.

[1] Về quan hệ hôn nhân:

Anh Nguyễn Văn H và chị Nguyễn Thị L kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 24/5/2023 tại UBND xã X, huyện S, Hà Nội. Do vậy, cuộc hôn nhân của anh chị là hợp pháp.

Quá trình chung sống vợ chồng sống hạnh phúc được thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do trong cuộc sống vợ chồng sống không có sự tin tưởng lẫn nhau, thiếu sự quan tâm chia sẻ với nhau. Tại phiên tòa anh H xác định tình cảm vợ chồng không còn, anh đề nghị được ly hôn. Đối với chị L quá trình điều tra Tòa án đã báo gọi nhiều lần nhưng chị L không đến Tòa án làm việc. Tòa án về địa phương nơi chị L cư trú cũng không gặp được chị L nên không điều tra được về phía chị L. Tuy nhiên Tòa án đã xác minh tại gia đình chị L cũng như chính quyền địa phương nơi anh, chị cư trú được biết vợ chồng anh chị chung sống với nhau cũng đã xảy ra mâu thuẫn, hiện chị L đã về nhà mẹ đẻ ở và vợ chồng sống ly thân từ tháng 10/2023 đến nay, không ai quan tâm đến ai. Như vậy, có thể thấy hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Tòa án thấy có căn cứ chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh H, cho anh được ly hôn chị L là phù hợp với quy định tại Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình.

[2] Về con chung:

Vợ chồng anh chị chung sống với nhau không có con chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

[3] Về tài sản, công sức, nợ và đất sản xuất nông nghiệp: Anh H không đề nghị giải quyết nên Tòa án không đặt ra xem xét, giải quyết.

[4] Về án phí: Anh H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 28,35, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ các Điều 51,56 Luật hôn nhân và gia đình.

Căn cứ các Điều 146, 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Về hôn nhân: Cho anh Nguyễn Văn H được ly hôn chị Nguyễn Thị L.
  2. Về con chung: Không có.
  3. Về tài sản, công sức, nợ và đất sản xuất nông nghiệp: Không đặt ra xem xét, giải quyết.
  4. Về án phí: Anh H phải nộp 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm, anh được trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mê Linh theo Biên lai số 0008993 ngày 10/10/2024.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, anh H được quyền kháng cáo. Chị L vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự./.

Nơi nhận:

  • -TAHN
  • -VKSNDH Mê Linh.
  • -Chi cục THADS H. Mê Linh.
  • -UBND xã Xuân Giang.
  • -Các đương sự.
  • -Lưu HS, VP

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Thu Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 448/2024/HNGĐ-ST ngày 27/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về ly hôn

  • Số bản án: 448/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Anh Hải và chị Lan có đăng ký kết hôn, do vợ chồng mâu thuẫn nên anh Hải có đơn ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger