Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

Bản án số: 448/2024/DS-PT
Ngày: 21.10.2024
V/v “Tranh chấp hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Phương Thanh

Các Thẩm phán:

  • Ông Phạm Văn Bình
  • Ông Võ Bảo Anh

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trí Khương – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Trần Thanh Vũ - Kiểm sát viên.

Vào ngày 21 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử công khai vụ án thụ lý số 211/2024/TLPT-DS ngày 23 tháng 7 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 40/2024/DS-ST ngày 25 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Cái Răng bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 316/2024/QĐ-PT ngày 31 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Công ty TNHH Thiên Lộc. Địa chỉ: 28-30, Lô 1, đường 2C khu đô thị mới Thiên Lộc, phường Phú Thứ, quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ.

Đại diện hợp pháp cho nguyên đơn: Ông Trần Văn Sĩ, sinh năm 1982 (có mặt), bà Huỳnh Thị Mỹ Hằng, sinh năm 1999 (có mặt).

Cùng địa chỉ: Số 253AC2, đường số 4, KDC Cái Sơn - Hàng Bàng, khu vực 2, phường An Bình, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ - Văn bản ủy quyền ngày 23.4.2021.

- Bị đơn:

  1. Ông Nguyễn Văn Hậu, sinh năm 1975. Địa chỉ: 249-251AA, Nguyễn Văn Cừ, phường An Bình, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ (có mặt).

Đại diện hợp pháp cho ông Nguyễn Văn Hậu - ông Nguyễn Thái Thanh, sinh năm 1982 (có mặt); bà Dương Thị Yến, sinh năm 1995 (vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Số 299A, đường số 4, KDC Hồng Phát, khu vực 2, phường An Bình, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ - Văn bản ủy quyền ngày 04.01.2024.

  1. Bà Lâm Thị Ngọc Thảo, sinh năm 1974. Địa chỉ: 249-251AA Nguyễn Văn Cừ, phường An Bình, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ (vắng mặt)

Đại diện hợp pháp: Ông Lê Tuấn Khanh, sinh năm 1973 (vắng mặt), ông Nguyễn Huy Khánh, sinh năm 1987 (có mặt).

Cùng địa chỉ: 116A, Tầm Vu, phường Hưng Lợi, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ - Văn bản ủy quyền ngày 25.01.2024.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Thảo: Luật sư Nguyễn Thị Diễm Trinh – Công ty Luật Miền Tây thuộc Đoàn Luật sư thành phố Cần Thơ (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Văn phòng công chứng Lê Cẩm Lành – có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

Địa chỉ: Số 11, Ngô Hữu Hạnh, phường Tân An, quận Ninh Kiều, TP. Cần Thơ

  1. Chi cục Thuế quận Cái Răng, TP. Cần Thơ – có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

Địa chỉ: Số 248H, đường Trần Hưng Đạo, phường Lê Bình, quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ.

  1. Cục Thuế thành phố Cần Thơ – có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

Địa chỉ: Số 379, đường Nguyễn Văn Cừ, phường An Khánh, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.

- Người làm chứng: Ông Đoàn Văn Quan, sinh năm 1965. Địa chỉ: Số 73/7N, đường Nguyễn Trãi, phường Tân An, Q. Ninh Kiều, TP. Cần Thơ - có yêu cầu vắng mặt.

- Người kháng cáo: Ông Nguyễn Văn Hậu và bà Lâm Thị Ngọc Thảo là bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Nguyên đơn Công ty TNHH Thiên Lộc (sau đây gọi là Công ty) trình bày nội dung và yêu cầu khởi kiện như sau: Ngày 26.4.2014, Công ty có ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với ông Nguyễn Văn Hậu và bà Lâm Thị Ngọc Thảo, chuyển nhượng diện tích 2.400m², thuộc thửa số 3693, tờ bản đồ số 2, tọa lạc tại khu dân cư lô số 13, khu đô thị mới Nam sông Cần Thơ, phường Phú Thứ, quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ do Công ty đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CT07187, ngày 09.12.2013, giá chuyển nhượng 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng), hợp đồng được công chứng tại Văn phòng công chứng Trần Mạnh Hùng (nay là Văn phòng công chúng Lê Cẩm Lành), số công chứng 652, quyển số 01/2014/TP/CC-SCC/HĐGD.

Cùng ngày 26/4/2014, Công ty và ông Hậu, bà Thảo lập “Biên bản thỏa thuận”, theo đó, ông Hậu và bà Thảo cho Công ty chuộc lại tài sản trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày hợp đồng chuyển nhượng được công chứng; Công ty cam kết đóng lãi suất đầy đủ và liên tục 06 tháng cho ông Hậu và bà Thảo với lãi suất 5% mỗi tháng trên giá trị hợp đồng, tương đương 50.000.000 đồng/tháng; ông Hậu và bà Thảo nhận trước 03 tháng tương đương 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng), phần còn lại mỗi tháng Công ty thanh toán cho ông Hậu và bà Thảo là 50.000.000 đồng; Trường hợp trong thời hạn 06 tháng Công ty không đóng lãi đầy đủ mỗi tháng và không hoàn trả lại tiền gốc thì không được chuộc lại tài sản và phải xuất hóa đơn VAT cho ông Hậu, bà Thảo. Sau khi ký hợp đồng và lập biên bản thỏa thuận, cùng ngày ông Hậu cũng đã giao cho Công ty 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng) và Công ty đã chi trả cho ông Hậu 150.000.000 đồng như biên bản thỏa thuận trên. Công ty xác định việc ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là giả tạo, mà thực chất quan hệ giữa các bên là quan hệ vay tiền. Hiện tại đất tranh chấp vẫn do Công ty đang quản lý. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bản gốc hiện ông Hậu đang giữ. Nay, Công ty khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:

  • Yêu cầu tuyên bố vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 26.4.2014 được công chứng tại Văn phòng công chứng Trần Mạnh Hùng, số công chứng 652, quyển số 01/2014/TP-CC-SCC/HĐGD giữa Công ty với ông Nguyễn Văn Hậu và bà Lâm Thị Ngọc Thảo.
  • Buộc ông Nguyễn Văn Hậu và bà Lâm Thị Ngọc Thảo trả lại bản gốc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BQ786749, do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Cần Thơ cấp ngày 09/12/2013 cho Công ty.
  • Công ty đồng ý trả cho ông Hậu, bà Thảo số nợ gốc 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng) và tiền lãi phát sinh tạm tính từ ngày 26.4.2014 đến ngày khởi kiện, lãi suất 20%/năm, trừ tiền lãi đã đóng 150.000.000 đồng.

* Trước yêu cầu khởi kiện của công ty, bị đơn ông Hậu, bà Thảo có ý kiến và phản tố như sau: Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa Công ty với ông, bà qua các cấp đã xét xử sơ thẩm và phúc thẩm thì ông, bà đồng ý. Đối với bản án Giám đốc thẩm thì ông, bà không đồng ý vì hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là thật, không phải là hợp đồng giả cách che giấu hợp đồng vay. Công ty cho rằng ông, bà nhận 150.000.000 đồng thì ông, bà không có nhận số tiền này. Công ty phải chứng minh ông, bà nhận 150.000.000 đồng gồm những mệnh giá nào, loại tiền nào. Các phiếu chi Công ty đã xuất là giả vì phiếu chi không có chữ ký của kế toán trưởng, không có số, không định khoản, không có chữ ký của bà Thảo, không có sự đồng ý của bà Thảo. Biên bản thỏa thuận ngày 26.4.2014 cũng không có thật, ông Hậu có ký để cho công ty đối phó với thuế và trong biên bản thỏa thuận không có chữ ký của bà Thảo. Nay ông, bà không đồng ý yêu cầu khởi kiện của công ty và có yêu cầu phản tố tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa Công ty với ông, bà đã ký tại Văn phòng công chứng Trần Mạnh Hùng ngày 26.4.2014 và xuất hóa đơn theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất để hoàn thành thủ tục sang tên và bàn giao thửa đất số 3693, tổ 2, tại khu dân cư lô 13, khu đô thị mới nam sông Cần Thơ, phường Phú Thứ, quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ cho ông, bà.

* Văn phòng công chứng Lê Cẩm Lành: Việc công chứng hợp đồng là đúng quy định, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

* Cục Thuế thành phố Cần Thơ có ý kiến: Việc xuất hóa đơn mua hàng cho khách hàng là nghĩa vụ của công ty, trường hợp công ty không lập khi bán hàng thì sẽ bị xử lý theo quy định pháp luật về thuế, hiện công ty còn nợ thuế nên đã bị áp dụng cưỡng chế về thuế bằng biện pháp ngừng sử dụng hóa đơn. Đồng thời, về sổ quỹ tiền mặt, phiếu chi thì công ty không có nghĩa vụ phải gửi cho cơ quan thuế, hồ sơ được lưu tại công ty.

* Người làm chứng ông Đoàn Văn Quan có lời khai như sau: Ông không có mối quan hệ gì với ông Hậu và Công ty. Vào năm 2014 ông là người môi giới, giới thiệu mua bán bất động sản. Được biết thông qua người bạn cũng môi giới tên Điền giới thiệu cho ông là Công ty muốn chuyển nhượng đất tại thửa 3693, tờ bản đồ số 02, diện tích 2.400m², tọa lạc tại khu dân cư Lô số 13, khu đô thị Nam sông Cần Thơ. Ông biết ông Hậu có nhu cầu mua đất để làm kho bãi, ông đã giới thiệu cho ông Hậu mua thửa đất trên của công ty. Giữa ông Hậu và ông Vạn - đại diện theo pháp luật của công ty trực tiếp giao dịch, thỏa thuận giá mua, hai bên thống nhất giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất là 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng). Ông Hậu và ông Vạn đến văn phòng công chứng để công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Sau khi công chứng xong, ông Hậu và ông có đi đăng ký quyền sử dụng đất, khi đến một cửa thì bộ phận tiếp nhận hồ sơ xem hồ sơ và trả lời bằng miệng là thiếu hóa đơn giá trị gia tăng của công ty, khi nộp hồ sơ không có phiếu tiếp nhận hồ sơ. Ông và ông Hậu đi đến gặp ông Vạn để yêu cầu xuất hóa đơn thì ông Vạn chưa xuất được do bị cưỡng chế và hứa gia hạn thời gian xuất hóa đơn, có làm văn bản thỏa thuận cho ông Vạn thời gian xuất hóa đơn để ông Hậu đi đăng ký quyền sử dụng đất, ông chứng kiến ông Vạn năn nĩ ông Hậu trong thời gian 06 tháng sẽ xuất hóa đơn để đối phó với cơ quan thuế, tại buổi làm việc đó ông không thấy ông Hậu nhận bất cứ khoản tiền nào từ ông Vạn. Ông chỉ biết và chứng kiến sự việc đến đó. Thời gian sau đó giữa ông Hậu và ông Vạn thỏa thuận tiếp như thế nào thì ông không được biết.

*Vụ việc hòa giải không thành nên được đưa ra xét xử công khai. Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 40/2024/DS-ST ngày 25 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Cái Răng xét xử và quyết định như sau:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty trách nhiệm hữu hạn Thiên Lộc đối với ông Nguyễn Văn Hậu và bà Lâm Thị Ngọc Thảo.

1.1 Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 26.4.2014, giữa Công ty TNHH Thiện Lộc với ông Nguyễn Văn Hậu, bà Lâm Thị Ngọc Thảo được công chứng tại Văn phòng công chứng Trần Mạnh Hùng, số công chứng 652, quyển số 01/2014/TP-CC-SCC/HĐGD là vô hiệu.

1.2 Buộc Công ty TNHH Thiên Lộc trả cho ông Nguyễn Văn Hậu và bà Lâm Thị Ngọc Thảo tổng số tiền 2.854.000.000 đồng (Hai tỷ tám trăm năm mươi bốn triệu đồng) bao gồm: Tiền gốc 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng), tiền lãi 1.854.000.000 đồng (Một tỷ trăm năm mươi bốn triệu đồng).

Kể từ kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

1.3 Ông Nguyễn Văn Hậu và bà Lâm Thị Ngọc Thảo có nghĩa vụ trả lại cho ông Công ty TNHH Thiên Lộc bản gốc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số phát hành BQ 786749, số vào sổ cấp GCN: CT07187 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Cần Thơ cấp ngày 09.12.2013 cho Công ty trách nhiệm hữu hạn Thiên Lộc.

1.4 Trong trường hợp ông Nguyễn Văn Hậu và bà Lâm Thị Ngọc Thảo không trả lại bản gốc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì Công ty TNHH Thiên Lộc có quyền đăng ký lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật.

2. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Văn Hậu, và bà Lâm Thị Ngọc Thảo

3. Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí dân sự, chi phí thẩm định và quyền kháng cáo của các đương sự.

* Ngày 08 tháng 5 năm 2024, bị đơn ông Hậu, bà Thảo kháng cáo với yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xử bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của ông, bà.

* Tại phiên tòa phúc thẩm:

  • Đại diện nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, không đồng ý kháng cáo của bị đơn. Đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.
  • Đại diện cho các bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu phản tố và kháng cáo. Đề nghị Hồi đồng xét xử bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và chấp nhận phản tố của các bị đơn.
  • Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích và hợp pháp cho bà Thảo phát biểu quan điểm: Cấp sơ thẩm đã vi phạm tố tụng vì căn cứ vào giá đất của Ngân hàng định giá để xác định giá chuyển nhượng giả tạo là không có căn cứ và giá này cũng chưa được công khai chứng cứ tại phiên họp nên phía bị đơn không tiếp cận để bảo vệ quyền lợi được. Giá đất được xác định là các thửa khác không phải là thửa đang tranh chấp. Đồng thời, giá chuyển nhượng do các bên thỏa thuận, giá không phải là điều kiện để vô hiệu hợp đồng. Đề nghị Hội đồng xét xử bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận yêu cầu phản tố và kháng cáo của bà Thảo.

* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu tại phiên tòa phúc thẩm:

  • Về tố tụng: Người tham gia tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự tại Tòa án cấp phúc thẩm.
  • Về nội dung: Qua tranh tụng tại phiên tòa cùng với các chứng cứ có trong hồ sơ, thấy rằng giao dịch chuyển nhượng giữa các bên là nhằm che giấu việc vay tiền, không thực hiện trên thực tế các nội dung của giao dịch chuyển nhượng nên vô hiệu, đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về việc vắng mặt các đương sự: Bị đơn bà Thảo vắng mặt nhưng có người đại diện, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu được vắng mặt nên tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định.

[1.2] Tại phiên tòa, đại diện bị đơn ông Hậu xin tạm ngừng phiên tòa để thu thập chứng cứ ở cơ quan thuế về việc xuất hóa đơn liên quan đến khoản chi 150.000.000 đồng ngày 26/4/2014, sổ cái, sổ quỹ tiền mặt và việc thực hiện kê khai, hạch toán, báo cáo và nộp thuế của công ty đối với phiếu chi và giám định chữ ký của ông Hậu trên Phiếu chi ngày 26/4/2014, triệu tập kế toán và thủ quỹ. Hội đồng xét xử thấy rằng, về vấn đề khai báo thuế và các sổ quỹ chi tiền mặt là việc hoạt động của công ty sẽ chịu trách nhiệm với cơ quan thuế, không liên quan đến việc xem xét yêu yêu cầu khởi kiện của công ty cũng như yêu cầu phản tố của bị đơn ông Hậu và bà Thảo. Các bên chỉ tranh chấp liên quan đến việc chuyển nhượng đất và khi xem xét các yêu cầu này Tòa án sẽ căn cứ vào các quy định có liên quan đến việc giao kết hợp đồng và ý chí thật sự của đương sự để quyết định. Trường hợp, công ty không khai báo có vi phạm sẽ bị xử lý theo quy định pháp luật. Đối với việc giám định chữ ký là không cần thiết vì trải qua các phiên tòa bị đơn thừa nhận có thỏa thuận và nhận tiền, là chứng cứ không cần phải chứng minh.

[2] Xét kháng cáo của các bị đơn, qua kết quả tranh tụng tại phiên tòa cũng như đối chiếu với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có cơ sở xác định:

[2.1] Ngày 26/4/2014, giữa nguyên đơn Công ty Thiên Lộc do ông Võ Thành Vạn là người đại diện theo pháp luật với bị đơn ông Nguyễn Văn Hậu và bà Lâm Thị Ngọc Thảo có ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hợp đồng được công chứng tại Văn phòng công chứng Trần Mạnh Hùng số công chứng 652, quyển số 01/2014/TP/CC-SC/HĐGD (nay là văn phòng công chứng Lê Cẩm Lành). Theo hợp đồng Công ty chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại thửa 3693, tờ bản đồ số 02, diện tích 2.400m² đất cơ sở sản xuất kinh doanh, tọa lạc tại khu dân cư lô số 13, khu đô thị mới nam sông Cần Thơ, phường Phú Thứ, quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số phát hành BQ 786749, số vào sổ cấp GCN CT07187 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Cần Thơ cấp ngày 09.12.2013 cho Công ty, giá chuyển nhượng là 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng). Việc ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là hoàn toàn tự nguyện, tại thời điểm ký kết các bên có đầy đủ năng lực hành vi, hợp đồng được lập thành văn bản được công chứng theo quy định pháp luật. Do đó, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có hình thức phù hợp với quy định pháp luật.

[2.2] Xét nội dung hợp đồng:

[2.2.1] Về nội dung thỏa thuận trong hợp đồng thì các bên thỏa thuận giá 01 tỷ, nhưng theo Quyết định số 32/2013/QĐ-UBND ngày 26/12/2013 của Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ quy định mức giá các loại đất năm 2014 trên địa bàn thành phố Cần Thơ thì giá trị đất tại vị trí đất tranh chấp vào thời điểm ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là 2.800.000 đồng/m², tương đương 6.720.000.000 đồng, trong khi hai bên ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất chỉ với giá 01 tỷ đồng là không phù hợp với thực tế. Như vậy, có căn cứ xác định hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa công ty với ông Hậu, bà Thảo là có sự giả tạo về giá, là một trong những điều kiện xác định hợp đồng vô hiệu theo quy định Điều 129 Bộ luật Dân sự 2005. Thực tế không một ai nếu có ý định chuyển nhượng thật phần đất trên mà lại thỏa thuận giá gây bất lợi cho mình là điều không thể.

[2.2.2] Ngoài ra, nếu ý chí thật sự ký chuyển nhượng đất thì các bên sẽ tiến hành làm thủ tục sang tên đất cho bên nhận chuyển nhượng, không thể có việc các bên lại tiếp tục thỏa thuận cũng cùng ngày ký chuyển nhượng với nội dung: ông Hậu, bà Thảo đồng ý cho Công ty chuộc lại thửa đất nêu trên trong thời gian không quá 06 tháng kể từ ngày lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được công chứng và công ty cam kết đóng lãi đầy đủ và liên tục trong 06 tháng với lãi suất 5%/tháng (tương đương 50.000.000 đồng/tháng), ngày 26.4.2014 ông Hậu đã nhận 150.000.000 đồng tiền lãi 03 tháng, phần còn lại thì Công ty phải thanh toán từ ngày 01 đến ngày 05 hàng tháng nếu không thực hiện đầy đủ hoặc không trả đủ nợ gốc thi phải xuất hóa đơn VAT theo hợp đồng đã ký. Quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, phúc thẩm lần trước, đại diện ông Hậu thừa nhận cũng đã nhận tiền 150.000.000 đồng theo phiếu chi của công ty lập về việc trả lãi đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Nay quá trình giải quyết tại cấp phúc thẩm lần này thì phía ông Hậu cho rằng không có nhận tiền nhưng tại phiên tòa sơ thẩm ngày 20/01/2022 (bút lục 291, 293) và phiên tòa phúc thẩm ngày 24/6/2022 (bút lục 399) thừa nhận có nhận 150.000.000 đồng là tiền bù đắp nhưng công ty xác định là tiền lãi, lời thừa nhận của đương sự tại phiên tòa là chứng cứ không cần phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự nên có căn cứ xác định 150.000.000 đồng ông Hậu nhận là tiền lãi của 01 tỷ đồng tiền vay. Về ý kiến của ông Hậu còn cho rằng phiếu chi 150.000.000 đồng không đúng quy định kế toán, không có số chi, đến khi công ty cung cấp bản chính thì có sự khác biệt giữa phiếu chi các bên cung cấp bản photo và khi công ty cung cấp bản chính về ý kiến này Hội đồng xét xử thấy rằng, là không cần thiết. Vấn đề quan trọng trong vụ việc là ông Hậu có hay không nhận 150.000.000 đồng tiền lãi của công ty, cho dù bị đơn ông Hậu không có nhận thì ngay từ đầu hợp đồng này đã vô hiệu bởi ý chí thật trong việc chuyển nhượng là không có, bản chất là giao dịch vay tiền. Ông Hậu còn cho rằng việc thỏa thuận ngày 26.4.2014 để hỗ trợ việc chậm làm thủ tục sang tên do không xuất hóa đơn là mâu thuẫn bởi ngày ký hợp đồng chuyển nhượng là ngày 26.4.2024 thì lúc này chưa làm thủ tục thì không thể biết được hồ sơ không đăng ký được do việc công ty không xuất được hóa đơn. Nếu nói như bị đơn ông Hậu thì việc thỏa thuận chuộc lại đất, mức lãi suất phải là sau ngày ký hợp đồng chuyển nhượng mới phù hợp, nghĩa là sau khi bị cơ quan có thẩm quyền từ chối nhận hồ sơ làm thủ tục sang tên do vướng việc xuất hóa đơn.

[2.2.3] Mặt khác, từ khi ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì không có biên bản bản giao thửa đất nêu trên giữa các bên được thể hiện trong buổi hòa giải tại Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều ngày 04/3/2021 chính ông Hậu xác định công ty chưa giao đất (bút lục 35), ông Hậu chỉ giữ giấy chứng nhận bản gốc của thửa đất này là chưa thực hiện hết các nội dung của một hợp đồng chuyển nhượng. Nếu thật sự chuyển nhượng, giao đủ tiền thì tất nhiên bên chuyển nhượng phải giao đất và bên nhận chuyển nhượng phải yêu cầu giao đất nhưng phía bị đơn hoàn toàn không có chứng cứ chứng minh mình yêu cầu công ty giao đất. Ngoài ra, ông Hậu không cung cấp được chứng cứ, tài liệu ông Hậu liên hệ với cơ quan có thẩm quyền về việc làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ông Hậu có yêu cầu triệu tập ông Đoàn Văn Quan là người làm chứng cho việc hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là thật, tuy nhiên lời khai của ông Đoàn Văn Quan chỉ thể hiện minh chứng cho việc có ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo đúng trình tự thủ tục của pháp luật. Ông Quan cũng chỉ có lời khai có biên bản thỏa thuận ký ngày 26.4.2014 ông Vạn xin gia hạn nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho lời khai của mình là có căn cứ.

[2.2.4] Ông Hậu và đại diện bà Thảo còn cho rằng, bà Thảo và ông Hậu là vợ chồng, việc bà Thảo không ký vào biên bản thỏa thuận ngày 26.4.2014 nên không có giá trị. Hội đồng xét xử xét thấy, bà Thảo tuy không ký vào biên bản thỏa thuận, nhưng qua các phiên tòa trước bà Thảo cũng không ý kiến hay chứng cứ phản đối gì về biên bản thỏa thuận này, nay lại nêu ra là không thể chấp nhận được. Ngoài ra, việc bà Thảo không ký vào biên bản thỏa thuận cũng không làm thay đổi bản chất của giao dịch dân sự là giả tạo nhằm che giấu hợp đồng vay tiền.

[3] Với những nhận định trên nên đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phúc thẩm là phù hợp quy định pháp luật. Lời trình bày của Luật sư bảo vệ quyền lợi cho bà Thảo là không có căn cứ. Cấp sơ thẩm đánh giá chứng cứ và chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn công ty là đúng nên giữ nguyên. Vì vậy, kháng cáo của các bị đơn ông Hậu và bà Thảo là không có căn cứ chấp nhận.

[4] Về án phí sơ thẩm và phúc thẩm:

[4.1] Án phí sơ thẩm: Do yêu cầu nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu theo quy định. Giữ nguyên như án sơ thẩm.

[4.2] Án phí phúc thẩm: Các bị đơn kháng cáo không được chấp nhận nên phải chịu.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: - Khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  • Không chấp nhận kháng cáo của các bị đơn.
  • Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 40/2024/DS-ST ngày 25/4/2024 của Tòa án nhân dân quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ.
  • Về án phí phúc thẩm: các bị đơn bà Thảo và ông Hậu mỗi người phải chịu 300.000 đồng, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0003418 ngày 10/5/2024 và số 0003417 ngày 10/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND TPCT;
  • - TAND quận Cái Răng;
  • - CCTHADS quận Cái Răng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hà Thị Phương Thanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 448/2024/DS-PT ngày 21/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 448/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 21/10/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Công ty T - Nguyễn Văn H, Lâm Thị NT - HĐCN quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger