Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Số: 4477/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 20-9-2024

Về việc: Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Võ Thu Phương

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Võ Văn Lợi
  2. Bà Nguyễn Hương Thủy

- Thư ký phiên toà: Bà Hà Thị Bích Ngọc – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Lam - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 9 năm 2024, tại phòng xử án của Toà án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh đã xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 1035/2024/TLST- HNGĐ ngày 03/5/2024, về việc: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 6440/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 7348/2024/QÐST-HNGĐ ngày 29 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Bùi Hoàng Mỹ L, sinh năm: 1990

Địa chỉ thường trú: Tổ B, Khu phố D, phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Địa chỉ liên hệ: Phòng 302, Số I P, phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

- Bị đơn: Ông Nguyễn Đăng V, sinh năm: 1985 (vắng mặt)

Địa chỉ: A Chung cư M, Đường A, Khu phố D, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 19/4/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn – Bà Bùi Hoàng Mỹ L trình bày:

  • Về hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Đăng V đăng ký kết hôn trên cở sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 11/2016 do Ủy ban nhân dân xã S, huyện H, Thành phố Hà Nội cấp ngày 23/3/2016. Trong quá trình chung sống, bà và ông V thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, hai bên bất đồng quan điểm sống, bà L không cảm nhận được tình cảm gia đình, bà và ông V hiện đã sống ly thân, không còn chung sống cùng nhau. Nay nhận thấy, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Đăng V.
  • Về con chung: Bà và ông V có 02 con chung là trẻ Nguyễn Đăng Linh C, sinh ngày 14/12/2017 và trẻ Nguyễn Đăng An V1, sinh ngày 05/12/2021. Bà L yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục 02 con chung. Bà Bùi Hoàng Mỹ L yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con số tiền 5.000.000 (năm triệu) đồng/tháng mỗi con chung cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Thời gian cấp dưỡng thực hiện vào ngày 01 đến ngày 05 hàng tháng, bắt đầu ngay khi Bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Quá trình giải quyết vụ án bà L thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện về cấp dưỡng nuôi con, bà yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con số tiền 3.000.000 (ba triệu) đồng/tháng mỗi con chung cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.
  • Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Nguyễn Đăng V đã được Tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông V vắng mặt, không nêu ý kiến về việc khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa:

  • Nguyên đơn bà Bùi Hoàng Mỹ L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
  • Bị đơn ông Nguyễn Đăng V đã được Tòa án triệu tập đến tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức trình bày quan điểm về việc giải quyết vụ án:

Về tố tụng: Hội đồng xét xử, Thẩm phán và Thư ký thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng. Các đương sự thực hiện quyền, nghĩa vụ theo đúng quy định của pháp luật.

2

Về nội dung vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu của bà Bùi Hoàng Mỹ L được ly hôn với ông Nguyễn Đăng V. Giao con chung Nguyễn Đăng Linh C, sinh ngày 14/12/2017 và trẻ Nguyễn Đăng An V1, sinh ngày 05/12/2021 cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục. Ông Nguyễn Đăng V có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con số tiền 3.000.000 (ba triệu) đồng/tháng mỗi con chung cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc chấm dứt theo quy định của pháp luật. Thời gian cấp dưỡng bắt đầu vào ngày 01 đến ngày 05 hàng tháng, thực hiện ngay khi Bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Về tài sản chung, nợ chung: Do không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét. Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Bà Bùi Hoàng Mỹ L yêu cầu ly hôn ông Nguyễn Đăng V, căn cứ khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn hiện cư trú tại thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành xác minh tình trạng hôn nhân, nguyên nhân phát sinh tranh chấp của vợ chồng, xác minh nơi cư trú của bị đơn. Do đó, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh kiểm sát việc tuân theo pháp luật là phù hợp quy định tại Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Bùi Hoàng Mỹ L và ông Nguyễn Đăng V tự nguyện đăng ký kết hôn vào năm 2016 theo Giấy chứng nhận kết hôn số 11/2016 do Ủy ban nhân dân xã S, huyện H, Thành phố Hà Nội. Căn cứ vào khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình thì hôn nhân của bà L và ông V được công nhận là hôn nhân hợp pháp và được pháp luật bảo vệ.

Quá trình giải quyết vụ án, bà L trình bày bà và ông V thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, hai bên bất đồng quan điểm sống, bà L không cảm nhận được tình cảm gia đình, bà và ông V hiện đã sống ly thân, không còn chung sống cùng nhau nên yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Đăng V. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập ông V tham gia hòa giải cũng như phiên tòa xét xử nhưng ông V vắng mặt không có lý do, điều này chứng tỏ ông V không có thiện chí hàn gắn

3

hạnh phúc gia đình. Xét, vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau; cùng nhau chia sẻ thực hiện các công việc trong gia đình và có nghĩa vụ sống chung với nhau, không còn sự quan tâm, chăm sóc với nhau. Như vậy, mâu thuẫn giữa bà L và ông V đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được, đời sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu bà Bùi Hoàng Mỹ L được ly hôn ông Nguyễn Đăng V.

- Về con chung: Bà L trình bày bà và ông V có 02 (hai) con chung tên Nguyễn Đăng Linh C, sinh ngày 14/12/2017 và Nguyễn Đăng An V1, sinh ngày 05/12/2021. Bà L hiện đang trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung, sau khi ly hôn bà vẫn yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục 02 con chung. Ông V vắng mặt nên không có ý kiến về phần con chung. Hội đồng xét xử xét thấy: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện bà L là người có thu nhập ổn định, có nơi ở đảm bảo nên có đầy đủ điều kiện về kinh tế, điều kiện về tình cảm để nuôi dưỡng và chăm sóc con chung, sau khi ly hôn bà L vẫn yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận yêu cầu của bà L, giao con chung Nguyễn Đăng Linh C, sinh ngày 14/12/2017 và Nguyễn Đăng An V1, sinh ngày 05/12/2021 cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng. Về yêu cầu cấp dưỡng nuôi con: Bà L yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con số tiền 3.000.000 (ba triệu) đồng/tháng mỗi con chung cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Thời gian cấp dưỡng thực hiện vào ngày 01 đến ngày 05 hàng tháng, bắt đầu ngay khi Bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Hội đồng xét xử xét thấy việc cấp dưỡng nuôi con là trách nhiệm và nghĩa vụ của các bên để đảm bảo về chi phí sinh hoạt và học tập cho các trẻ. Do đó bà L yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con chung hàng tháng số tiền 3.000.000 (ba triệu) đồng cho mỗi con chung đến khi con chung đủ 18 tuổi, thực hiện vào ngày 01 hàng tháng, bắt đầu ngay khi Bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật là phù hợp, có cơ sở nên chấp nhận.

- Về tài sản chung: Bà L trình bày tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về nợ chung: Bà L trình bày không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3]. Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Bùi Hoàng Mỹ L phải chịu án phí hôn nhân và gia đình, ông Nguyễn Đăng V phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con.

[4]. Đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức là có cơ sở nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

4

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 228; Điều 266 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • Khoản 1 Điều 9; Điều 19; Điều 51; Điều 55, Điều 56; Điều 57; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
  • Luật Thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014;
  • Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Hoàng Mỹ L.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Bùi Hoàng Mỹ L được ly hôn với ông Nguyễn Đăng V.

Giấy chứng nhận kết hôn số 11/2016 do Ủy ban nhân dân xã S, huyện H, Thành phố Hà Nội cấp ngày 23/3/2016 không còn giá trị pháp lý kể từ ngày Bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

2. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Đăng Linh C, sinh ngày 14/12/2017 và Nguyễn Đăng An V1, sinh ngày 05/12/2021 cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục. Hàng tháng, ông V cấp dưỡng nuôi con chung số tiền 3.000.000 (Ba triệu) đồng mỗi con chung cho đến khi các con chung lần lượt đủ 18 tuổi. Thời gian cấp dưỡng thực hiện vào ngày 01 đến ngày 05 hàng tháng, thực hiện ngay khi Bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà người phải thi hành án chưa thực hiện hoặc thực hiện chưa đầy đủ việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 đối với tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.

Các bên thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Cha, mẹ có nghĩa vụ và quyền ngang nhau, cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên.

Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi; có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản

5

trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 82 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn) đồng bà Bùi Hoàng Mỹ L phải chịu nhưng được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà bà L đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0026621 ngày 06/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Về án phí cấp dưỡng nuôi con chung là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn) đồng ông Nguyễn Đăng V phải nộp. Ông V chưa nộp án phí.

5. Quyền kháng cáo: Bà Bùi Hoàng Mỹ L, ông Nguyễn Đăng V được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân TPHCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TP.Thủ Đức;
  • - Chi cục thi hành án dân sự TP.Thủ Đức;
  • - UBND X.Sơn Đồng, H.Hoài Đức, TP.Hà Nội;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VP; hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Thu Phương

6

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 4477/2024/HNGĐ-ST ngày 20/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn

  • Số bản án: 4477/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger