TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 447/2024/DS-PT.
Ngày: 12-11-2024
V/v: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phùng Thị Cẩm Hồng
Các Thẩm phán: 1. Ông Đặng Văn Những
2. Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh
- Thư ký phiên tòa: Nguyễn Huỳnh Nhã Mi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tho - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 11 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 363/2024/TLPT-DS ngày 01 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 226/2024/DS-ST ngày 01 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hoà bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 420/2024/QĐ-PT ngày 14 tháng 10 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: ông Trần Thanh P, sinh năm 1974. Địa chỉ: số G, Khu phố C, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
- Bị đơn: ông Võ Thành T, sinh năm 1958. Địa chỉ: số 707, ấp 5, xã Đức Hòa Đông, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An
- Người kháng cáo: Bị đơn ông Võ Thành T.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện ngày 22/5/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn là ông Trần Thanh P trình bày như sau:
Ông và ông Võ Thành T quen biết nhau. Ông T nói cần tiền để có vốn làm ăn nên vay tiền ông. Ông cho ông T vay, cụ thể như sau:
Ngày 11/02/2015, ông T vay số tiền 100.000.000đồng.
Ngày 14/12/2015, ông T vay số tiền 20.000.000đồng.
Ngày 24/01/2016, ông T vay số tiền 40.000.000đồng.
Ngày 14/5/2016, ông T vay số tiền là 20.000.000đồng.
Tất cả các lần vay tiền, ông T đều ký tên và có thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông T đứng tên cho ông. Ông T trả lãi cho ông đến tháng 7/2016 thì ngừng không trả. Số tiền lãi ông T trả nhiều lần, cộng lại là 33.600.000đồng. Ông đã nhiều lần gặp ông T để yêu cầu ông T trả số tiền đã vay là 180.000.000đồng nhưng ông T không trả mà cố tình né tránh.
Nay ông yêu cầu Tòa án giải quyết:
Buộc ông Võ Thành T trả số tiền vay gốc là 180.000.000đồng và tiền lãi theo mức lãi suất 1%/tháng, tính từ ngày 14/5/2016 đến ngày xét xử sơ thẩm, tạm tính là 90.000.000đồng.
Bị đơn là ông Võ Thành T trình bày: Ông thừa nhận “Giấy mượn tiền mặt” ngày 14/5/2016, phía bên người nhận, chữ ký và chữ viết Võ Thành T là của ông. Ông xác nhận có vay của ông P số tiền gốc là 180.000.000đồng, đồng thời, ông đã trả lãi cho ông P nhiều lần, cụ thể như sau:
Ngày 14/02/2015, vay 100.000.000đồng, ông đã trả lãi cho ông P đến ngày 01/01/2017 là 36.000.000đồng.
Ngày 14/12/2015, vay 20.000.000đồng, trả lãi đến ngày 01/01/2017 là 7.200.000đồng.
Ngày 24/01/2016, vay 40.000.000đồng, trả lãi đến ngày 01/01/2017 là 13.200.000đồng.
Ngày 14/5/2016 vay 20.000.000đồng, trả lãi đến ngày 01/01/2017 là 4.200.000đồng.
Tổng số tiền lãi ông đã trả cho ông P là 60.000.000đồng.
Nay ông P khởi kiện ông, ông chỉ đồng ý trả số tiền gốc 180.000.000đồng, xin trả dần mỗi tháng 5.000.000đồng cho đến khi hết nợ. Đối với số tiền lãi thì ông không đồng ý trả vì ông đã trả quá nhiều.
Tại phiên Tòa, ông T đồng ý trả gốc và trả lãi cho ông P, lãi suất 1%/tháng, thời gian trả từ ngày 14/5/2016 cho đến ngày xét xử, không yêu cầu khấu trừ số tiền lãi đã trả cho ông P.
Tại phiên Tòa, ông P cũng đồng ý trả lại cho ông T bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB 483482, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là H 03082 do Ủy ban nhân dân thị xã T cấp ngày 13/12/2004. Ông T cũng đã nhận Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ông P, ông T không yêu cầu giải quyết trong vụ án này.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 226/2024/DS-ST ngày 01 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hoà đã tuyên:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 466, Điều 468 Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Thanh P về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” đối với bị đơn là ông Võ Thành T.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Võ Thành T được miễn án phí.
Buộc ông Võ Thành T có trách nhiệm trả cho ông Trần Thanh P số tiền đã vay là 353.760.000đồng, trong đó tiền gốc là 180.000.000đồng, lãi là 173.760.000đồng.
Khi án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, bên có nghĩa vụ chậm thi hành sẽ phải chịu thêm khoản tiền lãi tính trên số tiền chậm trả theo quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13 tương ứng với thời gian chưa thi hành án, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
H lại cho ông Trần Thanh P số tiền 6.750.000đồng theo Biên lai thu số 0004642 ngày 22/5/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo, quyền yêu cầu thi hành án đối với các đương sự.
Ngày 15 tháng 8 năm 2024, bị đơn ông Võ Thành T có đơn kháng cáo một phần bản án dân sự sơ thẩm, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét không đồng ý trả tiền lãi.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, bị đơn không rút đơn kháng cáo. Các bên đương sự không đề nghị thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án, xác định không cung cấp thêm chứng cứ mới.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An phát biểu ý kiến:
Về thủ tục: Người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự tại Tòa án cấp phúc thẩm.
Về nội dung: Xét kháng cáo của ông Võ Thành T thấy rằng, quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm ông P và ông T thống nhất với nhau là ông T còn thiếu ông P số tiền đã vay gốc 180.000.000 đồng, đồng thời, ông P yêu cầu ông T trả tiền lãi theo mức lãi suất vay 1%/tháng, tính từ ngày 14/5/2016 cho đến khi xét xử sơ thẩm, ông T cũng đồng ý.
Từ những nhận định như trên: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ông Võ Thành T.
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, đề nghị giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Về thủ tục:
- Đơn kháng cáo của ông Võ Thành T được làm đúng theo quy định tại Điều 272, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, nên được xem xét giải quyết theo trình tự thủ tục phúc thẩm.
- Về xác định quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án và giải quyết vụ án là phù hợp theo quy định tại Điều 26, Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Xét kháng cáo của ông Võ Thành T thấy rằng:
- Số tiền gốc 180.000.000 đồng: Xét thấy, theo “Giấy mượn tiền” ngày ngày 14/5/2016 thì ông T thừa nhận chữ ký, họ tên ở phần “Người nhận” đều là của ông. Đồng thời, ông T cũng xác định rằng ông đã nhận đủ số tiền vay gốc là 180.000.000đồng từ ông P và đồng ý trả cho ông P số tiền vay gốc là 180.000.000đồng, nên Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận là có căn cứ và phù hợp theo quy định tại Điều 466 của Bộ luật Dân sự.
- Về tiền lãi: Việc ông P, ông T xác lập giao dịch vay, hai bên đương sự đều thống nhất khi vay có tính lãi thỏa thuận là 3%. Tuy nhiên, tại phiên tòa sơ thẩm ông P và ông T đều thống nhất lại là tính lãi suất 1%/tháng, tính từ ngày 14/5/2016 đến ngày Tòa án xét xử sơ thẩm là ngày 01/8/2024. Xét thấy, ông P và ông T thỏa thuận lại mức lãi suất 1%/ tháng, cụ thể tiền lãi được tính như sau: 180.000.000đồng x 1%/tháng x 08 năm 16 ngày (14/5/2016 đến 01/8/2024) = 173.760.000đồng. Ông T không yêu cầu khấu trừ tiền lãi mà ông T đã trả cho ông P. Xét thấy, đối với số tiền lãi Tòa án cấp sơ thẩm đã chấp nhận theo yêu cầu của ông P là có căn cứ và phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
- Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy kháng cáo ông Võ Thành T không có căn cứ chấp nhận, cần giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
- Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ nên chấp nhận.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: ông Võ Thành T được miễn án phí.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Võ Thành T.
Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 226/2024/DS-ST ngày 01 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 466, Điều 468 Bộ luật Dân sự.
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 26, Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Thanh P về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” đối với bị đơn là ông Võ Thành T.
- Buộc ông Võ Thành T có trách nhiệm trả cho ông Trần Thanh P số tiền đã vay là 353.760.000đồng, trong đó tiền gốc là 180.000.000đồng, lãi là 173.760.000đồng.
- Khi án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, bên có nghĩa vụ chậm thi hành sẽ phải chịu thêm khoản tiền lãi tính trên số tiền chậm trả theo quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13 tương ứng với thời gian chưa thi hành án, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Võ Thành T được miễn án phí. H lại cho ông Trần Thanh P số tiền 6.750.000đồng theo Biên lai thu số 0004642 ngày 22/5/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Võ Thành T được miễn án phí.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận: -TAND cấp cao tại TP . HCM; -VKSND tỉnh Long An; - TAND huyện Đức Hòa; - Chi cục THADS huyện Đức Hòa; - Các đương sự - Lưu HS, lưu án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phùng Thị Cẩm Hồng |
Bản án số 447/2024/DS-PT ngày 12/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 447/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 12/11/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo
