|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 447/2024/DS-PT
Ngày: 22/8/2024
V/v: Tranh chấp di sản thừa kế; yêu cầu tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu; yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Tuyển;
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Phan Nam;
Ông Phạm Văn Lợi.
- Thư ký phiên toà: Ông Ngô Cảnh Duy – Thư ký Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội: Bà Nguyễn Thị Thu Mai - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 22 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 37/2024/TLPT-DS ngày 12 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp di sản thừa kế; yêu cầu tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu; yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 02/2023/DS-ST ngày 24 tháng 3 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 8970/2024/QĐ-PT ngày 09 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Cụ Nguyễn Văn V, sinh năm 1940; địa chỉ: Xóm T, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền:
- + Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1955; địa chỉ: Số nhà A, ngõ A, đường P, xã H, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
- + Ông Nguyễn Văn H, sinh năm: 1973; địa chỉ: Xóm T, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt.
- + Ông Nguyễn Quốc H1, sinh năm: 1978; địa chỉ: Xóm T, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
- + Bà Nguyễn Thị H2, sinh năm: 1971; địa chỉ: Xóm N, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Luật sư Hồ Thị Hồng N và Luật sư Nguyễn Vinh D, Văn phòng L4, Đoàn Luật sư tỉnh N. Có mặt.
· Bị đơn:
- Ông Nguyễn Văn H3, sinh năm: 1954; địa chỉ: Xóm T, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị H4, sinh năm: 1960; địa chỉ: Nhà F, ngõ B, tổ G, phường N, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt.
- Ông Trần Văn Á, sinh năm: 1972; địa chỉ: Xóm T, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt.
- Bà Trần Thị Song N1, sinh năm: 1975; địa chỉ: Xóm T, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn H3: Ông Trương Quang T, sinh năm 1978; địa chỉ: Số A, tổ F, phường H, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh. Có mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Trần Văn Á, bà Trần Thị Song N1: Bà Hoàng Diệu L; địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh. Có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Luật sư Phan Văn C và Luật sư Bùi Hoàng Linh C1, Công ty L5, Đoàn Luật sư tỉnh H. Luật sư Chiều vắng mặt, Luật sư C1 có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Cụ Nguyễn Thị N2 (chết năm 1989), có chồng là cụ Trần Văn N3 (chết năm 1987), có những người thừa kế:
- Ông Trần Văn T1; địa chỉ: Xóm T, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bà Trần Thị T2, sinh năm: 1944; địa chỉ: K, M, xã P, huyện Đ, tỉnh Quảng Ngãi. Vắng mặt.
- Bà Trần Thị C2 (chết năm 1979), có những người thừa kế:
- + Bà Nguyễn Thị Thu H5, sinh năm: 1974; địa chỉ: 1 Q, phường A, quận G, thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.
- + Anh Nguyễn Thành C3; địa chỉ: Xóm N, xã V, huyện B, tỉnh Quảng Bình, nơi ở hiện nay: 1 đường số C, phường I, quận G, thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.
- + Chồng bà C2: Ông Nguyễn Ngọc T3; địa chỉ: Xóm N, xã V, huyện B, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.
- Bà Trần Thị T4, sinh năm: 1947; địa chỉ: Số nhà D, Ngõ I, đường X, Phường B, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt.
- Bà Trần Thị T5 (chết năm 2015), có chồng là ông Phan Văn L1 (chết năm 2012), có những người thừa kế:
- + Bà Phan Thị Thanh H6, sinh năm: 1976; địa chỉ: Xóm T, phường H, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.
- + Ông Phạm Đức T6; địa chỉ: 9 H, A, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.
- + Ông Phạm Đức N4, địa chỉ: 9 H, A, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.
- Bà Trần Thị K; địa chỉ: K, thị trấn T, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bà Trần Thị T7; địa chỉ: Xóm T, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Cụ Nguyễn Thị H7 (chết năm 2012), có chồng là cụ Trần Khánh H8 (chết năm 2006), có những người thừa kế:
- Ông Trần Quốc V1 (chết ngày 15/4/2017), có những người thừa kế:
- + Ông Trần Văn T8, sinh năm: 1974; địa chỉ: Nhà số B, Ngách C, Ngõ A đường T, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
- + Ông Trần Văn S, sinh năm: 1981; địa chỉ: Nhà số B, Ngách C, Ngõ A đường T, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
- + Vợ ông V1: Bà Bùi Thị M1, sinh năm 1950; địa chỉ: Nhà số B, Ngách C, Ngõ A đường T, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Ông Trần Khánh T9; địa chỉ: Xóm T, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Ông Trần Khánh T10; địa chỉ: Xóm T, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bà Trần Thị N5; địa chỉ: Xóm T, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Ông Trần Khánh Đ, địa chỉ: Xóm T, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Cụ Nguyễn Văn H9 (chết năm 1995), có vợ là cụ Nguyễn Thị B (chết năm 1990), có những người thừa kế:
- Bà Nguyễn Thị T11 (chết năm 1996), có những người thừa kế:
- + Ông Trần Văn Á, sinh năm 1974; địa chỉ: Xóm T, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh (Là bị đơn). Vắng mặt.
- + Ông Trần Văn T12, sinh năm 1971; địa chỉ: Làng Đ, xã P, huyện Đ, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
- + Bà Trần Thị B1, sinh năm 1973; địa chỉ: Thôn T, xã Đ, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt.
- + Chồng bà T11: Ông Trần Văn H10; địa chỉ: Xóm T, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt.
- Ông Nguyễn Văn H3, địa chỉ: Xóm T, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh (Là bị đơn). Vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị H4, sinh năm 1960 địa chỉ: Nhà số F, ngõ B, Tổ G, phường N, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh (Là bị đơn). Vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị H11, sinh năm 1956; địa chỉ: Xóm T, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt.
- Cụ Nguyễn Văn C4 (chết năm 1978), có vợ là cụ Trần Thị T13 (chết năm 1959), có những người thừa kế:
- Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1955; địa chỉ: Số nhà A, ngõ A, đường P, xã H, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị T14, địa chỉ: Xóm T, xã H, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị S1; địa chỉ: Số nhà A, đường T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt.
- Cụ Nguyễn Văn T15, sinh trú quán: Xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh (bỏ nhà đi từ lâu, hiện không rõ ở đâu), có vợ là cụ Nguyễn Thị T16 (chết năm 2016), có những người thừa kế:
- Ông Nguyễn Anh T17; địa chỉ: Khu G, xã T, huyện L, tỉnh Phú Thọ. Vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị H2; địa chỉ: Xóm T, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Cụ Nguyễn Thị L2, sinh năm: 1934; địa chỉ: Xóm S, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị X; địa chỉ: Xóm T, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt.
- Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt.
- Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt.
- Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh H. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn là cụ Nguyễn Văn V trình bày:
Bố mẹ của cụ Nguyễn Văn V là cố Nguyễn Văn H12 (chết ngày 18/01/1964) và cố Nguyễn Thị T18 (chết ngày 01/10/1990); cố H12, cố T18 sinh được 07 người con gồm:
- Cụ Nguyễn Thị N2 (chết năm 1989), có chồng là cụ Trần Văn N3 (chết năm 1987); có các người con: Trần Văn T1, Trần Thị T2, Trần Thị T4, Trần Thị T5, Trần Thị C2, Trần Thị K và Trần Thị T7. Trong đó:
- + Bà Trần Thị T19 (chết năm 2015), có chồng là Phạm Văn L3 (chết năm 2012); có các người con: Phạm Thị Thanh H13; Phạm Đức T6, Phạm Đức N4.
- + Bà Trần Thị C2 (chết năm 1979), có chồng là ông Nguyễn Ngọc T3; có các người con: Nguyễn Thành C3, Nguyễn Thị Thu H5.
- Cụ Nguyễn Thị H7 (chết năm 2012), có chồng là cụ Trần Khánh H8 (chết năm 2006); có các người con: Trần Quốc V1, Trần Khánh T9, Trần Khánh Đ, Trần Khánh T10, Trần Thị N5. Trong đó:
- + Ông Trần Quốc V1 (chết năm 2017), có vợ là Bùi Thị M1; có các người con: Trần Văn T8, Trần Văn S.
- Cụ Nguyễn Văn H9 (chết năm 1995), có vợ là cụ Nguyễn Thị B (chết năm 1990); có các người con: Nguyễn Thị T11, Nguyễn Văn H3, Nguyễn Thị H11, Nguyễn Thị H4. Trong đó:
- + Bà Nguyễn Thị T11 (chết năm 1996), có chồng là ông Trần Văn H10; có các người con: Trần Văn Á, Trần Văn T12, Trần Thị B1.
- Cụ Nguyễn Văn C4 (chết năm 1978), có vợ là cụ Trần Thị T13 (chết năm 1959); có các người con: Nguyễn Văn M, Nguyễn Thị S1, Nguyễn Thị T14.
- Cụ Nguyễn Văn T15 (không biết sống hay đã chết), có vợ là cụ Nguyễn Thị T16 (chết năm 2018); có các người con: Nguyễn Thị H2, Nguyễn Anh T17.
- Cụ Nguyễn Thị L2.
- Cụ Nguyễn Văn V.
Cố Nguyễn Văn H12, cố Nguyễn Thị T18 chết không để lại di chúc và có tài sản là di sản thừa kế gồm một thửa đất vườn có diện tích 3.804m², tại thửa đất số 329, tờ bản đồ số 3, bản đồ 299 xã T (nay là xã T), huyện T, tỉnh Hà Tĩnh, một ngôi nhà 03 gian gỗ Lim và cây cối trong vườn. Từ khi cố H12, cố T18 chết, gia đình cụ Nguyễn Văn H9 là con trai trưởng tiếp tục quản lý, sử dụng đất vườn, nhà nói trên. Năm 1995, cụ Nguyễn Văn H9 chết thì người con trai cả của cụ H9 và là cháu đích tôn của cố H12, cố T18 là ông Nguyễn Văn H3 tiếp tục quản lý, sử dụng. Thửa đất và tài sản trên đất do cố H12, cố T18 để lại, các con, cháu của cố Hồ, cố T18 chưa họp để phân chia cho những người được hưởng thừa kế. Khi còn sống cố H12, cố T18 cũng chưa họp gia đình để giao tài sản cho người con nào của hai cố.
Ngày 12/02/2013 (Âm lịch), chi tộc họ và con, cháu, chắt của cố Hồ, cố T18 tổ chức họp để bàn bạc việc sử dụng đất đai của cố H12, cố T18 để lại. Tất cả con, cháu cố H12, cố T18 thống nhất nội dung: Quyền sử dụng đất và tài sản trên đất thuộc về cả dòng họ, người sử dụng đất là tộc trưởng không được chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp bằng quyền sử dụng đất do cố H12, cố T18 để lại và huy động con cháu đóng góp tiền của, công sức xây dựng nhà thờ, xây dựng đường xá, chỉnh trang khu vườn làm nơi thờ phụng.
Năm 2017, ông Nguyễn Văn H3 người đang quản lý, sử dụng di sản cố Hồ, cố T18 để lại là người nghiện rượu, tinh thần không được sáng suốt nghe theo lời bàn bạc của vợ chồng ông Trần Văn Á, bà Trần Thị Song N1 tự ý làm thủ tục để được UBND huyện T, tỉnh Hà Tĩnh cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt là GCNQSD đất) cho ông Nguyễn Văn H3 và bà Nguyễn Thị H4 trên thửa đất là di sản thừa kế của cố Hồ, cố T18. Sau đó ông H3 và bà H4 lại chuyển nhượng số diện tích trên cho vợ chồng ông Á, bà N1, chỉ để lại một phần nhỏ diện tích đất cho gia đình ông H3 sinh sống.
Việc làm của ông Nguyễn Văn H3, bà Nguyễn Thị H4 và vợ chồng ông Trần Văn Á, bà Trần Thị Song N1 là trái pháp luật. Vì vậy, nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết:
- - Hủy GCNQSD đất số CK890064, ngày 10/10/2017 do UBND huyện T cấp cho bà Nguyễn Thị H4;
- - Hủy GCNQSD đất số CK890062 ngày 10/10/2017 do UBND huyện T cấp cho ông Nguyễn Văn H3;
- - Hủy GCNQSD đất số CK890063 ngày 10/10/2017 do UBND huyện T cấp cho ông Nguyễn Văn H3;
- - Hủy GCNQSD đất số CS910379 ngày 27/12/2019 do Sở T cấp cho ông Trần Văn Á, bà Trần Thị Song N1;
- - Hủy GCNQSD đất số CS 910385 ngày 27/12/2019 do Sở T cấp cho ông Nguyễn Văn H3;
- - Tuyên hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Văn H3 và bà Trần Thị Song N1, ông Trần Văn Á vô hiệu;
- - Tuyên hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất giữa bà Nguyễn Thị H4 và bà Trần Thị Song N1, ông Trần Văn Á vô hiệu;
- - Chia di sản thừa kế là quyền sử dụng đất thửa số 329, tờ bản đồ số 3, bản đồ 299, diện tích 3804m² tại xã T (nay là xã T), huyện T, tỉnh Hà Tĩnh và tài sản trên đất.
Bị đơn là ông Nguyễn Văn H3 trình bày:
Thửa đất nguyên đơn khởi kiện yêu cầu chia thừa kế có nguồn gốc là đất do cha ông để lại cho cố Nguyễn Văn H12, cố Nguyễn Thị T18. Sau khi cố H12, cố T18 mất thì giao lại cho cụ Nguyễn Văn H9 là bố đẻ của ông H3 và là tộc trưởng quản lý, sử dụng; sau khi ông H9 mất thì để lại cho ông H3 tiếp tục quản lý, sử dụng. Vào ngày 12/02/2013 (Âm lịch) thì cụ Nguyễn Văn V và cụ Nguyễn Thị L2 (là con của cố Hồ, cố T18) tổ chức họp con cháu để bàn về mảnh đất cha ông để lại mà ông H3 đang sử dụng; toàn bộ con, cháu của cố H12, cố T18 và hai người con của cố H12, cố T18 là cụ V và cụ L2 đã họp và thống nhất ghi bằng văn bản về việc làm Nhà thờ trên mảnh đất, anh em con cháu cam kết mảnh đất được sử dụng chung cho dòng họ, con cháu không được tự ý bán hay chuyển nhượng. Tuy nhiên vào dịp giỗ của cụ Nguyễn Văn H9, ông Trần Văn Á đã gọi ông H3, bà H4, bà H11 vào phòng kín họp, bàn bạc, ông Á nói với ông H3 hiện nay ông H3 nhiều đất nên chia cho các cháu, sau đó thống nhất chia cho bà H4, bà H11 mỗi người được 180m². Riêng bà T11 (đã mất) thì thống nhất dành 20.000.000 đồng để sửa lại mộ. Còn hồ sơ thủ tục phân chia, làm GCNQSD đất do ông Á đi làm toàn bộ. Ông H3 cho rằng vợ chồng ông Á, bà N1 đã lợi dụng việc ông thường say rượu để lừa dối ông chia thừa kế thửa đất để sau đó chuyển nhượng lại cho ông Á, bà N1. Theo thỏa thuận thì việc ông H3 chuyển nhượng đất cho ông Á, bà N1 với giá 1.000.000.000 đồng, nhưng đến thời điểm hiện nay ông Á, bà N1 mới trả cho ông H3 100.000.000 đồng. Ông H3 nhất trí với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của cụ Nguyễn Văn V và yêu cầu chia thừa kế theo quy định của pháp luật.
Bị đơn là ông Trần Văn Á trình bày:
Ông Á chỉ biết nguồn gốc thửa đất nêu trên là của ông Nguyễn Văn H3 và bà Nguyễn Thị H4 vì khi ông nhận chuyển nhượng thửa đất trên khi đã được cấp GCNQSD đất mang tên ông Nguyễn Văn H3, bà Nguyễn Thị H4. Khi thực hiện các giao dịch chuyển nhượng các bên đã trực tiếp đến UBND xã T, trên cơ sở hướng dẫn của chính quyền các bên thực hiện đầy đủ các thủ tục theo quy định. Khi nhận chuyển nhượng từ ông H3, bà H4 các bên đều tự nguyện không bị ai ép buộc, có sự chứng kiến và xác nhận của người có thẩm quyền và chính quyền địa phương. Tại biên bản lấy lời khai ngày 10/8/2022, ông Á trình bày ông nhận chuyển nhượng từ ông Nguyễn Văn H3 diện tích đất theo thoả thuận là 405,8m² đất và từ bà Nguyễn Thị H4 trong đó có cả đất của bà Nguyễn Thị H11 và ông Nguyễn Văn H3 nhưng cũng do bà H4 đứng tên là 2.328,6m² với tổng số tiền của hai thửa đất theo thoả thuận là 1.500.000.000 đồng. Trong đó phần đất của ông H3 gồm cả một phần đất do bà H4 đứng tên giá 1.000.000.000 đồng, phần đất của bà H4, bà H11 là 500.000.000 đồng. Đến thời điểm hiện nay ông Á đã trả cho ông H3 100.000.000 đồng, bà H4, bà H11 mỗi người 250.000.000 đồng.
Tuy nhiên tại bản tự khai ngày 03/02/2023 và tại phiên tòa sơ thẩm, ông Á trình bày ông Á nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Văn H3 với diện tích là 405,8m², giá chuyển nhượng 30.000.000 đồng, sau đó ông hỗ trợ cho ông H3 70.000.000 đồng và nhận chuyển nhượng từ bà Nguyễn Thị H4 với diện tích 2.328,6m², giá chuyển nhượng 200.000.000 đồng, sau khi hoàn tất việc cấp GCNQSD đất thì ông Á hỗ trợ thêm cho bà H4 50.000.000 đồng. Ông Á trình bày ông hoàn toàn không biết có cuộc họp của các anh, em, con cháu vào ngày 12/02/2013 về việc thống nhất dành thửa đất ông nhận chuyển nhượng từ ông H3, bà H4 vào việc sử dụng chung của dòng họ như cụ V trình bày. Ông chỉ biết khi ông nhận chuyển nhượng thửa đất nêu trên đã được cấp GCNQSD đất mang tên ông H3, bà H4. Vì vậy, ông Á không nhất trí các yêu cầu khởi kiện của cụ V vì ông nhận chuyển nhượng thửa đất từ ông H3, bà H4 hợp pháp.
Bị đơn là bà Trần Thị Song N1: Có quan điểm trình bày thống nhất với quan điểm của ông Trần Văn Á.
Bị đơn là bà Nguyễn Thị H4 trình bày: Thửa đất người khởi kiện yêu cầu chia thừa kế có nguồn gốc của bố mẹ bà H4 là cụ Nguyễn Văn H9 và cụ Nguyễn Thị B để lại, theo bản đồ 299, sổ mục kê thửa đất là thửa 329, tờ bản đồ số 3, diện tích 2.572m² mang tên Nguyễn Văn H9. Theo hồ sơ địa chính được đo đạc theo Quyết định 371/QĐ-UBND xác định thuộc thửa 479, tờ bản đồ 05, diện tích 3.804m², loại đất T, sổ mục kê mang tên chủ sử dụng đất là Nguyễn Văn H9. Cụ H9 chết ngày 20/4/1995, cụ B chết ngày 18/7/1990. Cụ H9, cụ B có 04 người con gồm: Bà Nguyễn Thị T11 (đã mất), ông Nguyễn Văn H3, bà Nguyễn Thị H11 và bà Nguyễn Thị H4. Cụ H9, cụ B chết không để lại di chúc, sau khi cụ H9, cụ B chết, thửa đất được anh trai là bà ông Nguyễn Văn H3 và chị dâu bà là bà Nguyễn Thị X tiếp tục sử dụng.
Năm 2017, các con, cháu của cụ H9, cụ B thỏa thuận thống nhất phân chia di sản thừa kế: Chia cho bà H4 diện tích 2.328,6m² tại thửa đất số 28, tờ bản đồ số 33, trong đó đất ở 1.000m², đất trồng cây lâu năm 1.328,6m². Chia cho ông Nguyễn Văn H3 diện tích 241,9m² tại thửa số 29, tờ bản đồ số 33, trong đó đất ở 100m², đất trồng cây lâu năm 141,9m², phần diện tích đất này được dùng làm nhà thờ. Chia cho ông Nguyễn Văn H3 diện tích 984,6m² tại thửa số 30, tờ bản đồ số 33, trong đó đất ở 400m², đất trồng cây lâu năm 584,6m².
Ngày 10/10/2017, bà được UBND huyện T cấp GCNQSD đất số CK 890064 đối với thửa đất số 28, tờ bản đồ số 33 diện tích 2.328,6m² tại thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh.
Ngày 29/11/2019, bà H4 và ông Trần Văn Á, bà Trần Thị Song N1 ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất với thửa đất số 28, tờ bản đồ số 33 diện tích 2.328,6m² với giá chuyển nhượng 200.000.000 đồng, ông Á đã giao đủ số tiền chuyển nhượng cho bà và bà đã bàn giao đất trên thực tế cho ông Á, bà N1. Sau khi hoàn tất việc cấp GCNQSD đất thì ông Á đã hỗ trợ thêm cho bà số tiền 50.000.000 đồng.
Bà H4 không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của cụ Nguyễn Văn V, vì thửa đất là tài sản của bố mẹ bà, các đồng thừa kế đã tiến hành họp phân chia đúng quy định của pháp luật, việc bà chuyển nhượng cho ông Trần Văn Á, bà Trần Thị Song N1 là có thật và đúng quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị H11: Có quan điểm trình bày thống nhất với bị đơn bà Nguyễn Thị H4 về nguồn gốc, quá trình sử dụng đất, quá trình phân chia thừa kế quyền sử dụng đất, chuyển nhượng quyền sự dụng thửa đất và quan điểm không đồng ý đối với yêu cầu khởi kiện của cụ Nguyễn Văn V.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Trần Văn T12, bà Trần Thị B1, ông Trần Văn H10: Có quan điểm trình bày thống nhất với ông Trần Văn Á về nguồn gốc thửa đất, quá trình sử dụng thửa đất, chia thừa kế thửa đất, đồng thời ông T12, bà B1, ông H10 đều từ chối nhận di sản thừa kế.
Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan gồm là ông Nguyễn Văn M, bà Trần Thị T4, bà Trần Thị N5, ông Trần Văn T1, bà Trần Thị T7, bà Trần Thị K, ông Trần Khánh T10, ông Trần Khánh T9, ông Trần Khánh Đ, anh Trần Văn S, anh Trần Văn T8, anh Nguyễn Anh T17, ông Nguyễn Ngọc T3, bà Phạm Thị Thanh H13, bà Nguyễn Thị Thu H5, bà Nguyễn Thị T14: Từ chối nhận phần di sản thừa kế và có nguyện vọng dành thửa đất để làm nơi sử dụng, thờ tự chung của dòng họ.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị S1: Có quan điểm thống nhất với nguyên đơn về nguồn gốc thửa đất yêu cầu Tòa án chia thừa kế theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn T20: Qua xác minh làm việc hiện nay không có căn cứ xác định ông T20 còn sống hay đã chết.
Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan gồm bà Trần Thị T2, Trần Thị K, ông Phạm Đức T6, ông Phạm Đức N4, anh Nguyễn Thành C3: Quá trình giải quyết vụ án Tòa án cấp sơ thẩm đã nhiều lần triệu tập làm việc, tuy nhiên các đương sự đều không có mặt làm việc, Tòa án cấp sơ thẩm cũng đã ủy thác cho các Tòa án địa phương ngoài địa bàn tỉnh Hà Tĩnh nơi những người này cư trú thu thập chứng cứ, lấy lời khai của các đương sự nhưng đến thời điểm hiện nay không có kết quả.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là UBND huyện T trình bày: Thửa đất người khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết có nguồn gốc:
- + Bản đồ đo đạc theo QĐ 299-TTg: Thuộc thửa 329, tờ bản đồ số 03, diện tích 2.572,0m², tên chủ sử dụng đất ghi trên bản đồ là H9; loại đất trên bản đồ không ghi.
- + Sổ mục kê của tờ bản đồ 299: Thuộc tờ bản đồ số 03, thửa số 329, diện tích 2.572,0m², tên chủ sử dụng đất ghi trên sổ mục kê là Nguyễn Văn H9.
- + Sổ Đăng ký ruộng đất (sổ 5b) lập trong quá trình thực hiện Chỉ thị 299 của xã T đã thất lạc, không còn lưu trữ tại huyện T. Tại huyện T còn lưu trữ Đơn xin đăng ký quyền sử dụng ruộng đất do cụ Nguyễn Văn H9 kê khai ngày 29/7/1985 tại thửa số 329, tờ bản đồ số 03, diện tích 2.572m², loại đất “T” (thổ cư), nguồn gốc là đất ông cha để lại.
- + Hồ sơ đo đạc theo Quyết định 371/QĐ-UBND: Thuộc thửa đất số 479, tờ bản đồ số 05, diện tích 3.804m², loại đất “T”.
- + Sổ mục kê của tờ bản đồ 371: Thuộc tờ bản đồ 05, thửa đất số 479, diện tích 3804m², loại đất: “T” (thổ cư) 200m², đất vườn 3.604m², tên chủ sử dụng đất là Nguyễn Văn H3.
Cụ Nguyễn Văn H9 chết ngày 20/4/1995, cụ Nguyễn Thị B (vợ cụ H9) chết ngày 18/7/1990, không để lại di chúc, các con cháu của cụ Nguyễn Văn H9 và cụ Nguyễn Thị B họp phân chia tài sản thừa kế, những người tham gia họp gồm: Các con của bà Nguyễn Thị T11 (con cụ H9), gồm: Ông Trần Văn Á, ông Trần Văn T12, bà Trần Thị B1; ông Nguyễn Văn H3 (con cụ H9), bà Nguyễn Thị H4 (con cụ H9), bà Nguyễn Thị H11 (con cụ H9). Tại văn bản phân chia tài sản thừa kế, các thành viên tham gia đã thống nhất phân chia cho bà Nguyễn Thị H4 được quyền sử dụng thửa đất số 28, tờ bản đồ số 33 với diện tích 2.328,6m² (trong đó đất ở 1.000m², đất trồng cây lâu năm 1.328,6m²); chia cho ông Nguyễn Văn H3 02 thửa, gồm: Thửa đất số 29, tờ bản đồ số 33, với diện tích 241,9m² (trong đó đất ở 100m², đất trồng cây lâu năm 141,9m²); thửa đất số 30, tờ bản đồ số 33 với diện tích 984,6m² (trong đó đất ở 400m², đất trồng cây lâu năm 584,6m²). Văn bản phân chia tài sản thừa kế được UBND xã T chứng thực ngày 07/8/2017 (số chứng thực 88 quyển 01/2017-SCT/CK, ĐC).
UBND huyện T cho rằng thửa đất cụ Nguyễn Văn H9, cụ Nguyễn Thị B có nguồn gốc là cha ông để lại cho vợ chồng cụ Nguyễn Văn H9, cụ H9 đã trực tiếp sinh sống trên thửa đất, đã kê khai đăng ký quyền sử dụng trong quá trình thực hiện Chỉ thị số 299-TTg ngày 10/11/1980 của Thủ tướng Chính phủ về công tác đo đạc, phân hạng và đăng ký thống kê ruộng đất trong cả nước (Đơn đăng ký lập ngày 29/7/1985). Vì vậy, việc cấp GCNQSD đất cho các con của cụ Nguyễn Văn H9 và cụ Nguyễn Thị B theo văn bản phân chia tài sản thừa kế là đúng quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là UBND xã T: Có quan điểm trình bày thống nhất với quan điểm của UBND huyện T và đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Sở T trình bày: GCNQSD đất số CS910379 ngày 27/12/2019 do Sở T cấp cho ông Trần Văn Á, bà Trần Thị Song N1 và GCNQSD đất số CS 910385 ngày 27/12/2019 do Sở T cấp cho ông Nguyễn Văn H3 được thực hiện theo thủ tục đăng ký biến động về quyền sử dụng đất trong trường hợp chuyển quyền sử dụng đất theo đúng quy định tại Điều 188 của Luật Đất đai năm 2013; Thẩm quyền cấp GCNQSD đất được thực hiện theo quy định tại Điều 37 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ. Do đó yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đề nghị hủy các GCNQSD đất do Sở T cấp nêu trên là không có cơ sở, không phù hợp với quy định của Luật Đất đai năm 2013.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đã tiến hành thủ tục xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản, xác minh làm rõ về nguồn gốc đất, quá trình sử dụng đất và hiện trạng sử dụng đất thực tế hiện nay. Theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ do Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tiến hành ngày 27/9/2022 thể hiện:
Diện tích thửa đất theo hiện trạng sử dụng là 3.447,5m², trong đó thửa đất số 39 mang tên ông Trần Văn Á, bà Trần Thị Song N1 có diện tích 2.701,5m²; thửa đất số 29 mang tên ông Nguyễn Văn H3 có diện tích 230,18m²; thửa đất số 38 mang tên ông Nguyễn Văn H3, có diện tích 515,82m². Về giá trị toàn bộ thửa đất theo kết quả định giá: Về đất ở: 1.500m² x 3.034.000đ/m² = 4.551.000.000 đồng; Về đất trồng cây lâu năm: 1.947,5m² x 58.500đ/m² = 113.928.750 đồng. Ngoài ra, Hội đồng định giá còn tiến hành định giá các tài sản trên đất như cây cối, công trình, hạng mục tài sản khác.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 02/2023/DS-ST ngày 24 tháng 3 năm 2023, Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đã quyết định:
Căn cứ khoản 3, khoản 5 Điều 26, khoản 1, khoản 4 Điều 34, điểm a khoản 1 Điều 37, khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Điều 32 Luật Tố tụng hành chính; các Điều 116, 117, 221, 500, 501, 502, 612, 623 Bộ luật Dân sự năm 2015; các Điều 98, 100, 166, 167, 170, 179, 188 Luật Đất đai năm 2013; Điều 37, khoản 2 Điều 18 Nghị Định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 được sửa đổi bổ sung tại khoản 16 Điều 12 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ; Án lệ số 03/2016/AL ngày 06/4/2016:
- - Đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu chia di sản thừa kế là tài sản trên đất của nguyên đơn cụ Nguyễn Văn V.
- - Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cụ Nguyễn Văn V về việc: Yêu cầu Tòa án tuyên hủy GCNQSD đất số CK890064, ngày 10/10/2017 do UBND huyện T cấp cho bà Nguyễn Thị H4; GCNQSD đất số CK890062 ngày 10/10/2017 do UBND huyện T cấp cho ông Nguyễn Văn H3; GCNQSD đất số CK890063 ngày 10/10/2017 do UBND huyện T cấp cho ông Nguyễn Văn H3; GCNQSD đất số CS910379 ngày 27/12/2019 do Sở T cấp cho ông Trần Văn Á, bà Trần Thị Song N1; GCNQSD đất số CS910385 ngày 27/12/2019 do Sở T cấp cho ông Nguyễn Văn H3; Yêu cầu Tuyên hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Văn H3 và bà Trần Thị Song N1, ông Trần Văn Á vô hiệu; Tuyên hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất giữa bà Nguyễn Thị H4 và bà Trần Thị Song N1, ông Trần Văn Á vô hiệu và không chấp nhận yêu cầu chia di sản thừa kế là quyền sử dụng đất thửa số 329, tờ bản đồ số 3, bản đồ 299, diện tích 3804m² tại xã T (nay là xã T), huyện T, tỉnh Hà Tĩnh.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí, chi phí tố tụng, nghĩa vụ thi hành án và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 06/4/2023, nguyên đơn là cụ Nguyễn Văn V kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, nội dung kháng cáo; Người đại diện theo ủy quyền và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm; Người đại diện theo ủy quyền và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm; Các đương sự giữ nguyên quan điểm đã trình bày và không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Đơn kháng cáo của cụ Nguyễn Văn V trong hạn luật định và hợp lệ nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm. Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa tuân theo pháp luật tố tụng dân sự. Các đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Có đủ cơ sở khẳng định diện tích đất đang có tranh chấp thuộc quyền sử dụng của cố Nguyễn Văn H12 chết năm 1964, cố Nguyễn Thị T18 chết ngày 01/10/1990 để lại không có di chúc; các đồng thừa kế đều thừa nhận di sản thừa kế là một thửa đất vườn có diện tích 3.804m² đất tại thửa đất số 329, tờ bản đồ số 3, bản đồ 299 xã T (nay là xã T), huyện T, tỉnh Hà Tĩnh và một ngôi nhà 03 gian gỗ lim, cây cối trong vườn là di sản thừa kế. Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng hồ sơ quản lý, lưu trữ không còn, không có căn cứ xác định tài sản trên của hai cố mà chỉ xác định ông H9 ở trên đất, kê khai tài sản nên là tài sản của ông H9 là mâu thuẫn với thừa nhận của các đương sự về nguồn gốc đất. Mặt khác, Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng Án lệ 03/2016/AL ngày 06/4/2016 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao là không phù hợp. Do đó, có cơ sở chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn. Căn cứ Điều 308, Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm theo hướng xác định di sản là của cố H12, cố T18 và xem xét lại Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên và các đương sự về việc giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử (HĐXX) phúc thẩm nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng:
[1.1]. Nguyên đơn là cụ Nguyễn Văn V khởi kiện đề nghị hủy GCNQSD đất số CK890064, ngày 10/10/2017 do UBND huyện T cấp cho bà Nguyễn Thị H4; GCNQSD đất số CK890062 ngày 10/10/2017 do UBND huyện T cấp cho ông Nguyễn Văn H3; GCNQSD đất số CK890063 ngày 10/10/2017 do UBND huyện T cấp cho ông Nguyễn Văn H3; GCNQSD đất số CS910379 ngày 27/12/2019 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh H cấp cho ông Trần Văn Á, bà Trần Thị Song N1; GCNQSD đất số CS 910385 ngày 27/12/2019 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh H cấp cho ông Nguyễn Văn H3; Tuyên hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Văn H3 và bà Trần Thị Song N1, ông Trần Văn Á vô hiệu; Tuyên hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất giữa bà Nguyễn Thị H4 và bà Trần Thị Song N1, ông Trần Văn Á vô hiệu; Chia di sản thừa kế là quyền sử dụng đất thửa số 329, tờ bản đồ số 3, bản đồ 299, diện tích 3804m² tại xã T (nay là xã T), huyện T, tỉnh Hà Tĩnh và tài sản trên đất.
Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh thụ lý và giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm là đúng quy định tại khoản 3, khoản 5 Điều 26; Điều 34; Điều 37; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 32 Luật Tố tụng hành chính.
[1.2]. Tại phiên tòa phúc thẩm, một số đương sự vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt; một số đương sự vắng mặt nhưng có mặt người đại diện theo ủy quyền; một số đương sự vắng mặt nhưng không có kháng cáo và đã được triệu tập hợp lệ 02 lần nên căn cứ quy định tại Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, HĐXX quyết định tiếp tục xét xử.
[2]. Xét kháng cáo của nguyên đơn là cụ Nguyễn Văn V, HĐXX thấy:
[2.1]. Cố Nguyễn Văn H12 chết năm 1964, cố Nguyễn Thị T18 chết ngày 01/10/1990. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 623 Bộ luật Dân sự; khoản 4 Điều 36 Pháp lệnh thừa kế ngày 30/8/1990; mục 10 Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 19/10/1990 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn các Toà án nhân dân các cấp áp dụng một số quy định của Pháp lệnh thừa kế về thời hiệu khởi kiện; Giải đáp số 01/GĐ-TANDTC (quy định về trường hợp mở thừa kế trước ngày 10/9/1990 thì thời hiệu khởi kiện được tính từ ngày 10/9/1990) thì ngày 26/8/2020, cụ Nguyễn Văn V khởi kiện yêu cầu chia thừa kế là còn trong thời hiệu khởi kiện.
[2.2]. Tài liệu hồ sơ vụ án thể hiện các bên đương sự cơ bản đều thừa nhận nguồn gốc diện tích 3.804m² đất vườn tại thửa đất số 329, tờ bản đồ số 3, bản đồ 299 xã T (nay là xã T, huyện T), một ngôi nhà 03 gian gỗ Lim và cây cối trong vườn là do cha ông để lại cho cố Nguyễn Văn H12 và cố Nguyễn Thị T18. Quá trình sử dụng đất, cố Nguyễn Văn H12 chết năm 1964, cố Nguyễn Thị T18 chết ngày 01/10/1990 đều không để lại di chúc. Sau khi cố Hồ, cố T18 chết, cụ Nguyễn Văn H9 là con trai trưởng tiếp tục quản lý, sử dụng đất vườn, nhà đất nói trên. Đến năm 1995 cụ H9 chết, con trai cả của cụ H9 và là cháu đích tôn của cố H12, cố T18 là ông Nguyễn Văn H3 tiếp tục quản lý, sử dụng.
Căn cứ các tài liệu chứng cứ và trình bày của các bên đương sự thể hiện cụ Nguyễn Văn H9 sau khi kết hôn cùng cụ Nguyễn Thị B đã về sinh sống trên thửa đất vào khoảng năm 1966. Vì cụ Nguyễn Văn H9 là con trưởng nên theo truyền thống gia đình cụ có trách nhiệm quản lý thửa đất, giai đoạn này còn có vợ chồng cụ Nguyễn Văn T20 thi thoảng đi lại chăm sóc bố mẹ nhưng không ở cố định trên đất. Như vậy, có thể xác định vì là con trưởng nên cụ H9 mới được quản lý, sử dụng thửa đất và sau đó đăng ký quyền sử dụng đất theo Chỉ thị số 299-TTg ngày 10/11/1980 của Thủ tưởng Chính phủ về công tác đo đạc, phân hạng và đăng ký thống kê ruộng đất trong cả nước năm 1985 (đơn đăng ký lập ngày 29/7/1985). Qua đó, hồ sơ quản lý địa chính tại địa phương như Bản đồ đo đạc theo QĐ 299-TTg, Sổ mục kê của tờ bản đồ 299 mới thể hiện tên chủ sử dụng đất là Nguyễn Văn H9. Tuy nhiên, tại huyện T còn lưu trữ Đơn xin đăng ký quyền sử dụng ruộng đất do cụ Nguyễn Văn H9 kê khai ngày 29/7/1985 tại thửa số 329, tờ bản đồ số 03, diện tích 2.572m², loại đất “T” (thổ cư) thể hiện nguồn gốc là đất ông cha để lại. Như vậy, việc cụ H9 được cấp GCNQSD đất là trên cơ sở nguồn gốc đất cha ông để lại, nhưng để lại trên cơ sở nào, có hợp pháp hay không thì không đủ cơ sở xác định do tài liệu địa chính lưu trữ tại địa phương cũng như tài liệu có trong hồ sơ vụ án đều không thể hiện việc cụ Nguyễn Văn H9 quản lý, sử dụng và kê khai quyền sử dụng đất trên cơ sở nhận tặng cho, nhận thừa kế hay thỏa thuận phân chia di sản của các đồng thừa kế.
Ngoài ra, tại Biên bản họp con cháu nội tộc nhánh Ất vào ngày 12/02/2013 (Âm Lịch) có 02 nội dung chính thể hiện việc sử dụng thửa đất do cha ông để lại và bàn kế hoạch xây dựng nhà thờ của dòng họ, cuộc họp có sự tham gia của ông Nguyễn Văn H3 là người đang trực tiếp quản lý, sử dụng thửa đất sau khi cụ H9 chết, mặc dù không được cơ quan có thẩm quyền xác nhận, chứng thực nhưng có nội dung về cơ bản phù hợp khi xác định diện tích đất đang tranh chấp là tài sản của cố H12, cố T18 để lại. Biên bản này bản thân bị đơn là ông H3 cũng thừa nhận.
Do đó, mặc dù vợ chồng cụ Nguyễn Văn H9 đã sử dụng đất ổn định, liên tục và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính trên đất và đã đăng ký quyền sử dụng đất từ năm 1985, nhưng không đồng nghĩa thửa đất thuộc quyền sử dụng hợp pháp của cụ H9, cụ B mà như đã phân tích ở trên, cụ H9 chỉ là đại diện của các đồng thừa kế quản lý, sử dụng đất, có đủ cơ sở khẳng định nguồn gốc diện tích đất đang tranh chấp là của cố Nguyễn Văn H12, cố Nguyễn Thị T18 để lại, các cố chết không để lại di chúc, các đồng thừa kế chưa tiến hành thỏa thuận phân chia di sản thừa kế, thời hiệu khởi kiện chia thừa kế vẫn còn nên việc Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện chia thừa kế của nguyên đơn là không phù hợp quy định pháp luật, làm ảnh hưởng tới quyền và lợi ích hợp pháp của các đồng thừa kế của cố H12, cố T18.
[2.3]. Việc Tòa án cấp sơ thẩm xác định áp dụng Án lệ 03/2016/AL ngày 06/4/2016 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao để giải quyết vụ án này là không chính xác. Án lệ 03/2016/AL áp dụng trong trường hợp: Cha mẹ đã cho vợ chồng người con một diện tích đất và vợ chồng người con đã xây dựng nhà kiên cố trên diện tích đất đó để làm nơi ở, khi vợ chồng người con xây dựng nhà thì cha mẹ và những người khác trong gia đình không có ý kiến phản đối gì; vợ chồng người con đã sử dụng nhà, đất liên tục, công khai, ổn định và đã tiến hành việc kê khai đất, được cấp GCNQSD đất. Nội dung vụ án này không phù hợp với Án lệ 03/2016/AL, thể hiện ở việc tại thời điểm cụ H9 kê khai quyền sử dụng đất thì cố H12 đã chết, ít nhất ½ di sản thuộc về cố Hồ, tài liệu hồ sơ vụ án cũng không thể hiện cố H12, cố T18 tại thời điểm còn sống đã tặng cho, chuyển nhượng nhà đất cho cụ H9, cụ B; với phần di sản thuộc về cố H12 thì không thể mặc nhiên để cụ H9 sử dụng đất nếu như không thực hiện theo thủ tục tặng cho, chuyển nhượng hoặc khai nhận, thỏa thuận phân chia di sản thừa kế... của các đồng thừa kế của cố H12.
[2.4]. Như vậy, với việc xác định quyền sử dụng đất thửa số 329, tờ bản đồ số 3, bản đồ 299, diện tích 3804m² tại xã T (nay là xã T), huyện T, tỉnh Hà Tĩnh và tài sản trên đất là di sản thừa kế của cố Nguyễn Văn H12, cố Nguyễn Thị T18 để lại thì yêu cầu hủy các GCNQSD đất và tuyên bố các Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu của nguyên đơn là có cơ sở để xem xét.
[3]. Việc xác định diện và hàng thừa kế, diện tích di sản thừa kế theo hiện trạng, công sức quản lý, tôn tạo, giá đất, nguyện vọng của các đồng thừa kế tại thời điểm xét xử phúc thẩm cũng như phương án phân chia di sản thừa kế theo giá trị hay hiện vật không thể khắc phục được tại Tòa án cấp phúc thẩm. Vì vậy, cần thiết phải hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm mới đảm bảo giải quyết vụ án được khách quan, toàn diện, triệt để.
Khi cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo trình tự sơ thẩm cần lưu ý thời điểm mở thừa kế của cố T18. Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện cho ông Á, bà N1 có xuất trình bản chụp bia mộ của cố T18 thể hiện cố T18 mất năm 1989 nên cho rằng thời hiệu yêu cầu chia thừa kế di sản của cố T18, cố H12 đều đã hết. Còn phía nguyên đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều không đưa ra được tài liệu, chứng cứ xác thực về ngày cố T18 mất.
[4]. Về án phí: Do bản án sơ thẩm bị hủy nên người kháng cáo không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Án phí dân sự sơ thẩm sẽ được xác định khi giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ Điều 308, Điều 310 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
QUYẾT ĐỊNH:
- Chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn là cụ Nguyễn Văn V; Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 02/2023/DS-ST ngày 24 tháng 3 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
- Cụ Nguyễn Văn V không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Án phí dân sự sơ thẩm sẽ được xác định khi giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Phạm Văn Tuyển |
Bản án số 447/2024/DS-PT ngày 22/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về tranh chấp di sản thừa kế; yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu; yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Số bản án: 447/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp di sản thừa kế; yêu cầu tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu; yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 22/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết: - Hủy GCNQSD đất số CK890064, ngày 10/10/2017 cấp cho bà Nguyễn Thị H; - Hủy GCNQSD đất số CK890062 ngày 10/10/2017 cấp cho ông Nguyễn Văn H; - Hủy GCNQSD đất số CK890063 ngày 10/10/2017 cấp cho ông Nguyễn Văn H; - Hủy GCNQSD đất số CS910379 ngày 27/12/2019 cấp cho ông Trần Văn A, bà Trần Thị Song N; - Hủy GCNQSD đất số CS 910385 ngày 27/12/2019 cấp cho ông Nguyễn Văn H; - Tuyên hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Văn H và bà Trần Thị Song N, ông Trần Văn A vô hiệu; - Tuyên hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất giữa bà Nguyễn Thị H và bà Trần Thị Song N, ông Trần Văn A vô hiệu; - Chia di sản thừa kế là quyền sử dụng đất thửa số 329, tờ bản đồ số 3, bản đồ 299, diện tích 3804m2 tại xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh và tài sản trên đất.
