|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 447/2025/DS-ST
Ngày: 19-6-2025
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Tuý Như
Các Hội thẩm nhân dân:
- Lâm Bình Đăng
- Nguyễn Văn Quản
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lê – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc – Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 1113/2024/TLST-DS ngày 28 tháng 11 năm 2024 về tranh chấp hợp đồng tín dụng, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 589/2025/QĐXXST-DS ngày 05 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 743/2025/QĐST-DS ngày 26 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1974
Trụ sở: Lầu A, 2 N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Lã Ngọc M – Sinh năm 1970 là đại diện theo ủy quyền (Theo giấy ủy quyền số 2562/2023/UQ-TGĐ ngày 16 tháng 8 năm 2023)
Địa chỉ liên hệ: 278 N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn có đơn xin vắng mặt.
Địa chỉ: 1 đường T, Tổ C, Khu phố C (Nay là Khu phố B), phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị đơn vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Về nội dung, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Trong đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Ngày 20/4/2020, ông Nguyễn Văn H có ký với Ngân hàng TMCP S (gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp Thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng Thẻ tín dụng của Ngân hàng- các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của ông Nguyễn Văn H, Ngân hàng đã đồng ý cấp Thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 100.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân.
Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, ông Nguyễn Văn H đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 90.000.000 đồng.
Trong quá trình sử dụng Thẻ tín dụng, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay, ông Nguyễn Văn H đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 37.422.090 đồng theo thứ tự thanh toán quy định tại theo Điều 21 của Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng Thẻ tín dụng của N hang, cụ thể như sau: Các khoản phí và/ hoặc lãi của kỳ trước; Giao dịch rút tiền mặt của kỳ trước; Giao dịch mua hàng hóa của kỳ trước; Các khoản phí và/ hoặc lãi trong kỳ; Giao dịch rút tiền mặt trong kỳ; Giao dịch mua hàng hóa trong kỳ.
Ông H đã ngưng không trả nợ cho ngân hàng từ ngày 05/12/2021. Do ông H vi phạm nghĩa vụ thanh toán tại Điều 18 của Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng nên ngày 06/02/2022, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng Thẻ tín dụng và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn theo Điều 24 của Điều khoản và điều kiện hành sử dụng Thẻ tín dụng của Ngân hàng. Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ tại thời điểm này là 111.872.075 đồng sang nợ quá hạn (gọi là nợ gốc) và tính lãi quá hạn hàng tháng trên dư nợ quá hạn, áp dụng lãi suất nợ quá hạn là 150% của lãi suất được công bố và áp dụng tại thời điểm hiện tại, lãi suất trong hạn là 2.6%/tháng x 150%= 3.9%/tháng lãi quá hạn.
Tạm tính đến hết ngày 19/6/2025, ông Nguyễn Văn H còn nợ ngân hàng tổng số tiền là 276.994.655 (Hai trăm bảy mươi sáu triệu chín trăm chín mươi bốn ngàn sáu trăm năm mươi lăm) đồng. Trong đó: Nợ gốc là 111.872.075 (Một trăm mười một triệu tám trăm bảy mươi hai ngàn không trăm bảy mươi lăm) đồng; Lãi quá hạn là 165.122.580 (Một trăm sáu mươi lăm triệu một trăm hai mươi hai ngàn năm trăm tám mươi) đồng.
Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết:
Buộc bị đơn ông Nguyễn Văn H phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền nợ phát sinh theo Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng ngày 20 tháng 4 năm 2020 tạm tính đến hết ngày 19 tháng 6 năm 2025 là 276.994.655 (Hai trăm bảy mươi sáu triệu chín trăm chín mươi bốn ngàn sáu trăm năm mươi lăm) đồng. Trong đó: Nợ gốc là 111.872.075 (Một trăm mười một triệu tám trăm bảy mươi hai ngàn không trăm bảy mươi lăm) đồng; Lãi quá hạn là 165.122.580 (Một trăm sáu mươi lăm triệu một trăm hai mươi hai ngàn năm trăm tám mươi) đồng.
Đồng thời, buộc ông Nguyễn Văn H phải tiếp tục trả lãi phát sinh kể từ ngày 20 tháng 6 tháng 2025 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.
Buộc ông Nguyễn Văn H phải trả cho Ngân hàng toàn bộ số tiền nêu trên một lần ngay sau khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
* Về ý kiến, đề nghị của bị đơn:
Trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án, bị đơn không đến Tòa cũng không gửi bất kỳ văn bản ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn mặc dù đã được Tòa án nhân dân Quận 12 tống đạt thông báo thụ lý, giấy triệu tập cũng như thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải để đến Tòa án để giải quyết vụ kiện.
* Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 12 tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Thủ tục khởi kiện và thụ lý vụ án thực hiện đúng quy định của pháp luật. Tòa án thụ lý đúng thẩm quyền. Việc tống đạt các văn bản tố tụng và chuyển hồ sơ cho Viện Kiểm sát nghiên cứu thực hiện đúng theo quy định pháp luật. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử tuân theo quy định của pháp luật Tố tụng dân sự. Viện kiểm sát kiến nghị về thời hạn chuẩn bị xét xử chưa đảm bảo theo quy định pháp luật. Ngoài ra còn nhận xét về việc tham gia tố tụng của các đương sự.
Về nội dung: Đề nghị Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả tiền vốn và lãi phát sinh từ hợp đồng tín dụng do hai bên đã xác lập. Đây là quan hệ pháp luật “Tranh chấp về hợp đồng tín dụng”. Bị đơn cư trú tại địa chỉ: 1 đường T, Tổ C, Khu phố C (Nay là Khu phố B), phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Do đo, theo quy định tại các Điều 26, 35, 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
[2] Về thủ tục tố tụng:
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa nhưng vắng mặt không rõ lý do nên theo quy định tại các điểm a và b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
[3] Về các yêu cầu của nguyên đơn:
Căn cứ vào lời khai của nguyên đơn; căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở để xác định:
Ngân hàng TMCP S là tổ chức tín dụng hoạt động theo Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi bổ sung năm 2017, được cấp tín dụng theo hình thức "cho vay” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 98 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Ngày 20 tháng 4 năm 2020, ông H có ký với Ngân hàng TMCP S Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp Thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng Thẻ tín dụng của Ngân hàng) hạn mức sử dụng là 100.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân. Việc nguyên đơn và bị đơn giao kết hợp đồng tín dụng là tự nguyện, phù hợp với quy định pháp luật.
Từ ngày 05 tháng 12 năm 2021, bị đơn đã ngưng không trả tiền cho ngân hàng. Do đó, bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán tại Điều 18 của Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng. Ngân hàng căn cứ vào Điều 24 của Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng để đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu của ông H sang nợ quá hạn từ ngày 06/02/2022 là có cơ sở.
Căn cứ vào Điều 23, 24 Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng, Khoản 2 Điều 91 Luật tổ chức tín dụng năm 2010 về Lãi suất, phí trong hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng về Lãi suất, phí trong hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng thì yêu cầu bị đơn phải trả tiền lãi của nguyên đơn là phù hợp.
Do đó, việc nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn phải trả một lần ngay sau khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật toàn bộ số tiền nợ gốc và nợ lãi chưa thanh toán tạm tính đến hết ngày 19/6/2025 là 276.994.655 (Hai trăm bảy mươi sáu triệu chín trăm chín mươi bốn ngàn sáu trăm năm mươi lăm) đồng và yêu cầu tiền lãi phát sinh từ ngày 20/6/2025 cho đến khi trả hết nợ là hoàn toàn có cơ sở chấp nhận, phù hợp với quan điểm của Viện kiểm sát.
[4] Về án phí:
Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí sơ thẩm đối với vụ án về tranh chấp dân sự có giá ngạch.
Hoàn trả cho nguyên đơn toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp khi khởi kiện.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 227, 228, 271, 273, 278 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 2 Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Căn cứ vào các Điều 2, 6, 7, 9, 30 Luật Thi hành án Dân sự;
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
- Về án phí:
- Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu thi hành án:
- Quyền kháng cáo:
Buộc ông Nguyễn Văn H phải trả cho Ngân hàng TMCP S tổng số tiền nợ phát sinh theo Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng ngày 20 tháng 4 năm 2020 tạm tính đến hết ngày 19 tháng 6 năm 2025 là 276.994.655 (Hai trăm bảy mươi sáu triệu chín trăm chín mươi bốn ngàn sáu trăm năm mươi lăm) đồng. Trong đó: Nợ gốc là 111.872.075 (Một trăm mười một triệu tám trăm bảy mươi hai ngàn không trăm bảy mươi lăm) đồng; Lãi quá hạn là 165.122.580 (Một trăm sáu mươi lăm triệu một trăm hai mươi hai ngàn năm trăm tám mươi) đồng.
Buộc ông Nguyễn Văn H phải tiếp tục trả các khoản lãi phát sinh theo thỏa thuận với Ngân hàng TMCP S kể từ ngày 20 tháng 6 năm 2025 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.
Ông Nguyễn Văn H có nghĩa vụ phải trả cho Ngân hàng TMCP S một lần toàn bộ số tiền nêu trên ngay sau khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
2.1 Buộc ông Nguyễn Văn H phải chịu án phí sơ thẩm đối với vụ án về tranh chấp dân sự có giá ngạch là 13.849.733 (Mười ba triệu tám trăm bốn mươi chín ngàn bảy trăm ba mươi ba) đồng.
2.2 Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP S toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp khi khởi kiện là 4.629.260 (Bốn triệu sáu trăm hai mươi chín ngàn hai trăm sáu mươi) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2023/0030632 ngày 09/10/2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án Dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Túy Như |
Bản án số 447/2025/DS-ST ngày 19/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 447/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
