Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 447/2024/HS-ST

Ngày: 06-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Đặng Hồng Sơn

  • Thẩm phán: Ông Ngô Đức Thụ

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Võ Quang Cảnh

  2. Bà Nguyễn Thị Hoa Tâm

  3. Ông Lê Nguyên Thanh

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Trung Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Út - Kiểm sát viên.

Trong ngày 06 tháng 9 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên toà công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 546/2024/TLST-HS ngày 18/7/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 4815/2024/QĐXXST-HS ngày 27/8/2024, đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Bảo T; giới tính: Nam; sinh ngày 24 tháng 5 năm 1995, tại tỉnh Tây Ninh; hộ khẩu thường trú: 2 P, Tổ A, Khu phố A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; chỗ ở trước khi bị bắt: 18A, Tổ C, Khu phố C, phường H, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Cao Đài; trình độ học vấn: 6/12; nghề nghiệp: làm thuê; con ông Nguyễn Thanh K, sinh năm 1958 và bà Nguyễn Thị Hồng N, sinh năm 1967; gia đình bị cáo có 03 anh, chị, em ruột, bị cáo là con thứ 3; bị cáo có vợ là Thị Kim P, sinh năm 2003 và có 01con, sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân: Ngày 15/5/2019, bị Tòa án nhân dân Quận 12 áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 15 tháng tại Cơ sở cai nghiện số A1, huyện T, tỉnh Đắk Nông, chấp hành xong ngày 26/5/2020.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 22/3/2023 tại Trại tạm giam C, Công an Thành phố H. (Có mặt tại phiên tòa).

- Người bào chữa cho bị cáo Trần Bảo T1: Ông Nguyễn Trung C, Luật sư của Công ty L2, Đoàn luật sư Thành phố H. (Có mặt tại phiên tòa).

2. Lê Trọng Q; giới tính: Nam; sinh ngày 01 tháng 11 năm 2000, tại tỉnh Thanh Hóa; hộ khẩu thường trú: Thôn T, xã M, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; chỗ ở trước khi bị bắt: 2384/23/21, Tổ C, Khu phố E, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 8/12; nghề nghiệp: làm thuê; con ông Lê Trọng T2, sinh năm 1979 và bà Lê Thị M, sinh năm 1978; gia đình bị cáo có 02 anh, em, bị cáo là con lớn và chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân: Ngày 12/3/2019, bị Tòa án nhân dân Quận 12 áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 18 tháng tại Cơ sở cai nghiện số 1 xã Đ, huyện T, tỉnh Đắk Nông, chấp hành xong ngày 30/6/2020.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 22/3/2023 tại Trại tạm giam C, Công an Thành phố H. (Có mặt tại phiên tòa).

- Người bào chữa cho bị cáo Lê Trọng Q: Bà Trần Thị Huy C1, Luật sư của Công ty L3, Đoàn luật sư Thành phố H. (Có mặt tại phiên tòa).

3. Lương Trung N1; giới tính: Nam; sinh ngày 01 tháng 8 năm 1999, tại Thành phố Hồ Chí Minh; hộ khẩu thường trú: A Khu phố C, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở trước khi bị bắt: 62/6 X, ấp C, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 8/12; nghề nghiệp: làm thuê; con ông Lương Tô H, sinh năm 1971 và bà Nguyễn Thị Kim A, sinh năm 1962; gia đình bị cáo có 02 anh, em và bị cáo là con thứ hai; bị cáo có vợ là Huỳnh Thị Tuyết V, sinh năm 2000 và có 02 người con (con lớn, sinh năm 2019 và con nhỏ, sinh năm 2023); tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 22/3/2023 tại Trại tạm giam C, Công an Thành phố H. (Có mặt tại phiên tòa).

- Người bào chữa cho bị cáo Lương Trung N1: Ông Chung Ngọc T3, là Luật sư thuộc Công ty L4, Đoàn Luật sư Thành phố H. (Có mặt tại phiên tòa).

- Bị hại: Trần Lộc T4, sinh năm 1998

Hộ khẩu thường trú: Xóm C, thôn A, xã G, huyện T, tỉnh Bình Thuận; (Có mặt tại phiên tòa).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Huỳnh Thị Tuyết V, sinh năm 2000

    Trú tại: 6 X, ấp C, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt tại phiên tòa);

  2. Nguyễn Thanh K, sinh năm 1958

  1. Trú tại: 2 P, Tổ A, Khu phố A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh. (Vắng mặt tại phiên tòa);

  2. Lê Thị M, sinh năm 1978

    Trú tại: 2384/23/21 Tổ C, Khu phố E, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Trọng Q, Nguyễn Bảo T quen biết với nhau do cùng bị Tòa án nhân dân Quận 12 áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 1, địa chỉ tại Thôn B, xã Đ, huyện T, tỉnh Đắk Nông, Lương Trung N1 là bạn học của Q.

Khoảng 21 giờ ngày 02/4/2022, Lê Trọng Q đang uống rượu, bia tại nhà trọ số 2384/23/21 Tổ C, Khu phố E, phường T, Quận A thì Nguyễn Bảo T gọi điện thoại cho Q hỏi mượn mã tấu và nhờ Q cùng đi giải quyết mâu thuẫn với một thanh niên (không rõ lai lịch) tên “Mướp” Q đồng ý. Sau đó, Q đi lên gác nhà trọ lấy 02 cây mã tấu (01 cây dài 94,5 cm, lưỡi dao dài 43,5cm x 7,5 cm; 01 cây dài 63,5 cm, lưỡi dao dài 45,5 cm x 5,5 cm) rồi điện thoại cho L Trung Nghĩa đến đón Q đi giải quyết mâu thuẫn cho T, N1 đồng ý và điều khiển xe môtô hiệu Sonic (chưa đăng ký biển số) đến chở Q mang theo mã tấu chạy đến ngã tư đường S và Nguyễn Ảnh T5 gặp T đang đứng đợi tại đây. Sau đó, N1 chở Q, còn T chạy xe môtô biển số 5158-2069 đi tìm thanh niên tên “Mướp” giải quyết mâu thuẫn.

Khi N1 chở Q lưu thông trên đường N thuộc Khu phố C, phường T, Quận A, thì anh Trần Lộc T4 điều khiển xe môtô biển số 94F1-195.45 chạy cùng chiều vượt qua xe của N1. Lúc này, N1 và Q nghĩ anh T4 vượt xe qua và nẹt pô, nên đuổi theo. Khi đến trước nhà địa chỉ số C đường N, Khu phố C, phường T, Quận A, anh T4 dừng xe chờ đèn đỏ, thì N1 quay sang hỏi T về việc anh T4 chạy nẹt pô, thì T hô “đánh nó đi... đánh nó đi...” N1 điều khiển xe từ sau vượt lên áp sát bên trái xe anh T4, để Q ngồi phía sau dùng mã tấu chém trúng phần vai trái của anh T4. Anh T4 tăng ga bỏ chạy nên N1 đuổi theo dùng chân phải đạp vào xe làm cho anh T4 ngã xuống đường, Q xuống xe dùng mã tấu chém vào lưng của anh T4. Anh T4 bỏ xe chạy bộ (khoảng 100m) trốn vào cửa hàng bán đồ gỗ địa chỉ số A đường N, Khu phố C, phường T, Quận A. Q cầm mã tấu tiếp tục đuổi theo vào cửa hàng dùng mã tấu chém nhưng không trúng, do cán dao mã tấu bị gãy, Q khom người xuống bẻ gãy cán gỗ, làm cây mã tấu Q cất giấu trong người rơi xuống đất, nên N1 chạy đến nhặt lấy cùng với T chạy theo chém anh T4. Khi Q rượt đuổi anh T4 trong cửa hàng gỗ đến cuối nhà thì Q đuổi kịp và dùng mã tấu chém 02 nhát từ trên xuống

trúng vào đầu của anh T4 làm vỡ mũ bảo hiểm (do anh T4 đội mũ bảo hiểm), Q tiếp tục chém thì anh T4 đưa tay trái lên đỡ rồi bỏ chạy ra khỏi cửa hàng gỗ một đoạn thì nằm bất tỉnh đối diện nhà số C đường B, Khu phố C, phường T, Quận A và được người dân phát hiện điện thoại cho Trung tâm cấp cứu đến đưa anh T4 đi cấp cứu tại Bệnh viện Q2.

Sau khi gây thương tích cho anh T4, Q tiếp tục mang theo hung khí cùng N1 và T đến khu vực phường H để giải quyết mâu thuẫn cho T, nhưng do không tìm được thanh niên tên “Mướp” nên Q nói tất cả quay về nhà Q để uống rượu, bia. Khi N1 chở Q lưu thông đến đối diện nhà số A đường N, phường T, Quận A thì xe môtô do N1 điều khiển va chạm với xe môtô biển số 59G1-219.57, do ông Đoàn Long K1 điều khiển gây tai nạn. Ông K1 bị đa chấn thương được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Q2. N1 và Q cũng bị thương được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Q3.

Qua điều tra, ngày 06/3/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, Quyết định khởi tố bị can, Lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Nguyễn Bảo T, Lê Trọng Q và Lương Trung N1, về tội “Giết người”.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H, Nguyễn Bảo T, Lê Trọng Q và Lương Trung N1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 446/TgT.22 ngày 10/6/2022 của Trung tâm Pháp y Sở y tế Thành phố H, về thương tích của anh Trần Lộc T4:

  • - Hai vết thương phần mềm vùng bả vai trái đã được điều trị, hiện còn:

    • + Một sẹo kích thước 4,8 x (0,2-0,5) cm (ảnh 1.1). Có tỉ lệ 1%.

    • + Một sẹo kích thước 6 x (0,1-0,3) cm có đuôi tận nông là vết tăng sắc tố kích thước 6 x 0,1cm (ảnh 1.2). Có tỉ lệ 2,5%.

  • Hai thương tích trên do vật sắc, vật sắc nhọn hoặc vật có cạnh sắc tác động gây ra, không nguy hiểm đến tính mạng đương sự.

  • - Vết thương chẻ dọc bàn tay trái gây đứt da, đứt gân gấp nông sâu, cơ duỗi chung riêng ngón 2, cơ gian cốt 2-3, cơ sấp vuông, cung động mạch gan tay nông, gãy xương quay, xương bàn ngón 3 và xương cả đã được điều trị, hiện còn:

    • + Một sẹo chém trùng sẹo mổ kích thước 37 x (0,1-0,7) cm (ảnh 2, 3).

    • + Hình ảnh kết hợp xương trên phim X-quang (ảnh 4), dính bao gân gấp cổ bàn tay trên siêu âm.

    • + Tổn thương thần kinh giữa ngay dưới vị trí vết thương trên điện cơ đồ.

    • + Hạn chế gấp ngón 1, 2, 3; đốt ngón 1, giảm cảm giác vùng ba ngón rưỡi ngoài mặt lòng bàn ngón tay và vùng đốt 2-3 mặt mu các ngón 1, 2, 3 và nửa ngoài ngón 4 do tổn thương thần kinh (ảnh 5, 6).

    • + Hạn chế gấp duỗi cổ tay, không cứng khớp do dính gân và gãy xương (ảnh 7, 8).

    • + Hạn chế một phần gấp khớp liên đốt và cứng khớp ngón 5 và 4, hạn chế duỗi các ngón do dính bao gân vùng cổ tay (ảnh 5, 6, 8, 9).

  • Có tỉ lệ 36%.

  • Thương tích trên do vật sắc, vật sắc nhọn tác động gây ra, gây nguy hiểm đến tính mạng đương sự.

  • Cộng các tỉ lệ trên theo quy định tại Thông tư 22/2019/TT-BYT sẽ ra tỷ lệ 38%.

  • Theo thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 38%.

* Vật chứng thu giữ:

  • -Thu giữ tại hiện trường gồm: 01 mũ bảo hiểm đã vỡ thành nhiều mảnh; 01 USB có màu bạc, đen dung lượng 8GB chứa Video liên quan đến vụ cố ý gây thương tích ngày 02/4/2022 tại địa chỉ số A N, Khu phố C, phường T, Quận A;

  • -Thu giữ của Lê Trọng Q gồm: 01 cây mã tấu dài 94,5 cm, lưỡi dài 43,5cm, bản rộng 7,5 cm, cán bằng gỗ tròn đường kính 2,5 cm dài 51 cm; 01 cây mã tấu dài 63,5 cm, lưỡi dài 45,5 cm, bản rộng 5,5 cm, cán dài 18 cm có ghép gỗ;

  • -Thu giữ của các bị cáo 03 điện thoại di động gồm: 01 điện thoại di động hiệu S Galaxy A11, số Imei 1: 355629110875082, số Imei 2: 35563011875080 của bị cáo T; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 plus màu xám số Imei 3532920773861363 của bị cáo Q; 01 điện thoại di động Iphone 7 màu hồng, số Imei 35380483299758 của bị cáo N1;

  • -Thu giữ của Nguyễn Bảo T 01 xe môtô hiệu Ultimo biển số 51S8-2069; số máy 5VD1-43081; số khung R4CN5 VD104Y043081. Thường khai xe máy trên T mua lại của người khác chưa làm thủ tục sang tên. Qua xác minh xe máy biển số 51S8-2069 do chị Võ Thị Thanh T6 đứng tên đăng ký, chị T6 cho biết xe trên đã bán cho người khác nhưng chưa làm thủ tục sang tên.

  • -Thu của Lương Trung N1 01 xe môtô hiệu Sonic không gắn biển số, số máy: KB11 HI292057, số khung: MH1KB1117MK292489, bị cáo N1 khai xe môtô trên do N1 mượn của anh Lữ Thanh N2 và qua xác minh xe trên do anh Lữ Thanh N2 đứng tên trên giấy đăng ký xe. Anh N2 trình bày tối ngày 02/4/2023, Lương Trung N1 hỏi mượn xe của anh N2 đi công việc, anh N2 không biết N1 lấy

xe đi tham gia đánh nhau. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại xe cho anh N2.

-Thu giữ của anh Trần Lộc T4 01 xe môtô hiệu Yamaha Exciter biển số 94F1-195.45; số máy 55P00YV2; số khung: IS9F161100. Anh T4 trình bày xe môtô nêu trên của bạn tên Nguyễn Khánh D bán cho anh T4. Kết quả xác minh xe máy biển số 94F1-195.45 do anh Nguyễn khánh D (địa chỉ: T, N, Hồ N, Bạc Liêu) đứng tên trên giấy đăng ký xe, anh D đã bán cho anh Trần Lộc T4, nhưng chưa làm thủ tục sang tên. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại xe cho anh T4.

* Về trách nhiệm dân sự:

Anh Trần Lộc T4 yêu cầu các bị cáo Nguyễn Bảo T, Lê Trọng Q và Lương Trung N1 bồi thường chi phí tiền điều trị thương tích là 32.497.000 đồng, tiền thu nhập bị mất là 85.400.000 đồng, tổn thất về tinh thần 74.500.000 đồng, tiền thu thập bị mất của người chăm sóc cho anh T4 9.600.000 đồng, tổng cộng số tiền 201.997.000 đồng. Bà Lê Thị M (mẹ của bị cáo Q) đã bồi thường cho anh T4 số tiền 15.000.000 đồng, ông Nguyễn Thanh K (cha của bị cáo T) đã bồi thường cho anh T4 số tiền 10.000.000 đồng, chị Huỳnh Thị Tuyết V (vợ của bị cáo N1) đã bồi thường cho anh T4 số tiền 15.000.000 đồng, số tiền còn lại 161.997.000 đồng các bị cáo Q, T và N1 chưa bồi thường.

Tại bản Cáo trạng số 482/CT-VKS-P2 ngày 16/7/2024, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố các bị cáo Nguyễn Bảo T, Lê Trọng Q và Lương Trung N1, về tội “Giết người”, quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa hôm nay:

  • - Các bị cáo Nguyễn Bảo T, Lê Trọng Q và Lương Trung N1 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng theo nội dung bản Cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố, cũng như công nhận các lời khai của các bị cáo có trong hồ sơ vụ án hoàn toàn là tự nguyện, không bị ép cung, nhục hình.

  • Ngoài ra các bị cáo Nguyễn Bảo T, Lê Trọng Q đồng ý liên đới bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho bị hại T4 số tiền còn lại là 100.000.000 đồng, mỗi bị cáo bồi thường cho anh T4 số tiền là 50.000.000 đồng.

  • - Bị hại Võ Lộc T7 yêu cầu các bị cáo Nguyễn Bảo T, Lê Trọng Q và Lương Trung N1 bồi thường chi phí tiền điều trị thương tích là 32.497.000 đồng, tiền thu nhập bị mất là 85.400.000 đồng, tổn thất về tinh thần 74.500.000 đồng, tiền thu thập bị mất của người chăm sóc cho anh T7 9.600.000 đồng, tổng cộng số tiền 201.997.000 đồng. Bà Lê Thị M, ông Nguyễn Thanh K, chị Huỳnh Thị Tuyết V đã bồi thường tổng cộng cho anh T7 số tiền 70.000.000 đồng. Tại phiên tòa anh T7

không yêu cầu bị cáo N1 phải bồi thường cho anh nữa, đồng thời yêu cầu các bị cáo Q, T phải liên đới tiếp tục bồi thường cho anh số tiền là 100.000.000 đồng, cụ thể bị cáo Q, T mỗi bị cáo bồi thường cho anh T7 số tiền là 50.000.000 đồng. Đồng thời đề nghị bãi nại, giảm nhẹ hình phạt bị cáo Lương Trung N1 và xử các bị cáo Nguyễn Bảo T, Lê Trọng Q theo các quy định của pháp luật.

  • - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trình bày: Bà Lê Thị M (mẹ của bị cáo Q) đã bồi thường cho anh T7 số tiền 15.000.000 đồng, ông Nguyễn Thanh K (cha của bị cáo T) đã bồi thường cho anh T7 số tiền 10.000.000 đồng, chị Huỳnh Thị Tuyết V (vợ của bị cáo N1) đã bồi thường cho anh T7 số tiền 45.000.000 đồng. Việc bồi thường cho bị hại T7 là do các bị cáo tác động để gia đình bồi thường số tiền trên cho các bị cáo và không có khiếu nại, thắc mắc gì khác về sau.

  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm luận tội:

    Sau khi nêu lại nội dung vụ án, phân tích tính chất và hậu quả của vụ án, trên cơ sở các chứng cứ đã được kiểm tra tại phiên tòa cũng như toàn bộ lời khai của bị cáo và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đồng thời xem xét đến các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo, đã giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo và đề nghị:

    Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Bảo T, Lê Trọng Q và Lương Trung N1 phạm tội “Giết người”; áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 57; Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 để tuyên phạt bị cáo Nguyễn Bảo T mức án từ 13 đến 15 năm tù; áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 57; Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 để tuyên phạt bị cáo Lê Trọng Q mức án từ 13 đến 15 năm tù; áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; áp dụng các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 57; Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 để tuyên phạt bị cáo Lương Trung N1 mức án từ 12 đến 14 năm tù.

    Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát đề nghị bồi thường thiệt hại về sức khỏe, đồng thời đề nghị xử lý vật chứng và nghĩa vụ nộp án phí, quyền kháng cáo theo quy định.

  • - Bị cáo Nguyễn Bảo T không tranh luận và đề nghị các luật sư bào chữa cho bị cáo.

  • - Luật sư Nguyễn Trung C trình bày bào chữa cho bị cáo Nguyễn Bảo T: Không thống nhất với tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo T về tội “Giết người”, song đồng ý truy tố bị cáo Thường phạm tội với tình tiết định khung có tính chất côn đồ, cũng như sự hung hăng của nhóm bị cáo đã thực hiện đối với

tội cố ý gây thương tích, với các lý do sau: Qua kết luận giám định thương tích chỉ có thương tích tại vùng tay và vùng vai, trong đó thương tích xảy ra tại vùng tay có tỷ lệ 36%, do đó, nếu kết luận hành vi của bị cáo nhằm vào vùng trọng yếu của bị hại T7 là chưa phù hợp vì thực tế bị hại có đội nón bảo hiểm và thương tích không xảy ra ở vùng đầu. Bị cáo T cũng không có ý thức tước đi tính mạng của bị hại. Do đó, đề nghị xét xử bị cáo ở tội danh Cố ý gây thương tích, do bị cáo chỉ là người khởi xướng nhưng hậu quả xảy ra là do các đồng phạm thực hành gồm Q và N1, nên mức án từ 13 đến 15 năm tù mà Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là quá nghiêm khắc, trong trường hợp hành vi của bị cáo được xác định là giết người thì đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ và xét xử bị cáo mức án dưới mức thấp nhất mà đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị. Đồng thời đề nghị trả lại xe máy và điện thoại cho bị cáo.

Bị cáo Nguyễn Bảo T đồng ý với lời bào chữa của luật sư và không bào chữa bổ sung. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

- Bị cáo Lê Trọng Q không tranh luận và đề nghị luật sư bào chữa cho bị cáo.

- Luật sư Trần Thị Huy C1 trình bày bào chữa cho bị cáo Lê Trọng Q: Luật sư không đồng ý truy tố bị cáo Q về tội “Giết người”, thống nhất với quan điểm bào chữa của luật sư đồng nghiệp đã bào chữa cho bị cáo T, bởi các lý do sau: Hành vi của các bị cáo là côn đồ, song xuất phát từ sự bộc phát, khi N1 trao đổi với bị cáo T thì T chỉ nói là “Đánh đi”, chứ không có sự bàn bạc hoặc tiếp nhận ý chí là tước đi tính mạng của bị hại. Thực tế, các bị cáo cũng không cố ý nhằm vào vùng đầu của bị hại ngay từ đầu mà khi mã tấu đã bị gãy thì bị cáo Q mới chém vào đầu, nếu bị cáo cố tình tước đi mạng sống của bị hại thì bị cáo đã ngay lập tức tìm mã tấu khác. Do đó, hậu quả của vụ án là thương tích 38%, trong đó thương tích 36% xảy ra ở vùng tay. Như vậy, bên cạnh tỷ lệ thương tật, ý chí của các bị cáo và thực tế hành vi khách quan mà các bị cáo thực hiện thì tội danh đối với bị cáo chỉ là tội Cố ý gây thương tích. Về hình phạt, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa thì bị cáo đều thành khẩn khai báo, bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn nhưng vẫn tác động mẹ ruột khắc phục một phần hậu quả cho bị hại, trong thời gian bị tạm giam thì bị cáo có 03 người thân qua đời nhưng không thể về chịu tang cũng đã là một bài học thích đáng đối với bị cáo. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét một cách toàn diện để xử phạt bị cáo mức án dưới mức thấp nhất mà đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị.

Bị cáo Lê Trọng Q đồng ý với bào chữa của các luật sư và không bào chữa bổ sung. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

-Bị cáo Lương Trung N1 không tranh luận và đề nghị luật sư bào chữa cho bị cáo.

- Luật sư Chung Ngọc T3 trình bày bào chữa cho bị cáo Lương Trung N1: Luật sư không có ý kiến tranh luận về tội danh và khung hình phạt mà Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố đối với bị cáo N1, song đề nghị xem xét các tình tiết giảm nhẹ bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã tác động gia đình để khắc phục hậu quả nhiều lần cho bị hại T7 và được bị hại đề nghị bãi nại, đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, ngoài ra bị cáo có con nhỏ và là lao động chính của gia đình, phạm tội lần đầu chưa có tiền án, tiền sự với vai trò đồng phạm thứ yếu, thụ động theo các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017, từ đó đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử mức án nhẹ hơn đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

Bị cáo Lương Ngọc Q1 đồng ý với bào chữa của các luật sư và không bào chữa bổ sung. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

- Bị hại Trần Tấn L1 trình bày: Thực tế bị cáo chém 02 nhát, đến nhát thứ 2 thì bị cáo đã đưa tay lên đỡ, nếu bị cáo không đỡ thì có thể đã mất đi tính mạng nên luật sư cho rằng do bị cáo có đội nón bảo hiểm thì có thể không ảnh hưởng đến tính mạng nên tôi không đồng ý quan điểm này.

- Đại diện Viện kiểm sát đối đáp: Về quan điểm của các luật sư bào chữa cho bị cáo T và Q1, xét bị cáo T tuy không trực tiếp chém bị hại nhưng bị cáo là người khởi xướng, bị cáo biết rõ đã chuẩn bị vũ khí là mã tấu ngay từ đầu và chủ động nói “đánh nó đi...đánh nó đi...”, bị cáo còn cùng với nhóm bị cáo đuổi chém bị hại đến cùng, nhóm bị cáo chỉ dừng lại khi bị hại trốn được vào cửa hàng gỗ, rồi chui qua khe cửa hẹp ra ngoài, rồi ngất tại chỗ và được người dân đưa đi cấp cứu, việc bị cáo Q1 chém bị hại với nhiều nhát, hung hãn, đến cùng chém bằng cây mã tấu từ trên đầu đến mức nón bảo hiểm bị vỡ, khi bị hại đưa tay lên đỡ thì vết chém gây thương tích rất nghiêm trọng như bản ảnh giám định đã thể hiện. Nên thương tích của bị hại nếu không được đưa đi cấp cứu thì có thể bị ảnh hưởng đến tình mạng.

Đối với đề nghị trả lại xe và điện thoại cho bị cáo T, xét bị cáo đã dùng điện thoại để gọi cho Q1 mang theo mã tấu đánh người nên được xem là công cụ dùng vào việc phạm tội. Đối với chiếc xe gắn máy, do chưa làm thủ tục sang tên nên đề nghị xem xét chủ sở hữu hợp pháp để xử lý theo quy định.

Đối với quan điểm bào chữa cho bị cáo N1, đại diện Viện kiểm sát đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ và ý kiến của bị hại để đề nghị mức án phù hợp với tính chất cũng như vai trò của bị cáo.

- Luật sư Chánh tranh luận bổ sung: Giám định tỷ lệ thương tật cũng là một căn cứ khi định tội danh, theo đó, kết luận giám định đã đưa ra nội dung bất

lợi cho bị cáo đó là “Nếu không được đưa đi cấp cứu kịp thời có thể dẫn đến ảnh hưởng đến tính mạng”. Do đó luật sư bảo lưu quan điểm đã trình bày.

Qua nội dung tranh luận, đại diện Viện kiểm sát, các luật sư, bị cáo, bị hại đều giữ nguyên quan điểm và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét ra bản án đúng với quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo Nguyễn Bảo T, Lê Trọng Q và Lương Trung N1 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng theo nội dung bản Cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố. Căn cứ vào biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản thu giữ vật chứng, các kết luận giám định, kết luận giám định pháp y, lời khai của người làm chứng, người liên quan, lời khai của các bị cáo khác trong cùng vụ án, biên bản đối chất, lời khai khác và tại các bản tự khai, biên bản hỏi cung của các bị cáo, cũng như tại liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định:

Khoảng 21 giờ 20 phút ngày 02/4/2022, do Nguyễn Bảo T, Lê Trọng Q và Lương Trung N1 nghĩ anh Trần Lộc T4 vượt xe qua xe của N1 và nẹt pô, nên T đã nói với Q, N1 đuổi đánh anh T4 và cả 03 đuổi theo đánh anh T4, N1 điều khiển xe từ sau vượt lên áp sát bên trái xe anh T4, để Q ngồi phía sau dùng mã tấu chém trúng phần vai trái của anh T4, sau khi bị chém thì anh T4 tăng ga bỏ chạy nên N1 đuổi theo dùng chân phải đạp vào xe làm cho anh T4 ngã xuống đường, Q xuống xe dùng mã tấu chém vào lưng của anh T4, lúc này anh T4 bỏ xe chạy bộ (khoảng 100m) trốn vào cửa hàng bán đồ gỗ địa chỉ số A đường N, Khu phố C, phường T, Quận A, thì Q cầm mã tấu tiếp tục đuổi theo vào cửa hàng dùng mã tấu chém nhưng không trúng, do cán dao mã tấu bị gãy, Q khom người xuống bẻ gãy cán gỗ, làm cây mã tấu Q cất giấu trong người rơi xuống đất, nên N1 chạy đến nhặt lấy cùng với T chạy theo chém anh T4 trong cửa hàng gỗ, đến cuối nhà thì Q đuổi kịp và dùng mã tấu chém 02 nhát từ trên xuống trúng vào đầu của anh T4 làm vỡ mũ bảo hiểm (do anh T4 đội mũ bảo hiểm), Q tiếp tục chém thì anh T4 đưa tay trái lên đỡ rồi bỏ chạy ra khỏi cửa hàng gỗ một đoạn thì nằm bất tỉnh và được người dân phát hiện điện thoại cho Trung tâm cấp cứu đến đưa anh T4 đi cấp cứu tại Bệnh viện Q2.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 446/TgT.22 ngày 10/6/2022 của Trung tâm Pháp y Sở y tế Thành phố H, về thương tích của anh

Trần Lộc T4 kết luận: anh T4 nhiều nhát vào vùng vai, lưng, đầu, bàn tay trái, gây ra thương tích cho anh T4 38%, thương tích nguy hiểm đến tính mạng.

Như vậy, đủ cơ sở xác định Lê Trọng Q đã chuẩn bị hung khí là 01 cây mã tấu dài 94,5 cm, lưỡi dao dài 43,5 cm x 7,5 cm và 01 cây mã tấu dài 63,5 cm, lưỡi dao dài 45,5 cm x 5,5 cm theo yêu cầu của Nguyễn Bảo T, rồi Quang N3 đã tiếp nhận chỉ đạo của T đuổi đánh anh T4 và đã sử dụng 02 cây mã tấu đuổi chém nhiều nhát vào người anh Trần Lộc T4 một cách quyết liệt, đến cùng. Cụ thể vai trò bị cáo T là người chỉ đạo, xúi dục, bị cáo Q là người trực tiếp gây thương tích cho anh T4, bị cáo Nghĩa là người giúp sức tích cực, nên các bị cáo đều là đồng phạm và đều đủ yếu tố cấu thành tội “Giết người”. Khi thực hiện hành vi giết người thì các bị cáo Nguyễn Bảo T, Lê Trọng Q và Lương Trung N1 có đủ độ tuổi và năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện với lỗi cố ý, nên hành vi phạm tội của các bị cáo đã cùng phạm vào tội “Giết người”, thuộc trường hợp “Có tính chất côn đồ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Hội đồng xét xử nhận định hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội và thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, trực tiếp xâm hại đến tính mạng con người, là khách thể đặc biệt được pháp luật bảo vệ, gây nên dư luận xấu trong xã hội, ảnh hưởng đến trật tự trị an trong xã hội, thể hiện ý thức coi thường và bất chấp pháp luật.

[2] Về tình tiết tăng nặng: Trong vụ án này, các bị cáo đều thực hiện hành vi phạm tội với vai trò đồng phạm giản đơn, không tổ chức hoặc chủ động cấu kết với nhau. Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào theo quy định của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa hôm nay và tại cơ quan điều tra các bị cáo đều có thái độ khai báo thành khẩn, thể hiện sự ăn năn hối cải, các bị cáo đều tác động gia đình để bồi thường cho bị hại số tiền tổng cộng là 70.000.000 đồng, nên các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017. Riêng bị cáo N1 phạm tội lần đầu, chưa có tiền án, tiền sự, được bị hại đề nghị bãi nại, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, cũng như bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn nên bị cáo N1 được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Từ nhận định trên Hội đồng xét xử thấy các bị cáo Nguyễn Bảo T, Lê Trọng Q phạm tội khi đều có nhân thân bị bắt buộc đi chữa bệnh nghiện ma túy, bị cáo Lương Trung N1 phạm tội lần đầu, không có tiền án, tiền sự, song hành vi phạm tội của các bị cáo đã gây ra hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, trực tiếp xâm hại đến tính mạng, sức khỏe của bị hại T4. Trên cơ sở xem xét các tình tiết giảm nhẹ, vai trò đồng phạm của từng bị cáo, cũng như việc các bị cáo phạm tội chưa đạt theo quy

định tại Điều 57 Bộ luật hình sự khi quyết định hình phạt, thì Hội đồng xét xử cần thiết phải xử bị cáo một mức án tương xứng với hành vi, tội lỗi mà từng bị cáo đã gây ra và phải buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tại trại giam trong một thời gian nhất định, nhằm cải tạo, giáo dục riêng và răn đe, phòng ngừa chung, cũng để các bị cáo có thời gian tự rèn luyện trở thành người công dân lương thiện, có ích cho xã hội và biết tôn trọng pháp luật.

[3] Từ nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy bản Cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, cũng như quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về việc truy tố các bị cáo Nguyễn Bảo T, Lê Trọng Q và Lương Trung N1 về tội “Giết người”, quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có cơ sở, đồng thời chấp nhận mức án tù có thời hạn như đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị tại phiên tòa, cũng như đề nghị về trách nhiệm dân sự, án phí và quyền kháng cáo.

Lập luận trên đây cũng là cơ sở để không chấp nhận lời bào chữa của các luật sư đã bào chữa cho bị cáo T, bị cáo Q về xử các bị cáo về một tội danh khác, cũng như xét xử các bị cáo dưới mức thấp nhất mà đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị tại phiên tòa.

Đồng thời chấp nhận lời bào chữa của luật sư đã bào chữa cho bị cáo N1 về các tình tiết giảm nhẹ, song không chấp nhận xét xử bị cáo dưới mức thấp nhất mà đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị tại phiên tòa.

Cũng như chấp nhận đề nghị của bị hại T4 tại phiên tòa về bãi nại, giảm nhẹ hình phạt bị cáo Lương Trung N1 và xử các bị cáo Nguyễn Bảo T, Lê Trọng Q theo các quy định của pháp luật.

[4] Đối với Lương Trung N1 có hành vi điều khiển xe mô tô hiệu Sonic va chạm với xe mô tô biển số 59G1-219.57 do ông Đoàn Long K1 điều khiển gây ra tai nạn làm cho ông K1 bị thương do ông K1 đã từ chối giám định thương tích và làm đơn bãi nại nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q4 ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với N1 số tiền 7.800.000 đồng. Hội đồng xét xử thấy là phù hợp với các quy định của pháp luật, nên không xem xét và đề cập trong vụ án này.

[5] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Hội đồng xét thấy trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay các bị cáo, bị hại và các luật sư cung cấp tài liệu chứng cứ phù hợp với các quy định của pháp luật; các bị cáo, các luật sư và bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện cơ bản đều hợp pháp.

[6] Các vấn đề khác:

* Về xử lý vật chứng thu giữ trong vụ án:

  • - Thu giữ tại hiện trường gồm: 01 mũ bảo hiểm đã vỡ thành nhiều mảnh; và thu giữ của bị cáo Q 01 cây mã tấu dài 94,5 cm, lười dài 43,5cm, bản rộng 7,5 cm, cán bằng gỗ tròn đường kính 2,5 cm dài 51 cm; 01 cây mã tấu dài 63,5 cm, lưỡi dài 45,5 cm, bản rộng 5,5 cm, cán dài 18 cm có ghép gỗ. Hội đồng xét xử thấy các vật chứng này không có giá trị sử dụng, nên tịch thu tiêu hủy.

  • - 01 USB có màu bạc, đen dung lượng 8GB chứa Video liên quan đến vụ cố ý gây thương tích ngày 02/4/2022 tại địa chỉ số A N, Khu phố C, phường T, Quận A, tiếp tục chuyển lưu giữ tại hồ sơ vụ án.

  • - Thu giữ của các bị cáo 03 điện thoại di động gồm: 01 điện thoại di động hiệu S Galaxy A11, số Imei 1: 355629110875082, số Imei 2: 35563011875080 của bị cáo T; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 plus màu xám số Imei 3532920773861363 của bị cáo Q; 01 điện thoại di động Iphone 7 màu hồng, số Imei 35380483299758 của bị cáo N1, là các điện thoại các bị cáo dùng để liên lạc thực hiện hành vi phạm tội, nên tịch thu sung công quỹ.

  • - Thu giữ của Nguyễn Bảo T 01 xe môtô hiệu Ultimo biển số 51S8-2069; số máy 5VD1-43081; số khung R4CN5 VD104Y043081. Thường khai xe máy trên T mua lại của người khác chưa làm thủ tục sang tên. Qua xác minh xe máy biển số 51S8-2069 do chị Võ Thị Thanh T6 đứng tên đăng ký, chị T6 cho biết xe trên đã bán cho người khác nhưng chưa làm thủ tục sang tên. Để đảm bảo quyền lợi công dân, Hội đồng xét xử giao cho Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh thông báo xử lý theo diện tài sản vắng chủ.

  • - Thu của Lương Trung N1 01 xe môtô hiệu Sonic không gắn biển số, số máy: KB11 HI292057, số khung: MH1KB1117MK292489, bị cáo N1 khai xe môtô trên do N1 mượn của anh Lữ Thanh N2 và qua xác minh xe trên do anh Lữ Thanh N2 đứng tên trên giấy đăng ký xe. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại xe cho anh N2. Hội đồng xét xử thấy là phù hợp với các quy định của pháp luật, nên không xem xét và đề cập đến.

  • - Thu giữ của anh Trần Lộc T4 01 xe môtô hiệu Yamaha Exciter biển số 94F1-195.45; số máy 55P00YV2; số khung: IS9F161100. Anh T4 trình bày xe môtô nêu trên của bạn tên Nguyễn Khánh D bán cho anh T4, nhưng chưa làm thủ tục sang tên. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại xe cho anh T4. Hội đồng xét xử thấy là phù hợp với các quy định của pháp luật, nên không xem xét và đề cập đến.

* Về yêu cầu bồi thường dân sự:

- Bị hại Võ Lộc T7 yêu cầu các bị cáo Nguyễn Bảo T, Lê Trọng Q và Lương Trung N1 bồi thường chi phí tiền điều trị thương tích là 32.497.000 đồng, tiền thu nhập bị mất là 85.400.000 đồng, tổn thất về tinh thần 74.500.000 đồng, tiền thu thập bị mất của người chăm sóc cho anh T7 9.600.000 đồng, tổng cộng số tiền 201.997.000 đồng. Bà Lê Thị M, ông Nguyễn Thanh K, chị Huỳnh Thị Tuyết V đã bồi thường tổng cộng cho anh T7 số tiền 70.000.000 đồng. Tại phiên tòa anh T7 không yêu cầu bị cáo N1 phải bồi thường cho anh nữa, đồng thời yêu cầu các bị cáo Q, T phải liên đới tiếp tục bồi thường cho anh T7 số tiền là 100.000.000 đồng, cụ thể bị cáo Q, T mỗi bị cáo bồi thường cho anh T7 số tiền là 50.000.000 đồng.

Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Bảo T, Lê Trọng Q đồng ý liên đới bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho bị hại số tiền tổng cộng là 100.000.000 đồng, cụ thể mỗi bị cáo phải bồi thường cho bị hại T7 số tiền là 50.000.000 đồng. Hội đồng xét xử thấy thỏa thuận này là phù hợp với các quy định của pháp luật, nên chấp nhận.

Việc thực hiện giao nhận tiền trên tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền và được thi hành ngay đối với khoản bồi thường thiệt hại về sức khỏe, tính mạng, mặc dù bản án sơ thẩm có thể bị kháng cáo, kháng nghị.

* Về án phí:

Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật hiện hành.

* Về quyền kháng cáo:

Các bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo các quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1/ Về hình phạt:

1.1/ Căn cứ các điểm n khoản 1 Điều 123; các điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 50; Điều 58; Điều 57 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017,

Xử phạt bị cáo Nguyễn Bảo T: 14 (mười bốn) năm tù, về tội “Giết người”.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 22/3/2023.

1.2/ Căn cứ các điểm n khoản 1 Điều 123; các điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 50; Điều 58; Điều 57 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017,

Xử phạt bị cáo Lê Trọng Q: 14 (mười bốn) năm tù, về tội “Giết người”.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 22/3/2023.

1.3/ Căn cứ các điểm n khoản 1 Điều 123; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 50; Điều 58; Điều 57 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017,

Xử phạt bị cáo Lương Trung N1: 12 (mười hai) năm tù, về tội “Giết người”.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 22/3/2023.

2/ Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017; Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015,

2.1/ Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) cây mã tấu dài 94,5 cm, lười dài 43,5cm, bản rộng 7,5 cm, cán bằng gỗ tròn đường kính 2,5 cm dài 51 cm; 01 (một) cây mã tấu dài 63,5 cm, lưỡi dài 45,5 cm, bản rộng 5,5 cm, cán dài 18 cm có ghép gỗ; 01 (một) mũ bảo hiểm đã vỡ thành nhiều mảnh.

2.2/ Tịch thu sung công quỹ gồm: 01 điện thoại di động hiệu S Galaxy A11, số Imei 1: 355629110875082, số Imei 2: 35563011875080 (thực nhận 01 điện thoại di động Samsung kiểu dáng Galaxy A11, máy trầy tróc, cũ, hỏng, bể nát, không kiểm tra đời máy, I do không nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong); 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6 plus màu xám số imel 3532920773861363 (thực nhận 01 điện thoại di động Iphone màu xám, model A1687, không kiểm tra đời máy, I do không nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong); 01 (một) điện thoại di động Iphone 7 màu hồng, số Imei 35380483299758 (thực nhận 01 điện thoại di động Iphone màu hồng, Imei khay sim: 353804083299758, model A1778, không kiểm tra đời máy, I do không nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong);

2.3/ Giao Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh thông báo trong hạn 12 tháng đối với 01 (một) xe gắn máy hai bánh, nhãn hiệu: không xác định, số loại: không xác định, dung tích xy lanh: không xác định, biển số 51S8-2069; số máy 5VD1-43081; số khung R4CN5 VD104Y043081, do chị Võ Thị Thanh T6 đứng tên đăng ký chủ sở hữu (không gương, dàn nhựa bể, xe cũ rỉ sét, máy móc bên trong không kiểm tra). Nếu sau 12 tháng không xác định được chủ sở hữu hợp pháp thì tịch thu bán đấu giá sung công quỹ nhà nước.

2.4/ Chuyển lưu giữ tại hồ sơ vụ án 01 (một) USB có màu bạc, đen dung lượng 8GB chứa Video liên quan đến vụ cố ý gây thương tích ngày 02/4/2022 tại địa chỉ số A N, Khu phố C, phường T, Quận A.

(Các vật chứng nêu trên được liệt kê theo Biên bản giao nhận tang tài vật số NK2024/503 ngày 20/8/2023 của Cục thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh).

3/ Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 của Bộ luật hình sự năm 2015; Áp dụng các Điều 357, 468; 584; 585; 590 của Bộ luật dân sự năm 2015; căn cứ điểm a khoản 2 Điều 482 của Bộ luật tố tụng dân sự,

Buộc các bị cáo Nguyễn Bảo T, Lê Trọng Q phải bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm cho anh Võ Lộc T7 với số tiền còn lại là 100.000.000 (một

trăm triệu) đồng, cụ thể bị cáo Nguyễn Bảo T và bị cáo Lê Trọng Q mỗi bị cáo phải bồi thường cho bị hại Võ Lộc T7 số tiền là 50.000.000 (Năm mươi triệu) đồng.

Việc thực hiện giao nhận tiền trên tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền và được thi hành ngay đối với khoản bồi thường thiệt hại về sức khỏe, tính mạng, mặc dù bản án sơ thẩm có thể bị kháng cáo, kháng nghị.

Kể từ ngày bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà bên phải thi hành án không thi hành khoản tiền nêu trên thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải trả thêm tiền lãi đối với số tiền chậm trả cho bên được thi hành án theo mức lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự, tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.

4/ Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và áp dụng Nghị quyết quyết định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, cùng danh mục án phí, lệ phí toà án, của Ủy ban thường vụ Q5,

Các bị cáo Nguyễn Bảo T, Lê Trọng Q và Lương Trung N1 mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.

Các bị cáo Nguyễn Bảo T, Lê Trọng Q mỗi bị cáo phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 2.500.000 (Hai triệu, năm trăm nghìn) đồng.

5/ Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331; 332 và 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015,

Các bị cáo, bị hại có mặt, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 06 tháng 9 năm 2024) để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo phần liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo phần liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7A, 7B và 9 của Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Nơi nhận:

  • - TAND Tối cao; (1)

  • - TAND Cấp cao tại TPHCM; (1)

  • - VKSND TPHCM; (3)

  • - Cục THADS; (1)

  • - Trại giam; (3)

  • - Bị cáo; (3)

  • - Luật sư; (3)

  • - Bị hại; (1)

  • - Người liên quan; (3)

  • - THAHS; (3)

  • - P. PV06 - CA TPHCM; (1)

  • - Sở Tư pháp (1)

  • - UBND nơi bị cáo cư trú; (3)

  • - Lưu: VT, THS, hồ sơ. (31) (4)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Đặng Hồng Sơn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 447/2024/HS-ST ngày 06/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về giết người (vụ án hình sự)

  • Số bản án: 447/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Giết người (Vụ án hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Bảo T và đồng phạm phạm tội giết người theo quy định tại Điều 123 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017)
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger