Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MÊ LINH-TP . HÀ NỘI

--------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập-Tự do-Hạnh phúc

----------------

Bản án số: 447/2024/HNGĐ-ST

Ngày 27/11/2024

V/v ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH-THÀNH PHỐ HÀ NỘI

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng.

Các Hội thẩm nhân dân : Ông Trần Văn Khánh

Bà Dương Thị Kim Lan

-Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hồng Hạnh-Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Mê Linh.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội: Bà Nguyễn Thị Hương Mai-Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 27 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số 380/2024/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2024 về việc “ Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 149/2024/QĐXX-ST ngày 07 tháng 11 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Phan Thị Thu T, sinh năm 2000

    Địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện M, Hà Nội.

  2. Bị đơn : Anh Bùi Minh H, sinh năm 1999

    Địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện M, Hà Nội.

Có mặt chị T, vắng mặt anh H.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện đề ngày 01/10/2024 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn là chị Phan Thị Thu T trình bày:

-Về hôn nhân: Chị và anh Bùi Minh H đăng ký kết hôn ngày 28/02/2019 tại UBND xã Đ, huyện M, Hà Nội. Sau khi cưới chị về gia đình anh H làm dâu, vợ chồng ở chung cùng với gia đình anh H. Quá trình chung sống vợ chồng sống hạnh phúc đến khoảng năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm, sống không có hạnh phúc, mỗi lần vợ chồng mâu thuẫn anh H lại đánh đập chị, lần gần nhất anh H1 đánh chị là vào ngày 10/8/2024 làm chị phải đi viện điều trị. Vợ chồng mâu thuẫn, gia đình hai bên cũng như bản thân hai vợ chồng đều cố gắng để hàn gắn nhưng quan hệ vợ chồng vẫn không thay đổi. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 8/2024 đến nay, không ai quan tâm đến ai. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh H.

-Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Bùi Anh T1, sinh ngày 24/7/2018 và Bùi Ngọc H2, sinh ngày 21/11/2020. Hiện cả hai cháu đang ở với anh H. Ly hôn chị đề nghị để anh H trực tiếp nuôi hai con chung và chị xin tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

-Về tài sản, công sức, nợ và đất sản xuất nông nghiệp: Chị không đề nghị Tòa án giải quyết.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 17/10/2024 bị đơn là anh Bùi Minh H trình bày:

-Về quan hệ hôn nhân: Anh xác nhận như chị T trình bày về thời gian, điều kiện kết hôn. Quá trình chung sống vợ chồng sống hạnh phúc được thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do vợ chồng sống không hợp nhau, luôn bất đồng quan điểm, thỉnh thoảng vợ chồng cãi vã nhau thì anh có đánh chị T. Từ tháng 8/2024 đến nay, chị T không sống ở nhà anh nữa và vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay. Nay chị T xin ly hôn, anh muốn vợ chồng quay về đoàn tụ còn nếu chị T kiên quyết xin ly hôn anh thì anh đồng ý.

-Về con chung: Anh xác nhận vợ chồng có 02 con chung như chị T trình bày. Ly hôn, anh xin được nuôi cả hai con và tự anh đảm nhiệm việc nuôi con.

-Về tài sản, công sức, nợ và đất sản xuất nông nghiệp: Anh không đề nghị Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

-Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Hội đồng xét xử và nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

-Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình. Xử:

+Về hôn nhân: Cho chị Phan Thị Thu T được ly hôn anh Bùi Minh H.

+Về con chung: Giao hai con chung là Bùi Anh T1, sinh ngày 24/7/2018 và Bùi Ngọc H2, sinh ngày 21/11/2020 cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho chị T đến khi nào anh H yêu cầu hoặc có quyết định khác có hiệu lực pháp luật của Tòa án.

+Về tài sản, công sức, nợ và đất sản xuất nông nghiệp: Không đặt ra xem xét, giải quyết.

+Về án phí: Chị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, Tòa án nhân dân huyện Mê Linh nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

-Về sự vắng mặt của bị đơn: Quá trình điều tra Tòa án đã tống đạt hợp lệ 2 lần cho anh H nhưng tại phiên tòa hôm nay, anh H vắng mặt không rõ lý do nên căn cứ khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Về quan hệ hôn nhân:

Chị Phan Thị Thu T và anh Bùi Minh H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 28/02/2019 tại UBND xã Đ, huyện M, Hà Nội. Do vậy, cuộc hôn nhân của anh chị là hợp pháp.

Quá trình chung sống vợ chồng sống hạnh phúc được thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do trong cuộc sống vợ chồng sống không có sự tin tưởng lẫn nhau, thiếu sự quan tâm chia sẻ với nhau. Quá trình điều tra cả hai anh chị đều xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị T đề nghị được ly hôn, anh H xin đoàn tụ. Xét ý kiến của hai anh, chị nhận thấy: Mặc dù anh H muốn vợ chồng quay về đoàn tụ nhưng anh không có biện pháp nào để hàn gắn lại mối quan hệ vợ chồng, vợ chồng anh chị sống ly thân từ tháng 8/2024 đến nay, mỗi người mỗi nơi, không ai quan tâm đến ai. Xác minh tại chính quyền địa phương nơi anh chị cư trú cũng như gia đình của anh H được biết vợ chồng anh chị chung sống với nhau cũng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, gia đình hai bên đã động viên khuyên bảo nhiều nhưng quan hệ vợ chồng anh chị vẫn không thay đổi. Như vậy, có thể thấy hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Tòa án thấy có căn cứ chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T, cho chị được ly hôn anh H là phù hợp với quy định tại Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình.

[2] Về nuôi con chung:

Quá trình chung sống anh chị xác nhận vợ chồng có 02 con chung là Bùi Anh T1, sinh ngày 24/7/2018 và Bùi Ngọc H2, sinh ngày 21/11/2020. Quá trình điều tra anh H đề nghị xin được nuôi cả hai con, không yêu cầu chị T cấp dưỡng. Tại phiên tòa chị T đồng ý để hai cháu cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng và chị xin tạm hoãn cấp dưỡng nuôi con.

Xét việc chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên sau khi ly hôn là quyền và nghĩa vụ của người làm cha, làm mẹ. Xét hiện nay chị T chưa có chỗ ở ổn định, từ khi vợ chồng sống ly thân hai cháu ở với anh H, điều kiện sức khỏe, học hành của các cháu đều được đảm bảo nên thấy cần giao hai cháu cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng và tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho chị T đến khi nào anh H yêu cầu hoặc có quyết định khác có hiệu lực pháp luật của Tòa án.

[3] Về tài sản, công sức, nợ và đất sản xuất nông nghiệp: Chị T, anh H không đề nghị giải quyết nên Tòa án không đặt ra xem xét, giải quyết.

[4] Về án phí: Chị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 28,35, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ các Điều 51,56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.

Căn cứ các Điều 146, 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Về hôn nhân: Cho chị Phan Thị Thu T được ly hôn anh Bùi Minh H.

  2. Về con chung: Giao hai con chung là Bùi Anh T1, sinh ngày 24/7/2018 và Bùi Ngọc H2, sinh ngày 21/11/2020 cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho chị T đến khi nào anh H yêu cầu hoặc có quyết định khác có hiệu lực pháp luật của Tòa án.

    Chị T được quyền thăm nom và chăm sóc con chung, anh H không được ngăn cản.

  3. Về tài sản, công sức, nợ và đất sản xuất nông nghiệp: Không đặt ra xem xét, giải quyết.

  4. Về án phí: Chị T phải nộp 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm, chị được trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mê Linh theo Biên lai số 0008987 ngày 10/10/2024.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, chị T được quyền kháng cáo. Anh H vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự./.

Nơi nhận:

  • -TAHN
  • -VKSNDH. Mê Linh.
  • -Chi cục THADS H. Mê Linh.
  • - UBND xã Đại Thịnh.
  • -Các đương sự.
  • -Lưu HS, VP

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Thu Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 447/2024/HNGĐ-ST ngày 27/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH-TP . HÀ NỘI về ly hôn

  • Số bản án: 447/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH-TP . HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Trang và anh Hảo có đăng ký kết hôn, do vợ chồng mâu thuẫn nên chị Trang có đơn ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger