|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 447/2024/HC-PT Ngày 23 - 5 - 2024 V/v Khiếu kiện quyết định hành chính và hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: | Bà Huỳnh Thanh Duyên |
| Các Thẩm phán: | Ông Nguyễn Văn Tửu |
| Bà Lê Thị Tuyết Trinh |
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Mạnh Hùng - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Tuyết - Kiểm sát viên.
Vào các ngày 16 tháng 5 và ngày 23 tháng 5 năm 2024, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 895/2023/TLPT-HC ngày 20 tháng 11 năm 2023.
Do Bản án hành chính sơ thẩm số 182/2023/HC-ST ngày 29 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1438/2024/QĐ-PT ngày 26 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
- Người khởi kiện: Ông Nguyễn Hữu Đ, sinh năm 1954 (có mặt);
Địa chỉ: Số D T, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền:
- Ông Trương Bình T (có mặt);
- Ông Lê Văn T1 (có mặt);
- Bà Nguyễn Thị Kim N (có mặt);
Cùng địa chỉ: Số D T, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện: Luật sư Hoàng Thị M – thuộc Công ty L thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H (có mặt);
Địa chỉ: Số D T, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người bị kiện:
- Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Long An.
- Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Long An
Địa chỉ: Khu phố 4, thị trấn Cần Giuộc, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Huỳnh Minh T2, chức vụ: Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Long An. (Vắng mặt);
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp:
- Ông Nguyễn Hoài T3 – Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường huyện C, tỉnh Long An (có mặt);
- Ông Ngô Trung T4 – Phó Giám đốc Ban Quản lý dự án huyện C, tỉnh Long An (có mặt);
- Ông Võ Hoàng P – Phó Chủ tịch UBND xã L, huyện C, tỉnh Long An (có mặt);
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty Cổ phần T5 (Tên cũ: Công ty TNHH MTV T5);
Địa chỉ: Ấp B, xã L, thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Anh V, Trưởng phòng Giải phóng mặt bằng (có mặt);
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 22/12/2022 và lời trình bày của đại diện người khởi kiện trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa có nội dung:
Ông Nguyễn Hữu Đ quản lý, sử dụng các thửa đất 3452, 2634, 459 cùng tờ bản đồ số 4 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H2268 do UBND huyện C, tỉnh Long An cấp ngày 16/10/2006. Thời gian qua ông Đ được Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng huyện C, UBND huyện C, Ban thực hiện cưỡng chế - UBND huyện C, tổ vận động UBND xã L, chủ đầu tư Công ty cổ phần T5 mời tham dự các buổi họp tại UBND xã L về việc vận động thuyết phục ông Đ nhận tiền bồi thường, hỗ trợ và bàn giao đất thuộc dự án khu thương mại, biệt thự và chung cư cao cấp (giai đoạn 2) do Công ty cổ phần T5 đầu tư tại xã L.
Ngày 23/11/2022 ông Đ có đơn xin trích lục hồ sơ tài liệu, ngày 01/12/2022 ông Đ nhận được văn bản trích lục trong đó có các quyết định liên quan đến việc thu hồi đất. Ông Đ không đồng ý với các quyết định trên bởi mức giá bồi thường là quá thấp, không đúng với qui định của pháp luật, các văn bản liên quan về thu hồi, đền bù và tái định cư. Cách đây 4 tháng trên cùng tuyến đường 826E giá đền bù đất nông nghiệp là 6.000.000đ/m², đất ở là 9.000.000đ/m². Khi đó tổng số tiền mà chủ đất trước ông Đ nhận là 24 tỷ và được nhận thêm 03 nền tái định cư, còn đối với ông Đ cùng trên tuyến đường 826E, nhưng có diện tích lớn hơn, cũng có phần đất thổ cư là 350 m² và tài sản trên đất gồm 01 căn nhà và 09 căn nhà cho thuê mà số tiền nhận được ít hơn nhiều và không nhận được nền tái định cư. Trong khi ông Đ có đủ điều kiện mua suất tái định cư theo quy định của pháp luật và đơn giá mở bán rộng rãi của dự án khoảng 12.000.000đ/m² – 15.000.000đ/m². Trong quá trình dự các cuộc họp Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng huyện C và chủ đầu tư là Công ty Cổ phần T5 luôn áp đặt tâm lý thái độ đe dọa nếu không nhận tiền và bàn giao đất thì sẽ mất hết.
Nay ông Đ khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Long An:
- Hủy Quyết định số 9438/QĐ-UBND ngày 18/12/2012 của UBND huyện C, tỉnh Long An về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư dự án khu thương mại, biệt thự và chung cư cao cấp do Công ty TNHH một thành viên T5 đầu tư trên địa bàn xã L, huyện C, tỉnh Long An.
- Hủy Quyết định số 1670/QĐ-UBND ngày 11/4/2018 của UBND huyện C, tỉnh Long An về việc phê duyệt, điều chỉnh bổ sung phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư dự án khu thương mại, biệt thự và chung cư cao cấp do Công ty TNHH một thành viên T5 đầu tư trên địa bàn xã L, huyện C, tỉnh Long An.
- Hủy Quyết định số 7662/QĐ-UBND ngày 28/10/2019 của UBND huyện C, tỉnh Long An về việc phê duyệt, điều chỉnh bổ sung phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư dự án khu thương mại, biệt thự và chung cư cao cấp do Công ty TNHH một thành viên T5 đầu tư trên địa bàn xã L, huyện C, tỉnh Long An.
- Hủy Quyết định số 4145/QĐ-UBND ngày 10/6/2014 của UBND huyện C, tỉnh Long An về việc bồi thường thiệt hại giá trị quyền sử dụng đất của các khoản hỗ trợ thuộc khu vực đất Nhà nước thu hồi để giao cho Công ty T5 đầu tư xây dựng khu thương mại, biệt thự và chung cư cao cấp tại xã L, huyện C, tỉnh Long An.
- Hủy Quyết định số 9116/QĐ-UBND ngày 23/12/2015 của UBND huyện C, tỉnh Long An về việc điều chỉnh Quyết định số 4145/QĐ-UBND ngày 10/6/2014 của UBND huyện C, tỉnh Long An.
- Hủy Quyết định số 6078/QĐ-UBND ngày 09/9/2016 của UBND huyện C, tỉnh Long An về việc điều chỉnh Quyết định số 4145/QĐ-UBND ngày 10/6/2014 của UBND huyện C, tỉnh Long An.
- Hủy Quyết định số 2890/QĐ-UBND ngày 17/5/2022 của Chủ tịch UBND huyện C, tỉnh Long An về việc cưỡng chế thu hồi đất đối với ông Đ.
- Buộc UBND huyện C, tỉnh Long An điều chỉnh giá bồi thường, đền bù với phần diện tích đất 4053m² của ông Đ bị thu hồi theo giá thực tế thị trường hiện nay.
- Buộc UBND huyện C, tỉnh Long An cho ông Đ được tái định cư ngay vị trí dự án của Công ty T5.
Tại Văn bản số 643/UBND-NC ngày 22 tháng 02 năm 2023 của người bị kiện Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Long An có nội dung như sau:
Theo hồ sơ kê biên thu hồi đất trường hợp của ông Đ có diện tích bị thu hồi là 4.103m² đất nuôi trồng thủy sản và đất ở tại nông thôn. Theo phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư được phê duyệt, ông Đ được bồi thường, hỗ trợ với tổng số tiền là 2.670.046.300đ (chưa tính tiền chậm chi trả). Về chế độ tái định cư ông Đ không thuộc đối tượng hỗ trợ tái định cư. Qua các lần tiếp xúc vận động ông Đ (ủy quyền cho bà X) đã đồng ý nhận tiền đối với thửa đất 2634, tờ bản đồ số 4, diện tích 50m² với số tiền là 20.750.000đ. Còn 02 thửa đất số 459 và 3425 chưa đồng ý nhận tiền bồi thường, bàn giao mặt bằng.
Ngày 19/01/2016 bà Nguyễn Thị X1 (ủy quyền của ông Đ) đồng ý nhận tiền, bàn giao mặt bằng đối với thửa đất số 2634, tờ bản đồ số 4 với số tiền 20.750.000₫.
Ngày 17/7/2021 Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng huyện C phối hợp với UBND xã L, Công ty cổ phần T5 mời ông Đ để tiếp xúc vận động nhận tiền bồi thường. Trong cuộc họp này ông Đ có ý kiến: Về chủ trương ông Đ đã biết Công ty cổ phần T5 đang thực hiện dự án khu thương mại, biệt thự và chung cư cao cấp. Tại buổi làm việc Ban quản lý dự án đã trao lại các quyết định thu hồi đất, quyết định bồi thường và các quyết định điều chỉnh, tuy nhiên ông Đ không nhận. Ông Đ đề nghị bồi thường 10 tỷ đồng (không hỗ trợ tái định cư) đối với 900m² (thửa số 3065 và thửa số 3470) thuộc giai đoạn 1 và bồi thường 50 tỷ đồng (không hỗ trợ tái định cư) đối với phần diện tích 4.053m² thuộc giai đoạn 2. Đại diện chủ đầu tư có ý kiến: Nếu ông Đ đồng ý nhận tiền thì thì Công ty xem xét đề xuất UBND huyện thống nhất cho Công ty hỗ trợ ông Đ theo đơn giá bồi thường dự án ĐT 826E.
Ngày 29/01/2021 Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng huyện C phối hợp với UBND xã L, Công ty cổ phần T5 mời ông Đ để tiếp xúc vận động nhận tiền bồi thường. Trong cuộc họp này ông Đ có ý kiến: Ông Đ đề nghị bồi thường 50 tỷ đồng (bao gồm tài sản trên đất, không hỗ trợ tái định cư). Trường hợp đường tỉnh 826E thi công đến phần đất của ông Đ thì ông Đ đồng ý nhận tiền trong phạm vi giải tỏa của ĐT 826E, đồng ý với đơn giá được phê duyệt của của ĐT.826E. Đại diện chủ đầu tư có ý kiến: Thống nhất bồi thường, hỗ trợ ngoài phương án đối với diện tích 4.053m² của ông Đ theo đơn giá phê duyệt ĐT.826E đối với đất nông nghiệp là 3.753m² đoạn 50m đầu tiếp giáp đường ấp 3 với đơn giá 9.133.000đ/m² và hỗ trợ chuyển đổi nghề tìm kiếm việc làm tương ứng với số tiền là 19.499.270.300đ (trong đó bao gồm giá trị bồi thường theo phương án là 2.649.296.300đ).
Ngày 28/10/2021 Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng huyện C phối hợp với UBND xã L, Công ty cổ phần T5 mời ông Đ để tiếp xúc vận động nhận tiền bồi thường. Trong cuộc họp này ông Đ có ý kiến: Ông Đ đề nghị bồi thường 50 tỷ đồng (bao gồm tài sản trên đất, không hỗ trợ tái định cư) thời gian trong năm 2021. Đại diện chủ đầu tư có ý kiến: Thống nhất bồi thường, hỗ trợ ngoài phương án đối với diện tích 4.053 m² của ông Đ theo đơn giá phê duyệt ĐT.826E đối với đất nông nghiệp là 3.753m² đoạn 50m đầu tiếp giáp đường ấp 3 với đơn giá 9.133.000đ/m² và hỗ trợ chuyển đổi nghề tìm kiếm việc làm tương ứng với số tiền là 19.499.270.300đ (trong đó bao gồm giá trị bồi thường theo phương án là 2.649.296.300đ).
Qua nhiều lần tiếp xúc vận động, nhưng ông Đ không đồng ý nhận tiền bồi thường, bàn giao mặt bằng. Ngày 17/5/2022 UBND huyện C ban hành Quyết định số 2890/QĐ-UBND về việc cưỡng chế thu hồi đất đối với ông Đ đang sử dụng thửa đất số 459 và thửa đất số 3425.
Việc UBND huyện C ban hành các quyết định thu hồi đất, quyết định bồi thường, hỗ trợ, tái định cư là thực hiện theo đúng quy định tại Điều 62 Luật Đất đai năm 2013.
Việc Chủ tịch UBND huyện C ban hành quyết định cưỡng chế thu hồi đất đối với ông Đ là đúng theo qui định tại khoản 2, Điều 11 Thông tư số 30/2014/TT-BTNMT ngày 02/6/2014 của Bộ T6; Khoản 1 Điều 6 Quyết định số 35/2016/QĐ-UBND ngày 07/7/2016 của UBND tỉnh L).
Đơn giá bồi thường được thực hiện trên cơ sở Quyết định số 2419/QĐ-UBND ngày 02/8/2012 của UBND tỉnh L về việc phê duyệt đơn giá bồi thường để giải phóng mặt bằng xây dựng của dự án. Do đó, yêu cầu về việc điều chỉnh giá bồi thường đền bù của ông Đ theo giá thực tế thị trường hiện nay và được tái định cư ngay vị trí dự án đối với toàn bộ diện tích 350m² đất ở và nhà ở bị thu hồi là không có cơ sở. Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Long An bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Đ.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Công ty cổ phần T5 do ông Trần Anh V trình bày: Công ty Cổ phần T5 đã thực hiện đúng, đầy đủ các thủ tục liên quan đến việc bồi thường, hỗ trợ cho ông Nguyễn Hữu Đ. Quá trình Công ty Cổ phần T5 thực hiện dự án ông Đ có yêu cầu xem xét, hỗ trợ thêm nên Công ty cũng xem xét hỗ trợ cho ông Đ tổng số tiền là 19.499.270.300đ (trong đó bao gồm giá trị bồi thường theo phương án là 2.649.296.300đ). Tuy nhiên, do ông Đ yêu cầu mức bồi thường từ 45 đến 50 tỷ đồng là quá cao, không có căn cứ, ngoài khả năng của Công ty Cổ phần T5. Tại Tòa án, ông Đ có đơn yêu cầu bồi thường số tiền 30 đến 35 tỷ đồng và không yêu cầu tái định cư là không phù hợp. Công ty Cổ phần T5 không đồng ý đối với yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Hữu Đ, chỉ đồng ý bồi thường, hỗ trợ cho ông Nguyễn Hữu Đ số tiền theo phương án bồi thường. Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Long An không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Hữu Đ.
Tại Bản án số 182/2023/HC-ST ngày 29 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An đã quyết định:
Căn cứ Điều 30, Điều 32, Điều 143, Điều 165, Điều 193, Điều 358 Luật Tố tụng hành chính năm 2015; Căn cứ Điều 62, Điều 66, Điều 69, Điều 70 và Điều 71 Luật Đất đai năm 2013; Căn cứ Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Đình chỉ vụ án đối với các yêu cầu:
- Hủy Quyết định số 9438/QĐ-UBND ngày 18/12/2012 của UBND huyện C, tỉnh Long An về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư dự án khu thương mại, biệt thự và chung cư cao cấp do Công ty TNHH một thành viên T5 đầu tư trên địa bàn xã L, huyện C, tỉnh Long An.
- Hủy Quyết định số 1670/QĐ-UBND ngày 11/4/2018 của UBND huyện C, tỉnh Long An về việc phê duyệt, điều chỉnh bổ sung phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư dự án khu thương mại, biệt thự và chung cư cao cấp do Công ty TNHH một thành viên T5 đầu tư trên địa bàn xã L, huyện C, tỉnh Long An.
- Hủy Quyết định số 7662/QĐ-UBND ngày 28/10/2019 của UBND huyện C, tỉnh Long An về việc phê duyệt, điều chỉnh bổ sung phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư dự án khu thương mại, biệt thự và chung cư cao cấp do Công ty TNHH một thành viên T5 đầu tư trên địa bàn xã L, huyện C, tỉnh Long An.
- Hủy Quyết định số 4145/QĐ-UBND ngày 10/6/2014 của UBND huyện C, tỉnh Long An về việc bồi thường thiệt hại giá trị quyền sử dụng đất của các khoản hỗ trợ thuộc khu vực đất Nhà nước thu hồi để giao cho Công ty T5 đầu tư xây dựng khu thương mại, biệt thự và chung cư cao cấp tại xã L, huyện C, tỉnh Long An.
- Hủy Quyết định số 9116/QĐ-UBND ngày 23/12/2015 của UBND huyện C, tỉnh Long An về việc điều chỉnh Quyết định số 4145/QĐ-UBND ngày 10/6/2014 của UBND huyện C, tỉnh Long An.
- Hủy Quyết định số 6078/QĐ-UBND ngày 09/9/2016 của UBND huyện C, tỉnh Long An về việc điều chỉnh Quyết định số 4145/QĐ-UBND ngày 10/6/2014 của UBND huyện C, tỉnh Long An.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 04/10/2023, người khởi kiện ông Nguyễn Hữu Đ kháng cáo bản án sơ thẩm đề nghị sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu khởi kiện.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện tranh luận:
Thứ nhất, về nhận định án sơ thẩm tuyên đình chỉ đối với 6 quyết định hành chính bị khởi kiện do hết thời hiệu. Nhận định này là không chính xác do các biên bản ngày 31/12/2015 ngày 4/11/2017 ông Đ khẳng định không nhận, không biết các quyết định hành chính nào UBND huyện C ban hành. Các biên bản họp không nêu rõ quyết định trong biên bản là quyết định nào. Tòa sơ thẩm sử dụng thông tin chung chung để nhận định là không có căn cứ.
Thứ hai, về thời hiệu khởi kiện đối với vụ án này, 06 quyết định hành chính còn trong thời hiệu khởi kiện do trước thời điểm nộp đơn khởi kiện vào ngày 18/11/2022, ông Đ nộp đơn khiếu nại lên Chủ tịch UBND huyện C đề nghị xem xét lại mức giá bồi thường đất, giấy hẹn là 9/12/2022, hết thời hạn không nhận được văn bản trả lời khiếu nại thì ngày 22/12/2022 ông Đ khởi kiện tại Tòa án tỉnh Long An. Theo khoản 3 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính 2015 quy định trong vòng 01 năm kể từ ngày hết thời hạn giải quyết khiếu nại theo quy định của pháp luật mà cơ quan Nhà nước, người có thẩm quyền không giải quyết và không có văn bản trả lời cho người khiếu nại, đối với trường hợp này ông Đ không nhận được văn bản trả lời, ông Đ nộp đơn khởi kiện là đảm bảo thời hạn khởi kiện. Ngoài ra ngày 1/11/2023 ông Đ thông qua đại diện ông T1 đã đến UBND huyện nhận Quyết định số 6914 ngày 22/12/2022 trả lời cho đơn khiếu nại của ông Đ, về Quyết định số 6914 nội dung trả lời đơn kiến nghị của ông Đ. Quyết định số 6914 thời điểm này là chứng cứ mới chưa được Tòa án cấp sơ thẩm xem xét giải quyết. Vì vậy thời hiệu được tính từ lúc nhận/biết được quyết định giải quyết khiếu nại. Từ chứng cứ này cho thấy rằng Tòa Long An tuyên đình chỉ đối với yêu cầu hủy 6 quyết định đang bị khởi kiện của ông Đ là không chính xác.
Thứ ba, bà Nguyễn Thị P1 là vợ ông Đ theo Giấy chứng nhận kết hôn số 213, các thửa đất đang bị thu hồi bồi thường (3425, 459, 634) là do bà P1 và ông Đ tạo lập trong thời kỳ hôn nhân, được Nhà nước công nhận và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2006, nhưng toàn bộ quá trình hiệp thương bồi thường thì bà P1 không nhận được thư mời tham gia. Đây được xem là sai phạm của UBND khi thực hiện bồi thường.
Thứ tư, Tòa án tỉnh Long An không xem xét triệu tập người liên quan tại bao gồm bà P1 là vợ ông Đ, bà X1 và Sở Giao thông vận tải tỉnh L.
Thứ năm, về mặt thủ tục, xem xét người đại diện theo ủy quyền của Công ty T5. Theo bản kê thì giấy ủy quyền cho ông Trần Anh V, xét các quyết định xét xử. Nhận thấy ông V tham gia vào các phiên họp công khai chứng cứ chứ không được tham gia phiên tòa.
Do đó căn cứ khoản 3 Điều 241 Luật Tố tụng hành chính năm 2015, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên hủy bản án sơ thẩm, chuyển hồ sơ về Tòa sơ thẩm để giải quyết lại
Đại diện người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tranh luận:
Giữ nguyên nội dung đã trình bày trong quá trình giải quyết vụ án.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện trình bày:
Đề nghị giữ nguyên Bản án sơ thẩm. Đối với việc xác định UBND huyện ban hành Văn bản số 6914 ngày 22/12/2022 là UBND huyện không ban hành. Cơ sở ban hành Văn bản số 6914 này là căn cứ vào đơn đề nghị ngày 8/11/2022 của ông Đ. Căn cứ khoản 1 Điều 20 Thông tư số 05 năm 2020 của Thanh tra Chính phủ có quy định về trình tự thủ tục xử lý các đơn kiến nghị. Căn cứ trình tự thủ tục xử lý đơn kiến nghị thì nội dung đơn ông Đ chỉ xem xét lại bồi thường thỏa đáng do công ty bồi thường 19 tỷ là quá thấp nên UBND huyện ban hành để thông tin cho ông Đ để bồi thường theo đúng phương án đặc biệt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Hội đồng xét xử và các đương sự đã tuân thủ đúng quy định của Luật Tố tụng hành chính.
Về nội dung: Bản án sơ thẩm đã tuyên không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Hữu Đ là phù hợp với các tài liệu có tại hồ sơ vụ án, có căn cứ và đúng các quy định của pháp luật. Tại phiên toà hôm nay ông Đ không đưa ra các chứng cứ gì mới chứng minh cho yêu cầu kháng cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ các tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện ý kiến tranh luận của các bên đương sự, ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Đơn kháng cáo của người khởi kiện ông Nguyễn Hữu Đ nộp trong thời hạn quy định của pháp luật nên hợp lệ.
[1.2] Về đối tượng khởi kiện và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Ông Nguyễn Hữu Đ yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Long An:
- Hủy Quyết định số 9438/QĐ-UBND ngày 18/12/2012 của UBND huyện C, tỉnh Long An về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư dự án khu thương mại, biệt thự và chung cư cao cấp do Công ty TNHH một thành viên T5 đầu tư trên địa bàn xã L, huyện C, tỉnh Long An.
- Hủy Quyết định số 1670/QĐ-UBND ngày 11/4/2018 của UBND huyện C, tỉnh Long An về việc phê duyệt, điều chỉnh bổ sung phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư dự án khu thương mại, biệt thự và chung cư cao cấp do Công ty TNHH một thành viên T5 đầu tư trên địa bàn xã L, huyện C, tỉnh Long An.
- Hủy Quyết định số 7662/QĐ-UBND ngày 28/10/2019 của UBND huyện C, tỉnh Long An về việc phê duyệt, điều chỉnh bổ sung phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư dự án khu thương mại, biệt thự và chung cư cao cấp do Công ty TNHH một thành viên T5 đầu tư trên địa bàn xã L, huyện C, tỉnh Long An.
- Hủy Quyết định số 4145/QĐ-UBND ngày 10/6/2014 của UBND huyện C, tỉnh Long An về việc bồi thường thiệt hại giá trị quyền sử dụng đất của các khoản hỗ trợ thuộc khu vực đất Nhà nước thu hồi để giao cho Công ty T5 đầu tư xây dựng khu thương mại, biệt thự và chung cư cao cấp tại xã L, huyện C, tỉnh Long An.
- Hủy Quyết định số 9116/QĐ-UBND ngày 23/12/2015 của UBND huyện C, tỉnh Long An về việc điều chỉnh Quyết định số 4145/QĐ-UBND ngày 10/6/2014 của UBND huyện C, tỉnh Long An.
- Hủy Quyết định số 6078/QĐ-UBND ngày 09/9/2016 của UBND huyện C, tỉnh Long An về việc điều chỉnh Quyết định số 4145/QĐ-UBND ngày 10/6/2014 của UBND huyện C, tỉnh Long An.
- Hủy Quyết định số 2890/QĐ-UBND ngày 17/5/2022 của Chủ tịch UBND huyện C, tỉnh Long An về việc cưỡng chế thu hồi đất đối với ông Đ.
- Buộc UBND huyện C, tỉnh Long An điều chỉnh giá bồi thường, đền bù với phần diện tích đất 4053m² của ông Đ bị thu hồi theo giá thực tế thị trường hiện nay.
- Buộc UBND huyện C, tỉnh Long An cho ông Đ được tái định cư ngay vị trí dự án của Công ty T5.
Đây là các khiếu kiện quyết định hành chính và hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Long An theo quy định tại khoản 1 Điều 30 và khoản 4 Điều 32 của Luật Tố tụng hành chính.
Tòa án sơ thẩm đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu cầu khởi kiện: Hủy Quyết định số 9438/QĐ-UBND ngày 18/12/2012 của UBND huyện C, tỉnh Long An; Quyết định số 1670/QĐ-UBND ngày 11/4/2018 của UBND huyện C, tỉnh Long An; Quyết định số 7662/QĐ-UBND ngày 28/10/2019 của UBND huyện C, tỉnh Long An; Quyết định số 4145/QĐ-UBND ngày 10/6/2014 của UBND huyện C, tỉnh Long An; Quyết định số 9116/QĐ-UBND ngày 23/12/2015 của UBND huyện C, tỉnh Long An và Quyết định số 6078/QĐ-UBND ngày 09/9/2016 của UBND huyện C, tỉnh Long An do hết thời hiệu khởi kiện theo điểm a khoản 2 Điều 116 của Luật Tố tụng hành chính là không đúng. Bởi lẽ, theo quy định tại khoản 1 Điều 193 Luật tố tụng hành chính và tinh thần Án lệ số 63/2023/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua, ông Đ khởi kiện hủy quyết định cưỡng chế thu hồi đất số 2890/QĐ-UBND ngày 17/5/2022 của Chủ tịch UBND huyện C. Nên khi giải quyết Quyết định 2890/QĐ- UBND toà án phải xem xét tính hợp pháp của quyết định thu hồi đất, quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư vì có liên quan trực tiếp đến Quyết định hành chính 2890/QĐ-UBND mặc dù thời hiệu đã hết. Xét, tuy tòa án cấp sơ thẩm đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông Đ đối với 06 quyết định hành chính nêu trên là chưa đúng, nhưng khi xem xét Quyết định cưỡng chế thu hồi số 2890/QĐ-UBND ngày 17/5/2022 của Chủ tịch UBND huyện C, toà án cấp sơ thẩm có nhận định về việc bồi thường, hổ trợ, chính sách tái định cư đối với người khởi kiện.
Ngoài ra, tại phiên toà người khởi kiện xuất trình chứng cứ mới là văn bản số 6914/UBND-NC ngày 22/12/2022 của Chủ tịch UBND huyện C và cho rằng đây là Quyết định giải quyết khiếu nại đối với các Quyết định bồi thường, hổ trợ, tái định cư trên, nên thời hiệu được lập lại kể từ ngày người khởi kiện nhận được văn bản này. Đồng thời người khởi kiện cũng xuất trình thông báo thụ lý số 320/2023/TLST- HC của toà án nhân dân tỉnh Long An. Xét thấy, tại thông báo thụ lý số 320/2023/TLST-HC của toà án nhân dân tỉnh Long An đã thụ lý xem xét văn bản số 6914/UBND-NC ngày 22/12/2022 của Chủ tịch UBND huyện C, nên trong quá trình xem xét giải quyết văn bản trên, toà án có thể xem xét lại 6 Quyết định đã đình chỉ trên.
Do vậy, hội đồng xét xử xét thấy, không cần thiết phải huỷ bản án sơ thẩm về việc đình chỉ đối với yêu cầu trên.
[2] Về nội dung:
[2.1] Ông Nguyễn Hữu Đ bị thu hồi diện tích 4.103m² đất nuôi trồng thủy sản và đất ở tại nông thôn (thửa đất số 459, diện tích 3.753m², mục đích sử dụng đất nuôi trồng thủy sản; thửa đất số 3425, diện tích 300m² và thửa đất số 2634, diện tích 50m², mục đích sử dụng đất ở tại nông thôn, cùng tờ bản đồ số 4) tại xã L. Theo phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư được phê duyệt, ông Nguyễn Hữu Đ được bồi thường, hỗ trợ tổng số tiền 2.670.046.300 đồng (chưa tính tiền chậm trả), về chế độ tái định cư ông không thuộc đối tượng được hỗ trợ tái định cư. Qua nhiều lần tiếp xúc vận động, ông Nguyễn Hữu Đ đồng ý nhận tiền đối với thửa đất số 2634, tờ bản đồ số 4, diện tích 50m² với số tiền 20.750.000 đồng, còn lại diện tích 4.053m² với tổng số tiền 2.649.296.300 đồng (chưa tính tiền chậm chi trả) ông chưa đồng ý nhận tiền bồi thường và bàn giao mặt bằng. Để đẩy nhanh xây dựng dự án, Chủ đầu tư Công ty Cổ phần T5 đồng ý hỗ trợ ngoài phương án đối với diện tích thu hồi 4.053m² của ông Đ theo giá phê duyệt dự án ĐT.826E và hỗ trợ chuyển đổi nghề tìm kiếm việc làm tổng số tiền 19.499.270.300 đồng. Nhưng ông Đ không đồng ý và tiếp tục đề nghị UBND bồi thường 50 tỷ đồng (bao gồm tài sản trên đất, không hỗ trợ nền tái định cư).
Xét, ngày 02/8/2012 Ủy ban nhân dân tỉnh L ban hành Quyết định số 2419/QĐ-UBND về việc phê duyệt đơn giá bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với dự án khu thương mại, biệt thự và chung cư cao cấp do Công ty TNHH một thành viên T5 làm chủ đầu tư trên địa bàn xã L, huyện C, tỉnh Long An là đúng quy định tại khoản 2 Điều 74 Luật Đất đai năm 2013, Khoản 1 Điều 15 Nghị định số 44/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ.
Căn cứ vào Quyết định số 2419/QĐ-UBND ngày 02/8/2012 của UBND tỉnh L về việc phê duyệt đơn giá bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với dự án khu thương mại, biệt thự và chung cư cao cấp do Công ty TNHH một thành viên T5 làm chủ đầu tư trên địa bàn xã L, huyện C, tỉnh Long An, UBND huyện C, tỉnh Long An ban hành Quyết định số 9438/QĐ-UBND ngày 18/12/2012 về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư dự án khu thương mại, biệt thự và chung cư cao cấp do Công ty TNHH một thành viên T5 làm chủ đầu tư trên địa bàn xã L, huyện C, tỉnh Long An.
Căn cứ Quyết định số 9438/QĐ-UBND ngày 18/12/2012 về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư dự án khu thương mại, biệt thự và chung cư cao cấp do Công ty TNHH một thành viên T5 làm chủ đầu tư trên địa bàn xã L, huyện C, tỉnh Long An; UBND huyện C ban hành Quyết định số 1670/QĐ-UBND ngày 11/4/2018, Quyết định số 7662/QĐ-UBND ngày 28/10/2019, Quyết định số 4145/QĐ-UBND ngày 10/6/2014, Quyết định số 9116/QĐ-UBND ngày 23/12/2015, Quyết định số 6078/QĐ-UBND ngày 09/9/2016.
Như vậy, UBND huyện C ban hành các quyết định bồi thường, hỗ trợ do bị thiệt hại về đất đối với ông Đ là đúng qui định của pháp luật.
[2.2] Đối với yêu cầu khởi kiện buộc UBND huyện C, tỉnh Long An điều chỉnh giá bồi thường, đền bù với phần diện tích đất 4.053 m² của ông Đ bị thu hồi theo giá thực tế thị trường hiện nay. Như đã phân tích, UBND huyện C ban hành các quyết định bồi thường, hỗ trợ cho ông Đ đúng qui định pháp luật nên đối với yêu cầu này ông Đ là không có căn cứ nên không chấp nhận.
[2.3] Đối với yêu cầu buộc UBND huyện C cho ông Đ được tái định cư tại vị trí dự án của Công ty cổ phần T5 đối với toàn bộ diện tích đất 350 m² đất ở và nhà ở bị thu hồi: Qua xác minh thì ông Nguyễn Hữu Đ còn chỗ ở trên địa bàn xã L nên không được hỗ trợ tái định cư theo quy định tại Quyết định số 9438/QĐ-UBND ngày 18/12/2012 của UBND huyện C về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư.
[2.4] Do các Quyết định nêu trên đã có hiệu lực pháp luật và ông Đ không chấp hành các quyết định nêu trên nên Chủ tịch UBND huyện C ban hành quyết định số 2890/QĐ-UBND ngày 17/5/2022 về việc cưỡng chế thu hồi đất đối với ông Đ là đúng theo quy định tại Điều 69 và Điều 71 Luật Đất đai, Khoản 2, Điều 11 Thông tư số 30/2014/TT-BTNMT ngày 02/6/2014 của Bộ T6; Khoản 1 Điều 6 Quyết định số 35/2016/QĐ-UBND ngày 07/7/2016 của UBND tỉnh L).
[3] Tòa án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Hữu Đ là có căn cứ. Hội đồng xét xử phúc thẩm thống nhất quan điểm đại diện Viện kiểm sát cấp cao, bác toàn bộ yêu cầu kháng cáo của người khởi kiện, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[4] Về án phí hành chính phúc thẩm: Do ông Đ là người cao tuổi nên được miễn án phí.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 241 Luật Tố tụng hành chính;
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Hữu Đ
Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 182/2023/HC-ST ngày 29/9/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An.
Căn cứ Điều 30, Điều 32, Điều 143, Điều 165, Điều 193, Điều 358 Luật Tố tụng hành chính năm 2015;
Căn cứ Điều 62, Điều 66, Điều 69, Điều 70 và Điều 71 Luật Đất đai năm 2013;
Căn cứ Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
1. Đình chỉ vụ án đối với các yêu cầu:
- Hủy Quyết định số 9438/QĐ-UBND ngày 18/12/2012 của UBND huyện C, tỉnh Long An về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư dự án khu thương mại, biệt thự và chung cư cao cấp do Công ty TNHH một thành viên T5 đầu tư trên địa bàn xã L, huyện C, tỉnh Long An.
- Hủy Quyết định số 1670/QĐ-UBND ngày 11/4/2018 của UBND huyện C, tỉnh Long An về việc phê duyệt, điều chỉnh bổ sung phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư dự án khu thương mại, biệt thự và chung cư cao cấp do Công ty TNHH một thành viên T5 đầu tư trên địa bàn xã L, huyện C, tỉnh Long An.
- Hủy Quyết định số 7662/QĐ-UBND ngày 28/10/2019 của UBND huyện C, tỉnh Long An về việc phê duyệt, điều chỉnh bổ sung phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư dự án khu thương mại, biệt thự và chung cư cao cấp do Công ty TNHH một thành viên T5 đầu tư trên địa bàn xã L, huyện C, tỉnh Long An.
- Hủy Quyết định số 4145/QĐ-UBND ngày 10/6/2014 của UBND huyện C, tỉnh Long An về việc bồi thường thiệt hại giá trị quyền sử dụng đất của các khoản hỗ trợ thuộc khu vực đất Nhà nước thu hồi để giao cho Công ty T5 đầu tư xây dựng khu thương mại, biệt thự và chung cư cao cấp tại xã L, huyện C, tỉnh Long An.
- Hủy Quyết định số 9116/QĐ-UBND ngày 23/12/2015 của UBND huyện C, tỉnh Long An về việc điều chỉnh Quyết định số 4145/QĐ-UBND ngày 10/6/2014 của UBND huyện C, tỉnh Long An.
- Hủy Quyết định số 6078/QĐ-UBND ngày 09/9/2016 của UBND huyện C, tỉnh Long An về việc điều chỉnh Quyết định số 4145/QĐ-UBND ngày 10/6/2014 của UBND huyện C, tỉnh Long An.
2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Hữu Đ đối với các yêu cầu:
- Hủy Quyết định số 2890/QĐ-UBND ngày 17/5/2022 của Chủ tịch UBND huyện C, tỉnh Long An về việc cưỡng chế thu hồi đất đối với ông Đ.
- Buộc UBND huyện C, tỉnh Long An điều chỉnh giá bồi thường, đền bù với phần diện tích đất 4053 m² của ông Đ bị thu hồi theo giá thực tế thị trường hiện nay.
- Buộc UBND huyện C, tỉnh Long An cho ông Đ được tái định cư ngay vị trí dự án của Công ty T5.
3. Về chi phí tố tụng và án phí:
Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 2.500.000 đồng, ông Đ phải chịu, ông Đ đã nộp xong.
Về án phí: ông Nguyễn Hữu Đ phải chịu án phí hành chính sơ thẩm nhưng do Đ là người cao tuổi thuộc trường hợp được miễn nộp tiền án phí hành chính sơ thẩm nên ông Đ không phải nộp án phí hành chính sơ thẩm.
Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Long An; Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Long An không phải chịu án phí hành chính sơ thẩm.
4. Về án phí phúc thẩm: Ông Nguyễn Hữu Đ được miễn án phí.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Thanh Duyên |
Bản án số 447/2024/HC-PT ngày 23/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về khiếu kiện quyết định hành chính và hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
- Số bản án: 447/2024/HC-PT
- Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện quyết định hành chính và hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 23/05/2024
- Loại vụ/việc: Hành chính
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: không chấp nhận yêu cầu kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm
