|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 446/2025/HS-ST Ngày: 26-6-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Bình
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Văn Khuyến
Ông Mai Thanh Giàu
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Quang – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Ông Lê Phong - Kiểm sát viên.
Vào ngày 26 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 398/2025/TLST-HS ngày 11 tháng 6 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 450/2025/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 6 năm 2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Hồng T;
Sinh năm 1990; Nơi sinh: Bình Dương; Số định danh: 074090003441; Nơi thường trú: Số B khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương; Trình độ học vấn: 8/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Hồng N (chết) và bà Trương Thị M (chết); Chưa có vợ, con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo bị giam giữ từ ngày 29 tháng 9 năm 2024. (Có mặt)
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Ông Lê Văn K, sinh năm 1992; Địa chỉ: Ấp K, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 15/9/2024, Nguyễn Hồng T quen biết với Lê Văn K qua mạng xã hội. Tấn biết K đang thất nghiệp, không có nơi ở và cũng là người nghiện ma túy đá nên rủ K đến ở chung tại lán trại xây dựng không phép của T tại vỉa hè thuộc bãi đất trống dọc suối N, đoạn qua Khu phố A, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Đến khoảng 22 giờ 00 phút cùng ngày, K đi xe ôm công nghệ đến nơi T ở. Trong lán trại, T rủ K cùng sử dụng ma túy. Nguồn gốc ma túy là do T mua thông qua mạng xã hội Blued vào ngày 10/9/2024. T sử dụng tài khoản “_bu_abcd_12345” để tìm kiếm người bán ma tuý. Sau khi tìm được người bán, T sẽ nhắn tin nói số lượng ma túy cần mua và nơi đang cư trú, người bán sẽ hẹn địa điểm giao ma tuý, khi đến nơi sẽ nhắn cho T ra lấy ma tuý và đưa tiền. Quá trình sử dụng ma túy, T lấy 01 chai nhựa có nắp màu đen, bên trên gắn 01 ống thủy tinh (nỏ) và 01 ống hút nhựa màu xanh. Bên trong ống thủy tinh chứa sẵn ma túy mà T sử dụng còn dư từ trước đó. T dùng tay phải cầm dụng cụ đưa lên miệng K, tay trái lấy hộp quẹt lên châm lửa cho K hút. Khương hút xong thì T tự cầm dụng cụ hút tiếp. Khương và Tấn hút khoảng 06 đến 07 hơi đến khi hết ma tuý thì đi ngủ.
Đến trưa ngày 16/9/2024, T liên hệ với tài khoản mạng xã hội Blued tên “I see 24/7” để đặt mua 500.000 đồng ma tuý đá. Cả hai hẹn giao ma túy và nhận tiền tại khu vực cầu vượt L. Tại khu vực cầu vượt L, T nhận một bao thuốc lá chứa ma túy bên trong và giao tiền cho một người đàn ông bịt mặt, không rõ nhân thân lai lịch, đi xe mô tô hiệu Honda Sirius không gắn biển số. T mang ma túy về lán trại của mình. Sau đó, T mở bao thuốc lá, lấy từ bên trong 01 gói nylon chứa ma túy đổ hết vào trong dụng cụ sử dụng ma túy gồm 01 chai thủy tinh có gắn 01 ống thủy tinh và 01 ống hút nhựa màu đen để sử dụng. Khi T đốt ống thủy tinh thì thấy ma túy bị cháy đen và bốc mùi khét nên nghĩ là đã mua phải ma túy giả rồi mang toàn bộ số ma túy còn lại ra đổ bỏ tại bãi rác gần nơi ở. Lúc này, K đang nằm sử dụng điện thoại trong lán trại ngửi thấy mùi khét nên lại xem thì được T cho biết việc sự việc như trên.
Đến 21 giờ 00 phút ngày 16/9/2024, Công an phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành kiểm tra hành chính tại lán trại dựng trái phép của T thì phát hiện T và K có biểu hiện sử dụng trái phép chất ma túy. T khai nhận có sử dụng trái phép chất ma túy trong lán trại cùng K và tự nguyện giao nộp 03 túi nylon dính tinh thể không màu, 02 dụng cụ sử dụng ma túy dạng ống thủy tinh (nỏ) nên Công an phường L đã bàn giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T tiếp nhận và giải quyết theo thẩm quyền. Kết quả xét nghiệm chất ma túy đối với Nguyễn Hồng T và Lê Văn K cho kết quả dương tính với ma túy loại Methamphetamine.
Vật chứng trong vụ án:
- 03 túi nylon có dính tinh thể không màu, đã thực hiện giám định sau đó được niêm phong theo mã vụ 3395/24 T (1), khối lượng chất ma túy đã sử dụng hết sau khi phục vụ giám định;
- 01 chai nhựa có nắp màu đen bên trên gắn 01 ống thủy tinh, 01 ống hút bằng nhựa màu xanh, trong ống thủy tinh có chứa chất màu nâu, đã thực hiện giám định sau đó được niêm phong theo mã vụ 3395/24 (2), khối lượng chất ma túy đã sử dụng hết sau khi phục vụ giám định;
- 01 chai thủy tinh có gắn 01 ống thủy tinh và 01 ống hút bằng nhựa màu đen, trong ống thủy tinh có chứa chất màu nâu, đã thực hiện giám định sau đó được niêm phong theo mã vụ 3395/24 T (3), khối lượng chất ma túy còn lại sau khi phục vụ giám định là 0,0117 gam;
- 01 hộp quẹt gas màu xanh không có nhãn hiệu;
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS màu vàng, số I: 35720309514301.
Kết luận giám định số 11032/KL-KTHS ngày 26/9/2024 của Phòng K1 Công an Thành phố H kết luận:
Gói 1: Tinh thể không màu, được ký hiệu mẫu m1 cần giám định là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng là 0,0024 gam, loại Methamphetamine;
Gói 2: Tinh thể màu nâu, được ký hiệu mẫu m2 cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng là 0,0224 gam, loại Methamphetamine;
Gói 3: Tinh thể màu nâu, được ký hiệu mẫu m2 cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng là 0,0393 gam, loại Methamphetamine;
Tổng khối lượng ma túy thu giữ được là 0,0641 gam loại Methamphetamine.
Cáo trạng số 373/CT-VKSTPTĐ ngày 04/6/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức truy tố Nguyễn Hồng T về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 Bộ luận Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với Nguyễn Hồng T về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo Điều 255 của Bộ luật Hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 255; Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt Nguyễn Hồng T mức án từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù. Xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng; bị cáo không có ý kiến tranh luận với luận tội của Kiểm sát viên và không tự bào chữa; Bị cáo nói lời sau cùng biết lỗi của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, Nguyễn Hồng T khai nhận vào lúc 22 giờ 00 phút, ngày 15/9/2024, tại lán trại nằm trên vỉa hè bãi đất trống dọc suối N, thuộc Khu phố A, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, T lấy 01 chai nhựa có nắp màu đen, bên trên gắn 01 ống thủy tinh (gọi là nỏ) và 01 ống hút nhựa màu xanh. Bên trong ống thủy tinh chứa sẵn ma túy mà T sử dụng còn dư từ trước đó. T dùng tay cầm dụng cụ đưa lên miệng K, tay còn lại dùng hộp quẹt châm lửa cho K hút. Khương hút xong thì T tự cầm dụng cụ hút tiếp. Khương và Tấn hút khoảng 06 đến 07 hơi đến khi hết ma tuý thì đi ngủ. Nguyễn Hồng T đã có hành vi cung cấp trái phép địa điểm, dụng cụ và cung cấp chất ma túy loại Methamphetamine cho Lê Văn K sử dụng. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, có tính phạm tội với lỗi cố ý. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai bị cáo trong quá trình điều tra, vật chứng thu giữ, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, phù hợp với sự nhất khách quan của vụ án đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Hồng T đã phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại Điều 255 Bộ luật Hình sự.
[3] Như vậy quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đối với bị cáo Nguyễn Hồng T về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.
[4] Hành vi phạm tội của bị cáo là cố ý và nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến chế độ độc quyền quản lí các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội, cần phải xử lý nghiêm minh bị cáo trước pháp luật, cần có một mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và đấu tranh phòng, chống tội phạm.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
[7] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo không có việc làm ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.
[8] Về xử lý vật chứng:
03 gói niêm phong có mã vụ 3395/24 T (1), 3395/24 T (2), 3395/24 T (3) bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Hồng T, hình dấu Công an phường L, thành phố T, bên trong có vật chứng và ma túy còn lại sau giám định; 01 hộp quẹt gas màu xanh không có nhãn hiệu cần tịch thu tiêu hủy;
01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS màu vàng, số Imei 35720309514301 là công cụ phương tiện phạm tội cần tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.
[9] Về các vấn đề khác: Đối với hành vi của Nguyễn Hồng T tàng trữ trái phép 0,0641 gam chất ma túy loại Methamphetamine chưa đủ căn cứ xử lý hình sự là có cơ sở. Đối với Lê Văn K có hành vi sử dụng ma túy với Nguyễn Hồng T nhưng không hùn tiền mua ma túy với T nên không có căn cứ xử lý hình sự K. Đối với người đàn ông bán ma túy cho T, hiện nay chưa xác minh được nhân thân, lai lịch nên chưa có căn cứ xử lý.
[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Toà án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 255 Bộ luật Hình sự;
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hồng T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 255, Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng T 03 (Ba) năm 06 (S) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày ngày 29/9/2024.
- Áp dụng Điều 106 Bộ Luật Tố tụng Hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 03 gói niêm phong có mã vụ 3395/24 T (1), 3395/24 T (2), 3395/24 T (3) bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Hồng T, hình dấu Công an phường L, thành phố T, bên trong có vật chứng và ma túy còn lại sau giám định; 01 hộp quẹt gas màu xanh không có nhãn hiệu.
Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS màu vàng, số I: 35720309514301.
(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 301/QĐ-VKSTPTĐ ngày 03/6/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức; Biên bản giao nhận tang tài vật số 405C ngày 11/6/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức)
- Áp dụng Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Toà án: Buộc bị cáo Nguyễn Hồng T chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn là 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thái Bình |
Bản án số 446/2025/HS-ST ngày 26/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 446/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Hồng Tấn
