|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 446/2024/DS-PT.
Ngày: 12-11-2024
V/v: “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phùng Thị Cẩm Hồng
Các Thẩm phán:
- 1. Ông Đặng Văn Những
- 2. Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Huỳnh Nhã Mi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Cẩm Chi - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 11 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 355/2024/TLPT-DS ngày 01 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 85/2024/DS-ST ngày 30 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 419/2024/QĐ-PT ngày 14 tháng 10 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kim N, sinh năm 1970. Địa chỉ: số B, ấp K, xã B, huyện C, tỉnh Long An.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: ông Dương Văn P, sinh năm 1991. Địa chỉ: số B, ấp D, xã V, huyện C, tỉnh Long An (Văn bản ủy quyền ngày 24 tháng 10 năm 2022).
- Bị đơn: Ông Trần Tấn A, sinh năm 1976. Địa chỉ: số C, Ấp A, xã H, huyện C, tỉnh Long An.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Bà Trịnh Thị K, sinh năm 1969. Địa chỉ: số B, Ấp E, xã H, huyện C, tỉnh Long An (văn bản ủy quyền ngày 21 tháng 10 năm 2024).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1976. Địa chỉ: số C, Ấp A, xã H, huyện C, tỉnh Long An.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị B: Bà Trịnh Thị K, sinh năm 1969. Địa chỉ: số B, Ấp E, xã H, huyện C, tỉnh Long An (văn bản ủy quyền ngày 21 tháng 10 năm 2024).
- Ông Nguyễn Văn N1, sinh năm 1968. Địa chỉ: số B, ấp K, xã B, huyện C, tỉnh Long An.
- Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1976. Địa chỉ: số C, Ấp A, xã H, huyện C, tỉnh Long An.
- Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim N.
- Người kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim N và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Dương Văn P trình bày trong quá trình giải quyết vụ án như sau:
Ngày 07/5/2022, bà N thoả thuận với ông A chuyển nhượng thửa đất số 332, tờ bản đồ số 13 xã V, diện tích là 371,9 m², loại đất lúa và thửa đất số 338, tờ bản đồ số 13 xã V, diện tích là 143 m², loại đất ở, giá chuyển nhượng là 1.850.000.000 đồng. Bà N đặt cọc cho ông A số tiền là 200.000.000 đồng, thời hạn ký và thực hiện hợp đồng chuyển nhượng là từ ngày 07/5/2022 đến ngày 17/6/2022. Tại Hợp đồng đặt cọc có nội dung, đất bao tranh chấp, đo đủ, đúng diện tích sử dụng đất và có thể chuyển nhượng cho bên thứ 3. Đến ngày thực hiện thủ tục chuyển nhượng thì ông A không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để thực hiện thủ tục chuyển nhượng đất, do Nhà nước chỉnh lý thu hồi 11,8m² nên ông A đã xin gia hạn thêm 02 tháng. Khi đến thời gian thực hiện thủ tục chuyển nhượng đất, thì diện tích đất thực tế của phần đất chuyển nhượng không đúng với diện tích trong giấy đặt cọc và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ranh giới đất không rõ ràng, nên phát sinh tranh chấp.
Ông A không có giao cho bà N giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, không giao hai biên bản lập ngày 18/02/2019 và 29/8/2019 về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ bà Huỳnh Thị T sang ông Huỳnh Tấn P1, ông Huỳnh Tấn P1 sang ông Trần Tấn A như người đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày. Ông A không thông báo cho bà N biết phần đất 104 m² ông A được cấp giấy nhưng do bà T1 sử dụng. Bà N không chấp nhận theo hiện trạng đất vì thiếu đất so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Nay bà N yêu cầu ông A trả lại cho bà N số tiền cọc đã nhận là 200.000.000 đồng và ông A phải chịu phạt cọc số tiền là 200.000.000 đồng.
Bị đơn ông Trần Tấn A và người đại diện theo ủy quyền của bị đơn là bà Trịnh Thị K trình bày trong quá trình giải quyết vụ án như sau: Ông A có thoả thuận chuyển nhượng đất và nhận số tiền đặt cọc của bà N bà N như người đại diện theo ủy quyền của bà N trình bày. Đất hiện trạng đã có hàng rào kiên cố, khi thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất và đặt cọc thì bà N đã xem đất, ông A đã cung cấp cho bà N 02 biên bản của UBND xã Vĩnh Công lập ngày 18/02/2019 và ngày 29/8/2019 về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ bà Huỳnh Thị T sang ông Huỳnh Tấn P1, từ ông Huỳnh Tấn P1 sang ông Trần Tấn A, nội dung là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông A có một phần đất có diện tích là 104 m² của bà T1, cam kết chuyển nhượng luôn phần diện tích sai ranh nhưng không được sử dụng, vì bà T1 đã xây dựng công trình kiên cố trên phần đất 104 m², bà N chấp nhận hiện trạng đất. Trong thời gian đặt cọc thì Nhà nước thu hồi một phần đất của ông A để mở rộng đường L. Sau khi điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bà N không thực hiện việc ký và thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, nên bà N đã vi phạm hợp đồng đặt cọc. Do bà N là người có lỗi là không thực hiện được việc ký kết và thực hiện hợp đồng, nên ông A không đồng ý với yêu cầu của bà N. Ông A không đồng ý trả lại tiền cọc cho bà N, ông A được hưởng số tiền 200.000.000 đồng mà bà N đã đặt cọc cho ông A.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 85/2024/DS-ST ngày 30 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành đã tuyên:
Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 147, 227, 228, 235, 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Điều 328 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu của bà Nguyễn Thị Kim N, buộc ông Trần Tấn A có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị Kim N số tiền đặt cọc là 200.000.000 đồng.
- Không chấp nhận một phần yêu cầu của bà Nguyễn Thị Kim N về việc yêu cầu phạt cọc đối với ông Trần Tấn A với số tiền là 200.000.000 đồng.
- Bà Nguyễn Thị Kim N và ông Trần Tấn A mỗi người phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc đất với số tiền là 3.998.000 đồng, ông Trần Tấn A có nghĩa vụ trả lại cho bà Nguyễn Thị Kim N số tiền là 3.998.000 đồng.
- Kể từ khi người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà người phải thi hành án chậm thi hành án, thì người phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, tương ứng với thời gian và số tiền chậm thi hành án.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Kim N phải chịu án phí với số tiền là 10.000.000 đồng. Khấu trừ số tiền tạm ứng án phí bà Nguyễn Thị Kim N đã nộp là 10.000.000đồng, theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0008197 ngày 16 tháng 11 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành tỉnh Long An. Ông Trần Tấn A phải chịu án phí dân sự sơ thẩm với số tiền là 10.000.000 đồng.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo, quyền yêu cầu thi hành án đối với các đương sự.
Ngày 9 tháng 8 năm 2024 bà Nguyễn Thị Kim N có đơn kháng cáo một phần bản án dân sự sơ thẩm, ngày 13/8/2024 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành có Quyết định kháng nghị một phần bản án sơ thẩm, cùng đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm xem xét chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim N.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, không rút đơn kháng cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An vẫn giữ nguyên Quyết định kháng nghị. Các bên đương sự không đề nghị thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án, không cung cấp thêm chứng cứ mới.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim N có người đại diện là Dương Văn P trình bày: Bà N đã đặt cọc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông A, tại hợp đồng đặt cọc ngày 07/05/2022 có nội dung thỏa thuận khác là bao tranh chấp quyền sử dụng đất, đo đủ diện tích sử dụng đất và có thể chuyển nhượng cho người thứ ba đứng tên. Nhưng khi đo thực tế diện tích đất mà ông A chuyển nhượng cho bà N diện tích không đủ theo hợp đồng đã thỏa thuận, ranh giới có tranh chấp nên lỗi hoàn toàn là của ông A. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn là bà Trịnh Thị K trình bày khi thỏa thuận chuyển nhượng ông A có trao đổi với bà N là trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông A đứng tên có một phần đất diện tích 104m² do bà Đinh Thị T1 đang quản lý, sử dụng và ông A đã giao cho bà N hai biên bản lập ngày 18/02/2019 và ngày 29/8/2019 về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ bà Huỳnh Thị T sang ông Huỳnh Tấn P1 và ông Huỳnh Tấn P1 sang ông Trần Tấn A, phía ông A có cung cấp hai biên bản này, phần diện tích đất còn lại ông A đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì đã có hàng rào kiên cố, ổn định hiện tại không có ai tranh chấp và phía đại diện nguyên đơn cũng xác định hiện tại ranh đất cũng không có ai tranh chấp. Ngoài ra, khi mua đất bà N là người ở gần đất cũng biết rõ tình trạng đất, bà N đã xem đất thực tế và sau khi hai bên ký hợp đồng đặt cọc Nhà nước đã tiến hành mở lộ giới diện tích đất bị thiếu việc này bà N xác định cũng biết không có ý kiến gì và hiện tại ông A vẫn đồng ý tiếp tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo diện tích và hiện trạng thực tế, diện tích bao nhiêu thì tính tiền bấy nhiêu giá theo thỏa thuận, nhưng phía bà N cũng không đồng ý. Xét thấy, các bên không tiếp tục thực hiện được hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là do yếu tố khách quan, cả hai bên đều không có lỗi trong trường hợp này.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An phát biểu ý kiến:
Về thủ tục: Người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự tại Tòa án cấp phúc thẩm.
Về nội dung: Đối với kháng cáo của bà Nguyễn Thị Kim N và kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành về việc buộc ông Trần Tấn A phải chịu tiền phạt cọc 200.000.000đồng. Xét thấy Bản án sơ thẩm số 85/2024/DS-ST ngày 30/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Long An tuyên xử chấp nhận một phần yêu cầu của bà Nguyễn Thị Kim N, buộc ông Trần Tấn A có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị Kim N số tiền đặt cọc là 200.000.000 đồng, không chấp nhận một phần yêu cầu của bà Nguyễn Thị Kim N về việc yêu cầu phạt cọc đối với ông Trần Tấn A với số tiền 200.000.000 đồng là chưa phù hợp với quy định tại Điều 328 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Theo hợp đồng đặt cọc ngày 07/5/2022, ngoài việc thỏa thuận chuyển nhượng thửa đất 332 diện tích 371,9m² (loại đất lúa), thửa đất 338 diện tích 143m² (loại đất thổ) với giá 1.850.000.000đồng, hợp đồng đặt cọc còn thỏa thuận khác như sau: “Bao tranh chấp QSDĐ, đo đủ diện tích sử dụng đất và có thể chuyển nhượng cho người thứ ba đứng tên”.
Ông A biết rõ phần đất ông chuyển nhượng cho bà N có một phần diện tích 104m² chưa đo đạc (đo thực tế 74,2m²) do ông đứng tên nhưng bà Đinh Thị T1 sử dụng, ông xác định phần đất có diện tích 104m² là của bà T1. Ông A cho rằng đã thông báo cho bà N biết, bà N đồng ý chuyển nhượng luôn phần diện tích sai ranh nhưng không được sử dụng, vì bà T1 đã xây dựng công trình kiên cố trên phần đất 104 m² và bà N chấp nhận hiện trạng đất nên ký hợp đồng đặt cọc. Tuy nhiên, ông A không có chứng cứ chứng minh việc ông có thông báo cho bà N biết việc phần đất chuyển nhượng có một phần sai ranh. Mặc dù bà N đã biết thửa đất này trước khi thỏa thuận chuyển nhượng và bà N đã xem hiện trạng thửa đất trước khi ký hợp đồng đặt cọc nhưng việc bà N xem đất là để xác định vị trí và hình thể của thửa đất, bà N không biết diện tích thực tế của thửa đất là bao nhiêu nhưng do ông A cam kết đo đủ diện tích quyền sử dụng đất và bao tranh chấp quyền sử dụng đất nên bà N mới đồng ý ký hợp đồng đặt cọc. Khi bà N thuê đơn vị đo tiến hành đo đạc thì bà N mới phát hiện diện tích đất không đủ so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đất có tranh chấp với chủ giáp ranh. Do ông A đã vi phạm thỏa thuận của hợp đồng đặt cọc ngày 07/5/2022 nên bà N không đồng ý thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Do đó, có căn cứ xác định lỗi hoàn toàn thuộc về phía ông A nên việc bà N yêu cầu ông A trả lại số tiền đặt cọc 200.000.000 đồng và phải chịu phạt cọc với số tiền 200.000.000 đồng là có căn cứ.
Đối với kháng cáo của bà Nguyễn Thị Kim N về việc buộc ông Trần Tấn A phải chịu toàn bộ chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc đất số tiền 7.996.000đ. Xét thấy, do yêu cầu khởi kiện của bà N được chấp nhận toàn bộ nên ông A phải chịu toàn bộ chi phí tố tụng này theo Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị Kim N. Chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành. Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Về thủ tục:
- Đơn kháng cáo của bà Nguyễn Thị Kim N và Quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành được làm đúng theo quy định tại Điều 272, Điều 273, Điều 278, Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự, nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
- Về xác định quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án và giải quyết vụ án là phù hợp theo quy định tại Điều 26, Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về sự vắng mặt của đương sự: Ông Nguyễn Văn N1 có đơn xin xét xử vắng mặt, căn cứ Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông N1.
- Về nội dung: Xét kháng cáo của bà Nguyễn Thị Kim N, Quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành về việc buộc ông Trần Tấn A phải chịu tiền phạt cọc 200.000.000đồng. Xét thấy, bà N và ông A có ký hợp đồng đặt cọc ngày 07/05/2022 để bảo đảm cho việc giao kết và thực hiện hợp đồng chuyển nhượng thửa đất số 332, tờ bản đồ số 13, đất tọa lạc tại xã V, huyện C, tỉnh Long An diện tích là 371,9 m², loại đất lúa và thửa đất số 338, tờ bản đồ số 13, đất tọa lạc tại xã V, huyện C diện tích là 143 m², loại đất ở, giá thỏa thuận chuyển nhượng là 1.850.000.000 đồng. Bà N đã đặt cọc cho ông A số tiền là 200.000.000 đồng, thời hạn ký và thực hiện hợp đồng chuyển nhượng là từ ngày 07/5/2022 đến ngày 17/6/2022, hợp đồng đặt cọc còn thỏa thuận khác như sau “Bao tranh chấp QSDĐ, đo đủ diện tích sử dụng đất và có thể chuyển nhượng cho người thứ ba đứng tên”. Tuy nhiên, khi ký hợp đồng đặt cọc người đại diện theo ủy quyền của bị đơn là bà Trịnh Thị K xác định ông A có trao đổi với bà N là trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông A đứng tên có một phần đất diện tích 104m² do bà Đinh Thị T1 đang quản lý, sử dụng và ông A đã giao cho bà N hai biên bản lập ngày 18/02/2019 và ngày 29/8/2019 về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ bà Huỳnh Thị T sang ông Huỳnh Tấn P1 và ông Huỳnh Tấn P1 sang ông Trần Tấn A, phía ông A có cung cấp hai biên bản này, phần diện tích đất còn lại ông A đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì đã có hàng rào kiên cố, ổn định hiện tại không có ai tranh chấp và phía đại diện nguyên đơn cũng xác định hiện tại ranh đất cũng không có ai tranh chấp. Ngoài ra, khi mua đất bà N là người ở gần đất cũng biết rõ tình trạng đất, bà N đã xem đất thực tế và sau khi hai bên ký hợp đồng đặt cọc Nhà nước đã tiến hành mở lộ giới diện tích đất bị thiếu việc này bà N xác định cũng biết không có ý kiến gì và hiện tại ông A vẫn đồng ý tiếp tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo diện tích và hiện trạng thực tế, diện tích bao nhiêu thì tính tiền bấy nhiêu giá theo thỏa thuận, nhưng phía bà N cũng không đồng ý. Xét thấy, các bên không tiếp tục thực hiện được hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là do yếu tố khách quan, cả hai bên đều không có lỗi trong trường hợp này.
- Từ những phân tích trên: Xét thấy, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà N là có căn cứ và phù hợp với quy định tại Điều 328 của Bộ luật Dân sự năm 2015, nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim N và không có căn cứ chấp nhận Quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành.
- Đối với kháng cáo của bà Nguyễn Thị Kim N về việc buộc ông Trần Tấn A phải chịu toàn bộ chi phí tố tụng. Xét thấy, do yêu cầu khởi kiện của bà N được chấp nhận một phần, nên bà N và ông A mỗi bên phải chịu một phần chi phí tố tụng theo quy định. Do đó, kháng cáo của bà N không có căn cứ, nên không chấp nhận.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị Kim N phải chịu án phí do kháng cáo không được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị Kim N; không chấp nhận Quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành.
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 85/2024/DS-ST ngày 30 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Long An.
Căn cứ Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 148, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 328 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Căn cứ Điều 27, Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu của bà Nguyễn Thị Kim N về việc yêu cầu ông Trần Tấn A trả số tiền đặt cọc 200.000.000 đồng.
Buộc ông Trần Tấn A trả cho bà Nguyễn Thị Kim N số tiền đặt cọc là 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng).
- Không chấp nhận một phần yêu cầu của bà Nguyễn Thị Kim N về việc yêu cầu phạt cọc đối với ông Trần Tấn A với số tiền là 200.000.000 đồng.
- Về chi phí tố tụng: Buộc bà Nguyễn Thị Kim N và ông Trần Tấn A mỗi người phải chịu số tiền là 3.998.000 đồng, bà N đã nộp tạm ứng xong. Do đó, buộc ông Trần Tấn A có nghĩa vụ trả lại cho bà Nguyễn Thị Kim N số tiền là 3.998.000 đồng.
- Kể từ khi người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà người phải thi hành án chậm thi hành án, thì người phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, tương ứng với thời gian và số tiền chậm thi hành án.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Kim N phải chịu án phí số tiền là 10.000.000 đồng. Khấu trừ số tiền tạm ứng án phí bà Nguyễn Thị Kim N đã nộp là 10.000.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0008197 ngày 16 tháng 11 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành tỉnh Long An.
Ông Trần Tấn A phải chịu án phí số tiền là 10.000.000 đồng.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị Kim N phải chịu 300.000 đồng, được khấu trừ số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí mà ông T2 đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0009085 ngày 13/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Long An.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phùng Thị Cẩm Hồng |
Bản án số 446/2024/DS-PT ngày 12/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN về tranh chấp hợp đồng đặt cọc
- Số bản án: 446/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 12/11/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: không chấo nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị Kim Ngân, Không chấp nhận kháng nghị
