TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 446/2024/DS-PT Ngày 16-8-2024 “V/v Tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Chí Tâm;
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Chí Dững;
Bà Kiều Kim Xuân;
- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Hoàng Nhân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp;
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp: Bà Võ Thị Trang - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Trong ngày 16 tháng 8 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 310/2024/TLPT-DS ngày 19/6/2024, về việc “Tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 23/2024/DS-ST ngày 04 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 437/2024/QĐ-PT ngày 03 tháng 7 năm 2024, giữa:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Đắc P, sinh năm 1960.
Địa chỉ: Số D, Khóm A, Phường D, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện hợp pháp: Chị Nguyễn Thị Anh T, sinh năm 1984;
Địa chỉ: Số B, Khóm B, Phường A, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.
Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Tuyết V, sinh năm 1958.
Địa chỉ: Số D, Khóm A, Phường D, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Tô Thanh S, sinh năm 1988.
Địa chỉ: Số D, Khóm A, Phường D, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.
Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Tuyết V là bị đơn trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN
- Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Đắc P và người đại diện hợp pháp chị Nguyễn Thị Anh T trình bày:
Phần đất bà Phước đang tranh chấp với bà Vân H 1 diện tích 30m² là một phần của thửa đất số 37, tờ bản đồ số 4, tọa lạc tại khóm A, phường D, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp có nguồn gốc là của cha bà Phước là ông Nguyễn Văn Q chết năm 1997 để lại. Sau khi ông Q chết thì mẹ và các anh chị em thống nhất giao toàn bộ phần đất lại cho bà Phước. Đến ngày 19/01/2018 bà Phước được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 37.
Trước đây, khi thửa đất số 37 còn của cha bà Phước thì phía bà V có trồng cây trên phần đất tranh chấp, do phát sinh tranh chấp nên Thanh tra thị xã S (nay là thành phố S) giải quyết theo Biên bản giải quyết tranh chấp ngày 23/01/1991, lúc này chị bà P1 là bà Nguyễn Thị Yến N đại diện ông Q và chồng bà V là ông Tô Văn C tham dự. Kết quả giải quyết của Thanh tra là phía bà V (ông C) đồng ý đốn cây trồng, trả lại đất, sau khi đã thu hoạch xong số cây đang có trái, phía gia đình bà Phước bồi hoàn cho phía bà V 20.000 đồng, thời gian thực hiện từ ngày 23/01/1991 đến hết ngày 23/3/1991. Nhưng sau đó phía bà V không đốn cây, không trả lại đất cho bên bà Phước và phía bà Phước không bồi hoàn số tiền 20.000 đồng cho phía bà V. Sau khi cơ quan Thanh tra lập biên bản ngày 23/01/1991 thì không có cơ quan hay cán bộ nào đến để thực hiện việc giao đất, cưỡng chế thi hành. Ông C đã chết khoảng năm 2020, bà N đã đi định cư tại nước Thụy Điển từ năm 2006 đến nay.
Đến khoảng năm 2000 bà V tự ý làm mái che trên phần đất Hình 1 có kết cấu khung gỗ tạp, mái tole để làm nơi buôn bán. Đến năm 2021 bà V sửa lại làm bằng khung gỗ, mái tole, nền gạch+xi măng, vách tole một phần, nền lán xi măng và một phần che lưới nhựa, lót đan sử dụng đến nay. Bà Phước có nộp đơn tranh chấp với bà V đến Ủy ban nhân dân phường D, thành phố S; Ủy ban nhân dân phường D tổ chức hòa giải không thành, do bà V yêu cầu được mua lại đất (nhận chuyển nhượng) phần đất này của bà Phước, nhưng bà V không đồng ý với giá tiền bà Phước đưa ra.
Nay bà Phước yêu cầu bà Nguyễn Thị Tuyết V di dời các tài sản trả lại cho bà Phước phần đất diện tích 30m² (Hình 1) theo các mốc M1, M2, M3, M4, M5, M6, M7, M8, M9, M10, M11, M1 được thể hiện trên Sơ đồ đo đạc hiện trạng đất tranh chấp xác nhận ngày 26/01/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố S. Bà Phước không đồng ý chuyển nhượng phần đất tranh chấp cho bà V; bà Phước đồng ý trả giá trị san lắp trên phần đất Hình 1 cho bà V theo giá đã thỏa thuận thống nhất là 4.250.000 đồng. Bà Phước thống nhất kết quả định giá của Hội đồng định giá tài sản và giá trong văn bản thỏa thuận về giá ngày 14/3/2024, không yêu cầu định giá lại.
Ngoài ra, bà Phước không có yêu cầu gì khác.
- Bị đơn bà Nguyễn Thị Tuyết V trình bày:
Phần đất bà Phước đang tranh chấp với bà Vân H 1 diện tích 30m² có nguồn gốc là của cha bà Phước là ông Nguyễn Văn Q để lại cho bà Phước, hiện nay bà Phước đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phần đất này.
Trước đây, bà V sinh sống ở nơi khác, đến năm 1981 bà V và chồng là ông Tô Văn C nhận chuyển nhượng đất và xây dựng nhà tại địa chỉ số D, khóm A, phường D, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp để ở (giáp đất bà Phước). Đến năm 1991 bà V làm mái che trên đất đang tranh chấp có kết cấu khung gỗ tạp, mái tole làm nơi buôn bán; Đến năm 2021 bà V sửa lại làm bằng khung gỗ, mái tole, nền gạch + ximăng, vách tole một phần, nền lán xi măng và một phần che lưới nhựa, lót đan sử dụng làm quán buôn bán đến nay.
Trước đây, khi thửa đất số 37 còn của cha bà Phước thì phía bà V có trồng cây trên phần đất tranh chấp, do phát sinh tranh chấp nên Thanh tra thị xã S (nay là thành phố S) giải quyết theo Biên bản giải quyết tranh chấp ngày 23/01/1991, lúc này chị bà P1 là bà Nguyễn Thị Yến N đại diện ông Q và chồng bà V là ông Tô Văn C tham dự. Kết quả giải quyết của Thanh tra thì phía bà V (ông C) đồng ý đốn cây trồng trên đất sau khi đã thu hoạch xong số cây đang có trái, để trả đất cho phía gia đình bà Phước; gia đình bà Phước bồi hoàn cho phía bà V 20.000 đồng, thời gian thực hiện từ ngày 23/01/1991 đến hết ngày 23/3/1991. Nhưng sau đó phía bà V không đốn cây, để trả đất và phía bà Phước cũng không bồi hoàn số tiền 20.000 đồng cho phía bà V. Sau khi cơ quan Thanh tra lập biên bản ngày 23/01/1991, thì không có cơ quan hay cán bộ nào đến để thực hiện việc giao đất, cưỡng chế thi hành. Ông C đã chết khoảng năm 2016, bà N đã đi định cư ở nước ngoài trên 15 năm.
Năm 2021 bà Phước có nộp đơn tranh chấp phần đất Hình 1 diện tích 30m² với bà V đến Ủy ban nhân dân phường D, thành phố S; Ủy ban nhân dân phường D tổ chức hòa giải ngày 28/4/2021 không thành; khi đó bà Phước yêu cầu bà V trả giá trị quyền sử dụng đất là 50.000.000 đồng, nhưng bà V chỉ đồng ý trả giá trị là 30.000.000 đồng, do bà V không có khả năng trả theo số tiền bà Phước yêu cầu.
Nay bà V yêu cầu được tiếp tục quản lý, sử dụng phần đất đang tranh chấp Hình 1 diện tích 30m² các mốc M1, M2, M3, M4, M5, M6, M7, M8, M9, M10, M11, M1 theo Sơ đồ đo đạc hiện trạng đất tranh chấp xác nhận ngày 26/01/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố S và bà V đồng ý trả giá trị quyền sử dụng đất phần đất này cho bà Phước với giá tiền là 30.000.000 đồng. Bà V thống nhất kết quả định giá của Hội đồng định giá tài sản và giá trong văn bản thỏa thuận về giá ngày 14/3/2024, không yêu cầu định giá lại.
Ngoài ra, bà V không có yêu cầu gì khác.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Tô Thanh S có đơn yêu cầu giải quyết vụ kiện vắng mặt, có lời khai trong quá trình giải quyết vụ kiện trình bày:
Trước đây, năm 2021 anh S (con bà V) có tự san lắp trên phần đất đang tranh chấp 30m² mười xe gạch vụn với giá 300.000 đồng/xe và lót mười tấm đan với giá 200.000đồng/tấm để bà V sử dụng. Theo anh S trị giá mười xe gạch vụn anh S san lắp hiện nay có giá là 4.250.000 đồng và mười tấm đan có giá 1.700.000 đồng.
Phần san lắp và các tấm đan này anh S đồng ý cho bà V và anh S xác định đây là tài sản của bà V, do đó bà V tự quyết định, tự định đoạt. Anh S không có tranh chấp không có yêu cầu gì trong vụ án.
Bản án dân sự sơ thẩm số 23/2024/DS-ST ngày 04 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp quyết định:
Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 91, 92, 147, 157, 165, 227, 228, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 163, 166, 181, 192, 357 và 468 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 100, 166, 167 và 203 của Luật đất đai năm 2013; Điều 12, 14, 26, 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Đắc P.
- Buộc bà Nguyễn Thị Tuyết V di dời quán (nhà) để giao trả cho bà Nguyễn Thị Đắc P diện tích đất 30m² (Hình 1) theo các mốc M1, M2, M3, M4, M5, M6, M7, M8, M9, M10, M11, M1 được thể hiện trên Sơ đồ đo đạc hiện trạng đất tranh chấp xác nhận ngày 26/01/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố S.
- Buộc bà Nguyễn Thị Tuyết V giao cho bà Nguyễn Thị Đắc P sử dụng các tấm đan, gạch san lắp, cây trồng trong phần đất 30m² (Hình 1).
Bà Nguyễn Thị Đắc P được sử dụng và trả giá trị các tấm đan, gạch san lắp, cây trồng cho bà Nguyễn Thị Tuyết V trong phần đất 30m² (Hình 1), tổng cộng là 8.880.000 đồng.
(Có Sơ đồ đo đạc hiện trạng đất tranh chấp xác nhận ngày 26/01/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố S, Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ và Biên bản định giá tài sản ngày 02/11/2023 kèm theo).
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Miễn toàn bộ tiền tạm ứng án phí và án phí dân sự sơ thẩm cho bà Nguyễn Thị Đắc P, bà Nguyễn Thị Tuyết V, do đều là người cao tuổi và có đơn yêu cầu miễn nộp.
- Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Buộc bà Nguyễn Thị Tuyết V phải trả cho bà Nguyễn Thị Đắc P 3.009.680 đồng.
- Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của bên được thi hành án, nếu bên phải thi hành án chưa thi hành xong khoản tiền thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Ngoài ra bản án còn tuyên quyền kháng cáo và quyền yêu cầu thi hành án của các đương sự. Sau khi xét xử vụ án, bà Nguyễn Thị Tuyết V kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét yêu cầu được tiếp tục sử dụng phần đất có diện tích 30m² (Hình 1) thể hiện trên Sơ đồ đo đạc hiện trạng đất tranh chấp xác nhận ngày 26/01/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố S.
Tại phiên tòa phúc thẩm có mặt bà Phước, chị T, bà V. Các đương sự khẳng định đã cung cấp đầy đủ chứng cứ cho Tòa án giải quyết vụ án. Bà V giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và không cung cấp thêm chứng cứ chứng minh yêu cầu kháng cáo của mình.
Bà V trình bày: Bà xin được trả số tiền 40.000.000 đồng hoặc giữ nguyên đất để được sử dụng đến cuối đời sẽ trả lại đất cho bà Phước.
Chị T trình bày: Không đồng ý theo yêu cầu của bà V vì cần đất để sử dụng.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử đúng theo quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng có mặt thực hiện đúng theo quy định về quyền và nghĩa vụ đương sự. Về nội dung giải quyết vụ án đề nghị không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà V, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được kiểm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Về thủ tục tố tụng: Các đương sự thống nhất không có khiếu nại gì về thành phần những người tham gia tố tụng, không có yêu cầu gì khác.
- Về nội dung vụ án tranh chấp: Các đương sự bà Phước yêu cầu bà V di dời tài sản trên đất, để trả lại diện tích 30m² thuộc một phần thửa đất số 37, tờ bản đồ số 4, thể hiện tại Hình 1 các mốc M1, M2, M3, M4, M5, M6, M7, M8, M9, M10, M11 trở về mốc M1, đất tọa lạc tại phường D, thành phố S, theo Sơ đồ đo đạc xác nhận ngày 26/01/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố S. Tòa án cấp sơ thẩm qua thu thập chứng cứ và diễn biến phiên tòa nhận định:
Về nguồn gốc đất, phía bà V thừa nhận diện tích đất 30m² đang tranh chấp là của bà Phước và được cấp đứng tên quyền sử dụng đất. Đây là tình tiết không phải chứng minh; do đó xác định diện tích đất 30m² là của nguyên đơn bà Phước.
Bà Phước, bà V đã có phát sinh tranh chấp khi bà V lấn chiếm sử dụng đất bà Phước. Do vậy việc bà V đang quản lý, sử dụng không ngay tình, không có căn cứ pháp luật. Đồng thời, bà V đã có đất, nhà ở ổn định vị trí khác. Ngoài ra, nếu giao diện tích đất 30m² cho bà V thì phần đất này không đủ điều kiện để tách thành thửa đất riêng theo Quyết định số 22/2021/QĐ-UBND ngày 31/8/ 2021 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đ. Do đó, bà V yêu cầu được tiếp tục quản lý, sử dụng phần đất này và đồng ý trả giá trị quyền sử dụng đất cho bà Phước là không có cơ sở chấp nhận.
Vì vậy, việc bà Phước yêu cầu bà V trả cho bà Phước diện tích đất 30m² là có căn cứ, phù hợp với quy định pháp luật nên chấp nhận.
- Đối với các tài sản trên đất đang tranh chấp, Bà V xây cất quán có kết cấu khung gỗ, nền gạch + xi măng, mái tole, vách tole một phần, bà V sử dụng để làm nơi đun nấu, quán bán nước, không phải là căn nhà để ở. Ngoài ra, quán này của bà V ngoài việc cất một phần trên thửa đất số 37 của bà Phước có diện tích 4m², còn nằm trên phần mương công cộng của Nhà nước có diện tích 5,6m². Phần quán cất trên đất của bà Phước 4m² nếu giao cho bà Phước sử dụng và bà Phước trả giá trị cho bà V, sẽ không đảm bảo quyền lợi cho bà Phước, do phần quán còn lại trên đất Nhà nước vẫn là của bà V, hai bên có mâu thuẫn nên không thể sử dụng chung; bên cạnh đó trường hợp Nhà nước yêu cầu bà V di dời phần quán trên diện tích 5,6m² thuộc mương công cộng, sẽ ảnh hưởng đến phần quán 4m² nếu giao cho bà Phước.
Vì vậy, buộc bà V di dời phần quán cất trên đất của bà Phước, để trả đất cho bà Phước.
[3.1] Đối với các tấm đan bà V lót trên phần đất tranh chấp và cây trồng nếu di dời sẽ hư hỏng, không còn sử dụng tiếp được và gây lãng phí. Nên xét thấy cần giao cho bà Phước sử dụng và bà Phước trả giá trị cho bà V theo giá của Hội đồng định giá đã định và giá trong văn bản thỏa thuận về giá ngày 14/3/2024 là 4.630.000 đồng.
[3.2] Đối với phần san lắp trên đất tranh chấp bằng gạch vụn thì bà Phước đồng ý sử dụng, đồng ý trả giá trị san lắp cho bà V 4.250.000 đồng theo giá của văn bản thỏa thuận về giá ngày 14/3/2024 là phù hợp.
- [4] Đối với phần quán (nhà) bà Nguyễn Thị Tuyết V xây dựng trên mương công cộng diện tích 5,6m², các mốc M8, M9, D, C, M8 theo Sơ đồ đo đạc hiện trạng; phần đất này do Nhà nước quản lý, nên không xem xét giải quyết.
Đồng thời căn cứ vào đây để quyết định các phần chi phí, án phí theo quy định pháp luật.
- Sau khi xét xử sơ thẩm thì bà V kháng cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm chị T, bà Phước, bà V có mặt. Anh S có đơn xin vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án, anh S cũng đã cho bà V (mẹ anh S) phần chi phí san lấp, làm đất để bà V giải quyết. Bà V giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và không cung cấp thêm chứng cứ chứng minh yêu cầu kháng cáo của mình nhưng yêu cầu được trả giá trị đất là 40.000.000 đồng hoặc được sử dụng đất đến cuối đời sẽ trả lại đất cho bà Phước. Chị T không đồng ý theo yêu cầu của bà V vì xét hai bên không có thỏa thuận nào về việc chuyển nhượng đất mà do bà V tự ý sử dụng đất tranh chấp và việc không thực hiện chuyển nhượng này là đúng quy định pháp luật vì không thể tách quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật được. Do đó không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà V là đúng theo quy định pháp luật.
- [5] Đại diện Viện kiểm sát đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bà V; giữ nguyên bản án sơ thẩm là phù hợp, đúng quy định pháp luật nên chấp nhận. Hội đồng xét xử phúc thẩm quyết định giữ nguyên bản án sơ thẩm. Các phần còn lại của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- [6] Về chi phí, án phí dân sự phúc thẩm: Do giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm nên bà V phải chịu án phí dân sự phúc thẩm nhưng bà V là người cao tuổi và có đơn yêu cầu miễn nộp án phí nên bà V được miễn toàn bộ án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 308, Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị Tuyết V.
- Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Đắc P.
- Buộc bà Nguyễn Thị Tuyết V di dời quán (nhà) để giao trả cho bà Nguyễn Thị Đắc P diện tích đất 30m² (Hình 1) theo các mốc M1, M2, M3, M4, M5, M6, M7, M8, M9, M10, M11, M1 được thể hiện trên Sơ đồ đo đạc hiện trạng đất tranh chấp xác nhận ngày 26/01/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố S.
- Buộc bà Nguyễn Thị Tuyết V giao cho bà Nguyễn Thị Đắc P sử dụng các tấm đan, gạch san lắp, cây trồng trong phần đất 30m² (Hình 1).
Bà Nguyễn Thị Đắc P được sử dụng và trả giá trị các tấm đan, gạch san lắp, cây trồng cho bà Nguyễn Thị Tuyết V trong phần đất 30m² (Hình 1), tổng cộng là 8.880.000 đồng.
(Có Sơ đồ đo đạc hiện trạng đất tranh chấp xác nhận ngày 26/01/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố S, Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ và Biên bản định giá tài sản ngày 02/11/2023 kèm theo).
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Miễn toàn bộ tiền tạm ứng án phí và án phí dân sự sơ thẩm cho bà Nguyễn Thị Đắc P, bà Nguyễn Thị Tuyết V, do đều là người cao tuổi và có đơn yêu cầu miễn nộp.
- Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Buộc bà Nguyễn Thị Tuyết V phải trả cho bà Nguyễn Thị Đắc P 3.009.680 đồng.
- Về án phí dân sự phúc thẩm:
- Miễn toàn bộ án phí dân sự phúc thẩm cho bà Nguyễn Thị Tuyết V do bà V là người cao tuổi và có đơn yêu cầu miễn nộp.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Chí Tâm |
Bản án số 446/2024/DS-PT ngày 16/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất
- Số bản án: 446/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 16/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: NĐ: Nguyễn Thị Đắc Phước BĐ: Nguyễn Thị Tuyết Vân
