Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 446/2024/DS-PT

Ngày 09-9-2024

V/v Tranh chấp “Hợp đồng góp hụi”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Giang.

Các thẩm phán: Bà Phạm Thị Hồng Vân;

Bà Võ Thị Hồng Mai.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Cẩm Vân – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị Thủy Tiên - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 263/2024/TLPT-DS ngày 23 tháng 7 năm 2024 về tranh chấp “Hợp đồng góp hụi”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 117/2024/DS-ST ngày 12 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm 344/2024/QĐPT-DS ngày 29 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Lê Thị D, sinh năm 1978; Địa chỉ: Tổ A, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh. (có mặt)

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1960; Địa chỉ: Tổ 1, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh. Nơi tạm trú: Tổ A, Khu phố B, thị trấn V, huyện V, tỉnh Đồng Nai. (vắng mặt)

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Văn C, sinh năm 1957. Nơi cư trú: Tổ 1, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh. (có đơn xin xét xử vắng mặt)

Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị N, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn C

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 18 tháng 10 năm 2023 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Lê Thị D trình bày: Bà Nguyễn Thị N làm chủ hụi và bà có tham gia các dây hụi của bà N cụ thể như sau:

Dây hụi thứ nhất:

Khui ngày 04-5-2020 (AL), hụi 1.000.000 đồng/tháng, gồm 20 phần. Bà tham gia 01 phần và mua 01 phần ở kỳ thứ nhất. Bà đã đóng được 10 kỳ thì ngưng do bà N không gom hụi nữa. Tổng số tiền thực đóng 10 kỳ là 7.480.000 đồng. Phần hụi mua tại kỳ thứ nhất, bà N ghi: “Hụi chầu theo khui 1.000.000 đồng/tháng ngày 04-5-2020 (AL)”. Bà N nói là của bà Út P bán hụi nhưng bà chỉ thỏa thuận mua trực tiếp với bà N, bà giao tiền cho bà N, không biết người tên Út P là ai. Bà đã giao cho bà N số tiền mua hụi 12.800.000 đồng, trong đó: [(19 kỳ x 700.000 đồng) – 500.000 đồng tiền cò] = 12.800.000 đồng. Hàng tháng bà không nhận tiền hụi chết từ bà Út P mà bà N chỉ trả cho bà tiền lãi tương đương với số tiền hụi viên bỏ thăm hốt hụi, cụ thể: [(250.000 đồng x 08 kỳ) + (270.000 đồng x 01 kỳ)] = 2.270.000 đồng. Bà không biết các hụi viên cùng tham gia chơi dây hụi này gồm những ai. Dây hụi này bà N còn nợ bà số tiền hụi 7.480.000 đồng + 12.800.000 đồng = 20.280.000 đồng.

Dây hụi thứ hai:

Khui ngày 04-5-2020 (AL), hụi 2.000.000 đồng/tháng, gồm 20 phần. Bà tham gia 01 phần và mua 02 phần ở kỳ thứ nhất. Dây hụi này bà chưa hốt, đóng được 10 kỳ thì ngưng. Tổng số tiền hụi thực đóng 10 kỳ là 14.610.000 đồng. 02 Phần hụi mua tại kỳ thứ nhất, bà N ghi C1 và T hốt nên nội dung ghi: “Hụi chầu theo khui 2.000.000 đồng/tháng ngày 04-5-2020 (AL), C1 và T hốt”. Bà chỉ thỏa thuận mua hụi và giao tiền với bà N, không trực tiếp thỏa thuận với C1 và T và không biết người tên C1, T là ai. Bà đã giao cho bà N 02 phần hụi mua với số tiền 51.200.000 đồng. Trong đó: [(19 kỳ x 1.400.000 đồng x 02 phần) – 2.000.000 đồng tiền cò]= 51.200.000 đồng. Hàng tháng bà không nhận tiền hụi chết từ C1 và T mà bà N chỉ trả cho bà tiền lãi tương đương với số tiền hụi viên bỏ thăm hốt hụi, cụ thể: [(1.100.000 đồng x 04 kỳ) + (1.070.000 đồng x 01 kỳ) + (1.000.000 đồng x 03 kỳ) + (1.140.000 đồng x 01 kỳ) = 9.610.000 đồng. Bà không biết các hụi viên cùng tham gia chơi dây hụi này gồm những ai. Dây hụi này bà N còn nợ bà số tiền hụi 14.610.000 đồng + 51.200.000 đồng = 65.810.000 đồng.

Dây hụi thứ ba:

Khui ngày 02-03-2020 (AL), hụi 1.000.000 đồng/tháng, gồm 20 phần. Bà mua 01 phần ở kỳ thứ nhất, bà N nói là của chị G với nội dung: “Hụi chầu theo hụi 1.000.000 đồng khui ngày 02-3-2020 (AL) do G hốt ở kỳ thứ nhất”. Bà chỉ thỏa thuận mua và giao nhận tiền với bà N, không trực tiếp thỏa thuận với chị G và không biết người tên G là ai. Bà đã giao cho bà N 01 phần hụi mua với số tiền 12.800.000 đồng. Trong đó: [(19 kỳ x 700.000 đồng) – 500.000 đồng tiền cò]= 12.800.000 đồng. Hàng tháng bà không nhận tiền hụi chết từ chị G, bà N chỉ trả cho bà tiền lãi tương đương với số tiền hụi viên bỏ thăm hốt hụi, cụ thể: [(270.000 đồng x 02 kỳ) + (250.000 đồng x 06 kỳ) + (150.000 đồng x 01 kỳ) + (200.000 đồng x 02 kỳ)]= 2.590.000 đồng. Bà không biết các hụi viên cùng tham gia chơi dây hụi này gồm những ai. Dây hụi này bà N còn nợ bà số tiền hụi 12.800.000 đồng.

Dây hụi thứ tư:

Khui ngày 15-10-2020 (AL), hụi 1.000.000 đồng/tháng, gồm 20 phần. Bà mua 01 phần ở kỳ thứ 2, bà N nói là của chị P với nội dung: “Hụi chầu theo hụi 1.000.000 đồng khui ngày 15-10-2020 (AL) do P hốt ở kỳ thứ hai”. Bà chỉ thỏa thuận mua và giao nhận tiền với bà N, không trực tiếp thỏa thuận với chị P và không biết người tên P là ai. Bà đã giao cho bà N 01 phần hụi mua với số tiền số tiền 12.740.000 đồng. Trong đó: [(18 kỳ sống x 680.000 đồng) + (01 kỳ chết x 1.000.000 đồng) – 500.000 đồng tiền cò]= 12.740.000 đồng. Hàng tháng bà không nhận tiền hụi chết từ chị P, bà N chỉ trả cho bà tiền lãi tương đương với số tiền hụi viên bỏ thăm hốt hụi, cụ thể: [(300.000 đồng x 01 kỳ) + (260.000 đồng x 01 kỳ) + (270.000 đồng x 01 kỳ)] = 830.000 đồng. Bà không biết các hụi viên cùng tham gia chơi dây hụi này gồm những ai. Dây hụi này bà N còn nợ bà số tiền hụi 12.740.000 đồng.

Dây hụi thứ năm:

Khui ngày 09-01-2021 (AL), hụi 2.000.000 đồng/tháng, gồm 20 phần. Bà mua 02 phần ở kỳ thứ 1 và 2, bà N nói là của H, Quý hốt với nội dung: “Hụi chầu theo hụi 2.000.000 đồng khui ngày 09-01-2021 (AL) do H hốt ở kỳ thứ nhất và Q hốt ở kỳ thứ 2”. Bà chỉ thỏa thuận mua và giao nhận tiền với bà N, không trực tiếp thỏa thuận với người tên H và Q và không biết họ là ai. Bà đã giao cho bà N 02 phần hụi mua với số tiền 51.800.000 đồng. Hàng tháng bà không nhận tiền hụi chết từ H và Q, bà N chỉ trả cho bà tiền lãi tương đương với số tiền hụi viên bỏ thăm hốt hụi, cụ thể 550.000 đồng x 02 kỳ = 1.100.000 đồng. Bà không biết các hụi viên cùng tham gia chơi dây hụi này gồm những ai. Dây hụi này bà N còn nợ bà số tiền hụi 51.800.000 đồng.

Dây hụi thứ sáu:

Khui ngày 09-01-2021 (AL), hụi 1.000.000 đồng/tháng, gồm 20 phần. Bà mua 01 phần ở kỳ thứ 1, bà N nói là của Hồng hốt với nội dung: “Hụi chầu theo hụi 1.000.000 đồng khui ngày 09-01-2021 (AL) do H hốt ở kỳ thứ nhất”. Bà chỉ thỏa thuận mua và giao nhận tiền với bà N, không trực tiếp thỏa thuận với người tên H và không biết H là ai. Bà đã giao cho bà N 01 phần hụi mua với số tiền 12.800.000 đồng. Hàng tháng bà không nhận tiền hụi chết từ H, bà N chỉ trả cho bà tiền lãi tương đương với số tiền hụi viên bỏ thăm hốt hụi, cụ thể bà nhận được 01 kỳ là 270.000 đồng. Bà không biết các hụi viên cùng tham gia chơi dây hụi này gồm những ai. Bà N còn nợ bà số tiền hụi 12.800.000 đồng.

Tổng cộng số tiền hụi vợ chồng bà N còn nợ bà là 176.230.000 đồng. Ngoài ra, bà không còn tham gia dây hụi nào khác. Bà N ngưng hụi từ ngày 01-4-2021 và bỏ địa phương đi cho đến nay.

Khi tham gia các dây hụi thì chủ thảo (bà N) không có giao danh sách hụi cho hụi viên mà bà N có ghi thông tin ngày mở hụi, số người tham gia, số phần bà tham gia, số tiền khui hụi hàng tháng và số tiền thực đóng cũng như thông tin người bán hụi trong sổ do hụi viên giữ. Hàng tháng bỏ thăm bao nhiêu, đóng tiền hụi bao nhiêu đều được ghi chung trong cuốn sổ này và bà N có ký tên xác nhận.

Theo đơn khởi kiện ngày 18-10-2023, bà khởi kiện yêu cầu bà N và ông C trả cho bà số tiền nợ hụi 176.640.000 đồng và bà không yêu cầu tính lãi. Trong quá trình giải quyết vụ án, bà không yêu cầu tính lãi.

Tại bản tự khai ngày 25-5-2024 và quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Nguyễn Thị N trình bày:

Lê Thị D khởi kiện yêu cầu bà và ông Lê Văn C (chồng bà) trả số tiền hụi 176.230.000 đồng, bà không đồng ý, vì việc bà D cung cấp các giấy khui hụi và mua hụi cho Toà án không ghi rõ họ và tên của chủ hụi. Bà không xác định được bà D có phải là hụi viên của dây hụi do bà làm thảo hụi hay không.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn C trình bày:

Ông là chồng của bà Nguyễn Thị N. Việc bà N làm chủ thảo hụi thì ông có biết nhưng không biết cụ thể gồm những ai chơi hụi và việc chơi hụi như thế nào. Tiền hụi do bà N quản lý và không mua sắm gì cho gia đình. Hàng ngày ông đi làm đánh bắt cá từ 05 giờ sáng đến trưa về nhà và vào vườn chăm sóc vườn cây ăn trái nên không biết việc bà N làm thảo hụi. Nay, bà D khởi kiện yêu cầu ông cùng với bà N trả tiền hụi cho bà D thì ông không đồng ý vì số tiền này không liên quan đến ông.

Tại bản án Dân sự sơ thẩm số: 117/2024/DS-ST ngày 12 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh đã xử:

Căn cứ vào Điều 471 Bộ luật Dân sự; các Điều 144, 147, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 27, 37 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 23 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị D đối với bà Nguyễn Thị N và ông Lê Văn C về việc tranh chấp “Hợp đồng góp hụi”.

Buộc bà Nguyễn Thị N và ông Lê Văn C có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Lê Thị D số tiền hụi là 176.230.000 (một trăm bảy mươi sáu triệu hai trăm ba mươi nghìn) đồng. Ghi nhận bà Lê Thị D không yêu cầu tính tiền lãi

Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, nghĩa vụ chậm thi hành án, quyền kháng cáo của các đương sự.

* Nội dung kháng cáo:

Ngày 03-7-2024, bị đơn bà Nguyễn Thị N có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị bác khởi kiện của bà D vì bà không chơi hụi với bà D, chữ ký trong các giấy tờ mà bà D nộp không phải chữ ký của bà.

Cùng ngày, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn C có đơn kháng cáo, đề nghị bác khởi kiện của bà D yêu cầu ông C phải trả tiền hụi.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

N được triệu tập hợp lệ 2 lần nhưng vắng mặt. Ông C có đơn xin xét xử vắng mặt.

Kiểm sát viên phát biểu quan điểm:

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa: Thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa phúc thẩm dân sự.

- Về việc tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng: Các đương sự đều thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình.

- Về nội dung: Bà N đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt, do đó đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bà N. Ông C kháng cáo nhưng không xuất trình chứng cứ chứng minh cho kháng cáo. Đề nghị: Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ vào ý kiến của các đương sự, của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về tố tụng: Tại cấp phúc thẩm, ông C là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 227; Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông C.
    1. Bị đơn bà Nguyễn Thị N là người kháng cáo được triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, căn cứ khoản 2 Điều 312 Điều của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bà N.
  2. Về quan hệ pháp luật giải quyết: Bà D khởi kiện yêu cầu bà N và ông C liên đới trả số tiền hụi mà bà N làm chủ thảo; Phía bà N, ông C không đồng ý. Các bên đương sự có tranh chấp, cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật giải quyết là tranh chấp “Hợp đồng góp hụi” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Điều 35, 37, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự của là có căn cứ
  3. Xét kháng cáo của ông C, Hội đồng xét xử thấy rằng:
    1. Theo tài liệu thu thập có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Bà N trình bày không có chơi hụi với bà D, các giấy tờ hụi bà D cung cấp không phải của bà, nhưng qua xác minh thu thập lời khai của những người tham gia chơi hụi (Vũ Thị Kim L, Dương Xuân N1, Nguyễn Ngọc V) phù hợp với tài liệu chứng cứ của nguyên đơn bà D cung cấp và phù hợp tài liệu với các nguyên đơn khác (Lê Thị H1, Đặng Thị B, Nguyễn Ngọc M, Hồ Thị D1, Trần Thị S...) khởi kiện đối với bà Nguyễn Thị N, có cở sở xác định bà N tổ chức các dây hụi 1.000.000 đồng/ 1 tháng, 2.000.000 đồng/ 1 tháng ... bằng hình thức, ghi sổ hụi cho từng cá nhân tham gia hụi. Hàng tháng tổ chức mở hụi tại nhà cho hụi viên đến tham gia, sau đó ghi số tiền hụi kêu (lãi hụi) vào sổ cá nhân hụi viên và gom tiền hụi hàng thán và ngoài ra còn có hình thức bán hụi cho hụi viên. Việc tổ chức quản lý hụi của bà N diễn ra nhiều năm, với số tiền hụi bà D khởi kiện là bắt đầu từ tháng 3-2020 (AL) đến tháng 4-2021 bà N ngưng hoạt động hụi và bỏ địa phương đi nơi khác sinh sống. Do đó, có căn cứ xác định bà N có tổ chức quản lý hụi bà D là hụi viên tham gia.
    2. Xét số tiền hụi bà N phải trả cho bà D, thấy rằng: Theo sổ hụi bà D cung cấp thể hiện, bà tham gia 3 dây hụi gồm: Hụi 1.000.000 đồng/ 1 tháng mở vào ngày 02-3-2020 (AL); Hụi 1.000.000 đồng / 1 tháng và hụi 2.000.000 đồng/ 1 tháng cùng mở vào ngày 05-4-2020 (AL), tổng số tiền đã góp hụi là 86.090.000 đồng. Ngoài ra, bà D còn mua hụi thông qua bà N làm chủ thảo cụ thể: 01 phần hụi 1.000.000 đồng/ 1 tháng của dây hụi ngày 02-3-2021 (AL) bà N còn nợ 12.740.000 đồng. Hụi 2.000.000 đồng/ 1 tháng ngày 19-01-2021 (AL) mua 2 phần bà N còn nợ là 51.800.000 đồng và mua 01 phần hụi 1.000.000 đồng/ 1 tháng mở ngày 09-01-2021 (AL) số tiền còn nợ là 12.800.000 đồng. Tổng số tiền nợ hụi mua là: 90.140.000 đồng. Tổng số tiền nợ của hụi trực tiếp tham gia và mua hụi là 176.230.000 đồng, bà N có trách nhiệm trả số tiền trên.
  4. Xem xét trách nhiệm của ông C, Hội đồng xét xử thấy rằng:
    1. Ông C và bà N là vợ chồng, không có con chung, cùng chung sống tại địa chỉ Tổ I, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh ông bà trình bày bà N là phụ nữ ấp, ông C là thương binh nhưng không cùng cấp được tài liệu chứng cứ thể hiện và không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án.
    2. Theo tài liệu có trong hồ sơ thể hiện: Bà N tổ chức mở hụi tại nhà, những lần mở hụi có ông C biết, nhưng ông C không có ý kiến phản đối, cả 2 vợ chồng cùng sống chung, bà N hoạt động hụi mục đích phục vụ cuộc sống sinh hoạt trong gia đình, do đó cả hai cùng có trách nhiệm trả nợ hụi.

    Từ nhận định trên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của ông C. Như vậy, đề xuất của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh là có căn pháp lý.

  5. Về án phí:
    1. Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị N, ông Lê Văn C được miễn tiền án phí dân sự sơ thẩm theo Điều 12 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

      Khởi kiện của bà Lê Thị D được cấp nhận do đó bà không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; hoàn trả lại cho bà Lê Thị D số tiền 4.416.000 (bốn triệu, bốn trăm mười sáu nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí sơ thẩm bà Lê Thị D đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008721 ngày 18-10-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.

    2. Án phí phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị N, ông Lê Văn C được miễn tiền án phí dân sự phúc thẩm

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 308; Điều 309; Điều 312 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

    Đình chỉ xét xử phúc thẩm đổi với với kháng cáo của bà Nguyễn Thị N.

    Không chấp nhận kháng cáo của ông Lê Văn C.

  2. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 117/2024/DS-ST ngày 12 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.
    1. Căn cứ vào Điều 471 Bộ luật Dân sự; các Điều 144, 147, 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 27, 37 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 23 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19-02-2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
    2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị D đối với bà Nguyễn Thị N và ông Lê Văn C về việc tranh chấp “Hợp đồng góp hụi”.
    3. Buộc bà Nguyễn Thị N và ông Lê Văn C có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Lê Thị D số tiền hụi là 176.230.000 (một trăm bảy mươi sáu triệu hai trăm ba mươi nghìn) đồng. Ghi nhận bà Lê Thị D không yêu cầu tính tiền lãi.
    4. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của bà Lê Thị D cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, Nếu bà N và ông C khưa thi hành thì hàng tháng bà Nguyễn Thị N, ông Lê Văn C còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền chậm thi hành án, theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
  3. Về án phí:

    Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị N, ông Lê Văn C là người trên 60 tuổi được miễn tiền án phí dân sự sơ thẩm theo Điều 12 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Lê Thị D không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; hoàn trả lại cho bà Lê Thị D 4.416.000 (bốn triệu bốn trăm mười sáu nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí sơ thẩm bà Lê Thị D đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008721 ngày 18-10-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.

    Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị N, ông Lê Văn C được miễn tiền án phí dân sự phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND Tối cao Hà Nội (Vụ 2);
  • - TAND Cấp cao tại TPHCM;
  • - VKSND Cấp cao tại TPHCM;
  • - VKSND tỉnh Tây Ninh;
  • - TAND huyện Tân Châu;
  • - VKSND huyện Tân Châu;
  • - CCTHADS huyện Tân Châu;
  • - Phòng Kiểm tra nghiệp vụ;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu tập án;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Thanh Giang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 446/2024/DS-PT ngày 09/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về tranh chấp “hợp đồng góp hụi”

  • Số bản án: 446/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp “Hợp đồng góp hụi”
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 09/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hụi
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger