Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MÊ LINH-TP . HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập-Tự do-Hạnh phúc

----------

Bản án số: 446/2024/HNGĐ-ST

Ngày 27/11/2024

" V/v ly hôn”

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH-THÀNH PHỐ HÀ NỘI

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng.

Các Hội thẩm nhân dân : Ông Trần Văn Khánh

Bà Dương Thị Kim Lan

-Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hồng Hạnh-Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Mê Linh.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội: Bà Đỗ Thị Thùy Anh-Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 27 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số 376/2024/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2024 về việc “ Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 148/2024/QĐXX-ST ngày 21 tháng 10 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thu N, sinh năm 1989
    ĐKHKTT: Xóm A, xã N, huyện N, Thanh Hóa
    Chỗ ở hiện nay: Tổ F, thị trấn Q, huyện M, Hà Nội.
  2. Bị đơn : Anh Mai Văn N1, sinh năm 1983
    ĐKHKTT: Xóm A, xã N, huyện N, Thanh Hóa
    Chỗ ở hiện nay: Tổ F, thị trấn Q, huyện M, Hà Nội.

Có mặt chị N, vắng mặt anh N1.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện đề ngày 07/10/2024 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn là chị Nguyễn Thu N trình bày:

-Về hôn nhân: Chị và anh Mai Văn N1 đăng ký kết hôn ngày 07/12/2007 tại UBND xã B, huyện Y, Vĩnh Phúc. Sau khi cưới vợ chồng chị về làm ăn sinh sống tại Tổ F, thị trấn Q, huyện M, Hà Nội. Quá trình chung sống vợ chồng sống hạnh phúc đến khoảng năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh N1 ham chơi cờ bạc, lô đề dẫn đến nợ nần, chị đã khuyên bảo nhiều nhưng anh N1 không thay đổi. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 8/2024 đến nay, không ai quan tâm đến ai. Tại phiên tòa chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh N1

-Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Mai Nguyễn Anh T, sinh ngày 01/5/2013. Ly hôn chị xin được nuôi con và tự đảm nhiệm việc nuôi con.

-Về tài sản, công sức, nợ và đất sản xuất nông nghiệp: Chị không đề nghị Tòa án giải quyết.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 17/10/2024 bị đơn là anh Mai Văn N1 trình bày:

-Về quan hệ hôn nhân: Anh xác nhận như chị N trình bày về thời gian, điều kiện kết hôn. Quá trình chung sống vợ chồng sống hạnh phúc đến khoảng năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do lúc trẻ anh ham chơi cờ bạc, lô đề nên vợ chồng thỉnh thoảng cãi nhau về tiền bạc, kinh tế. Vợ chồng xảy ra mâu thuẫn hai bên gia đình có dàn xếp nhưng quan hệ vợ chồng không thay đổi. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 8/2024 đến nay. Mặc dù bản thân anh đã cố gắng khuyên nhủ chị N quay về để vợ chồng đoàn tụ cùng nhau nuôi dạy con cái nhưng chị N kiên quyết không hàn gắn, đề nghị ly hôn. Việc chị N làm đơn xin ly hôn, anh không đồng ý vì anh muốn chị N cho anh cơ hội sửa chữa sai lầm của mình để vợ chồng quay về đoàn tụ còn nếu chị N vẫn kiên quyết ly hôn, anh đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

-Về con chung: Anh xác nhận vợ chồng có 01 con chung như chị N trình bày. Ly hôn, anh đồng ý để chị N trực tiếp nuôi con và anh xin tạm hoãn cấp dưỡng nuôi con.

-Về tài sản, công sức, nợ và đất sản xuất nông nghiệp: Anh không đề nghị Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

-Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Hội đồng xét xử và nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

-Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình. Xử:

+Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thu N được ly hôn anh Mai Văn N1

+Về con chung: Giao cháu Mai Nguyễn Anh T, sinh ngày 01/5/2013 cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho anh N1 đến khi nào chị N yêu cầu hoặc có quyết định khác có hiệu lực pháp luật của Tòa án.

+Về tài sản, công sức, nợ và đất sản xuất nông nghiệp: Không đặt ra xem xét, giải quyết.

+Về án phí: Chị N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, Tòa án nhân dân huyện Mê Linh nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

-Về sự vắng mặt của bị đơn: Quá trình điều tra Tòa án đã tống đạt hợp lệ 2 lần cho anh N1 nhưng tại phiên tòa hôm nay, anh N1 vắng mặt không rõ lý do nên căn cứ khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn.

[1] Về quan hệ hôn nhân:

Chị Nguyễn Thu N và anh Mai Văn N1 kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 07/12/2007 tại UBND xã B, huyện Y, Vĩnh Phúc. Do vậy, cuộc hôn nhân của anh chị là hợp pháp.

Quá trình chung sống vợ chồng sống hạnh phúc được thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do trong cuộc sống vợ chồng sống không có sự tin tưởng lẫn nhau, thiếu sự quan tâm chia sẻ với nhau, anh N1 ham chơi không quan tâm đến gia đình, vợ con. Tại phiên tòa chị N xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị được ly hôn. Đối với anh N1 vắng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình điều tra anh không đồng ý ly hôn vì anh muốn chị N cho anh cơ hội để vợ chồng về đoàn tụ, cùng nhau xây dựng hạnh phúc nuôi dạy con cái trưởng thành. Còn nếu chị N kiên quyết xin ly hôn thì anh đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật. Xét ý kiến của anh N1, Hội đồng xét xử nhận thấy: Bản thân anh thừa nhận, anh đã cố gắng nỗ lực hàn gắn quan hệ vợ chồng nhưng chị N kiên quyết không quay về chung sống với anh, vợ chồng sống ly thân từ tháng 8/2024 đến nay, không ai quan tâm đến ai. Tòa án xác minh tại chính quyền địa phương nơi anh chị cư trú được biết vợ chồng anh chị chung sống với nhau thường xuyên xảy ra xô sát, cãi vã nhau. Như vậy, có thể thấy hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Tòa án thấy có căn cứ chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị N, cho chị được ly hôn anh N1 là phù hợp với quy định tại Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình.

[2] Về nuôi con chung:

Quá trình chung sống anh chị xác nhận vợ chồng có 01 con chung là Mai Nguyễn Anh T, sinh ngày 01/5/2013. Ly hôn hai bên đồng ý để chị N trực tiếp nuôi con và tự chị đảm nhiệm việc nuôi con. Xét việc chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên sau khi ly hôn là quyền và nghĩa vụ của người làm cha, làm mẹ. Xét sự thỏa thuận của anh chị là tự nguyện, phù hợp với quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử ghi nhận giao cháu T cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng và tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh N1 đến khi nào chị N yêu cầu hoặc có quyết định khác có hiệu lực pháp luật của Tòa án.

[3] Về tài sản, công sức, nợ và đất sản xuất nông nghiệp: Chị N, anh N1 không đề nghị giải quyết nên Tòa án không đặt ra xem xét, giải quyết.

[4] Về án phí: Chị N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 28, Điều 35, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ các Điều 51,56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.

Căn cứ các Điều 146, 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thu N được ly hôn anh Mai Văn N1.
  2. Về con chung: Giao con chung là Mai Nguyễn Anh T, sinh ngày 01/5/2013 cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh N1 đến khi nào chị N yêu cầu hoặc có quyết định khác có hiệu lực pháp luật của Tòa án.

Anh N1 được quyền thăm nom và chăm sóc con chung, chị N không được ngăn cản.

  1. Về tài sản, công sức, nợ và đất sản xuất nông nghiệp: Không đặt ra xem xét, giải quyết.
  2. Về án phí: Chị N phải nộp 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm, chị được trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mê Linh theo Biên lai số 0008992 ngày 10/10/2024.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, chị N được quyền kháng cáo. Anh N1 vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự./.

Nơi nhận:

  • -TAHN
  • -VKSNDH. Mê Linh.
  • -Chi cục THADS H. Mê Linh.
  • -UBND xã Bình Đình.
  • -Các đương sự.
  • -Lưu HS, VP

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Thu Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 446/2024/HNGĐ-ST ngày 27/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về ly hôn

  • Số bản án: 446/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Nga và anh Nam có đăng ký kết hôn, do vợ chồng mâu thuẫn nên chị Nga có đơn ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger