Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 446/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 12-7-2024

V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 - TP. HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Phương Thảo

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Đình Rành;
  2. Bà Võ Thị Hòa.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đào Tấn Sang – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Tú - Kiểm sát viên

Trong các ngày 27/6/2024, ngày 09/7/2024 và ngày 12/7/2024 tại phòng xử án Tòa án nhân dân Quận 7 xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 534/2023/TLST-HNGĐ ngày 10/10/2023 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 165/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 5 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 196/2024/QĐST- HNGĐ ngày 04 tháng 6 năm 2024 và Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 84/2024/QĐST-HNGĐ ngày 27 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thu T, sinh năm 1988; Địa chỉ thường trú: Số A V, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng; Địa chỉ liên hệ: Số D đường Đ, phường L, quận N, thành phố Hải Phòng. (Có mặt)
  2. Bị đơn: Ông Phạm Tiến H, sinh năm 1982; Địa chỉ thường trú: Số A V, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng; Địa chỉ tạm trú: Số C đường B, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Tại đơn khởi kiện ngày 06/6/2023, các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu T xác định yêu cầu khởi kiện như sau: Bà và ông Phạm Tiến H qua một thời gian tìm hiểu thì cả hai tự nguyện tiến tới hôn nhân vào năm 2011, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn (Giấy chứng nhận kết hôn số 55, đăng ký ngày 23 tháng 12 năm 2011 tại Ủy ban Nhân dân xã V, huyện T, tỉnh Hải Dương).

Vợ chồng sống với nhau đến năm 2021 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do ông H có quan hệ với người phụ nữ khác ở bên ngoài, không quan tâm, chăm sóc, lo lắng cho gia đình, vợ con. Mặc dù bà đã nhiều lần tha thứ cho ông nhưng ông vẫn không thay đổi. Hiện nay, bà đang sống cùng 02 con tại Hải Phòng, ông H đã chuyển vào sinh sống tại Thành phố Hồ Chí Minh, ông bà không ai quan tâm đến ai. Nay, nguyện vọng của bà là:

  • Về quan hệ vợ chồng: Yêu cầu Tòa giải quyết ly hôn với ông Phạm Tiến H;
  • Về con chung: Bà xác nhận bà và ông Phạm Tiến H có 02 (Hai) con chung, họ và tên là Phạm Chi A (nữ), sinh ngày 13/5/2018 và Phạm Minh K (nam), sinh ngày 13/5/2018.

Sau khi ly hôn, bà yêu cầu là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả hai con chung. Bà yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi mỗi con 5.000.000 (Năm triệu) đồng/ tháng. Tổng cộng 10.000.000 (Mười triệu) đồng/02 trẻ/tháng

  • Về tài sản chung: Bà xác nhận tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • Về nợ chung: Bà xác nhận không có.

Việc bà muốn chấm dứt hôn nhân là hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc và không nhằm mục đích khác.

* Tại bản tự khai các ngày 09/01/2024 và ngày 22/3/2024, bị đơn ông Phạm Tiến H trình bày:

Ông xác nhận quá trình tiến đến hôn nhân như bà T trình bày.

Vợ chồng ông chung sống hạnh phúc chưa bao giờ có mâu thuẫn. Theo ông nguyên nhân bà T yêu cầu ly hôn là do cả hai hiện đang sống xa nhau, bà T đang sống cùng 02 con tại Hải Phòng, ông đã chuyển vào sinh sống và làm việc tại Thành phố Hồ Chí Minh. Mục đích ông phải sống xa vợ con là do ông phải đi làm kinh tế lo cho vợ con và gia đình. Hiện nay ông vẫn còn rất thương vợ thương con và muốn gia đình đoàn tụ với nhau. Nên, ông không chấp nhận ly hôn với bà Nguyễn Thị Thu T.

Về con chung: Ông xác nhận ông bà có 02 (Hai) con chung, họ và tên là Phạm Chi A (nữ), sinh ngày 13/5/2018 và Phạm Minh K (nam), sinh ngày 13/5/2018

Trong trường hợp phải ly hôn, ông yêu cầu là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ Phạm Minh K, giao bà Nguyễn Thị Thu T là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ Phạm Chi A. Không bên nào có nghĩa vụ cấp dưỡng bên nào.

  • Về tài sản chung: Ông xác nhận tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • Về nợ chung: Ông xác nhận không có.

* Tại phiên tòa hôm nay,

Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bà đã tạo rất nhiều cơ hội cho ông H để hàn gắn nhưng ông H vẫn cương quyết không đồng ý quay lại Hải Phòng để sinh sống cùng bà và các con.

Bị đơn: Ông không đồng ý yêu cầu ly hôn của bà T vì ông muốn con cái có gia đình trọn vẹn, ông không muốn gia đình tan vỡ. Mặc dù trong thời gian qua ông đã cố gắng hàn gắn mối quan hệ vợ chồng nhưng bà T vẫn cương quyết yêu cầu ly hôn với ông. Nay, ông yêu cầu trở về đoàn tụ, vì công việc ông không thể quay trở về Hải Phòng nên ông yêu cầu bà và hai con vào Thành phố Hồ Chí Minh để sinh sống cùng ông. Ông vẫn giữ nguyên ý kiến về vấn đề con chung, tài sản chung, nợ chung như đã trình bày trước đây.

* Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh:

1. Về thủ tục tố tụng:

  • Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định về thẩm quyền thụ lý được quy định tại các điều từ Điều 26 đến Điều 40 Bộ luật tố tụng dân sự; Việc xác định tư cách tham gia tố tụng đúng quy định tại Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự; Việc xác minh, thu thập chứng cứ, giao nhận chứng cứ đúng quy định tại các điều từ Điều 93 đến Điều 97 Bộ luật tố tụng dân sự; Trình tự thụ lý, việc giao nhận thông báo thụ lý cho Viện kiểm sát và cho các đương sự đúng quy định tại Điều 195, Điều 196 Bộ luật tố tụng dân sự.
  • Về thời hạn chuẩn bị xét xử chưa đúng theo quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
  • Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: Hội đồng xét xử và thư ký đã thực hiện đúng các quy định chung về phiên tòa sơ thẩm, thủ tụ bắt đầu phiên tòa, đảm bảo việc tranh tụng tại phiên tòa theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
  • Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng:
    • Nguyên đơn: Thực hiện đúng quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
    • Bị đơn: Thực hiện đúng quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

2. Về nội dung:

  • Về quan hệ vợ chồng: Xét yêu cầu của nguyên đơn, nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa bà T và ông H đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu của bà T được ly hôn với ông H là có cơ sở để chấp nhận.
  • Về con chung: Ông bà xác nhận có 02 (Hai) con chung tên Phạm Chi A (N), sinh ngày 13/5/2018; Phạm Nguyên K1 (N1), sinh ngày 13/5/2018.

Sau khi ly hôn, bà T yêu cầu nuôi 02 con chung, yêu cầu cấp dưỡng 10.000.000 đồng/ tháng; còn ông H trình bày nếu phải ly hôn ông yêu cầu được nuôi trẻ Phạm Nguyên K1 (N1), sinh ngày 13/5/2018, không bên nào cấp dưỡng nuôi con

Nhận thấy:

T trình bày bà và ông H có 01 căn nhà tại Hải Phòng, tuy nhiên hiện tại bà đang ở cùng cha mẹ ruột của bà, bà cũng cung cấp tài liệu chứng cứ là giấy xác nhận thu nhập của Công ty TNHH K2 xác nhận bà T hiện đang là kế toán với mức lương 10.000.000 đồng/ tháng và Công ty TNHH T1 xác nhận bà T hiện đang là kế toán với mức lương 10.000.000 đồng/ tháng.

Ông H trình bày ông hiện làm nghề tự do liên quan đến bất động sản, ông cung cấp chứng cứ là các bản giao dịch chuyển tiền giữa ông và bà T, 01 vi bằng thể hiện ông nhận chuyển nhượng 01 thửa đất tại địa chỉ 6 Bis H đường M, T, Quận G, Tp ..

Điều này thể hiện cả bà T và ông H đều có đủ điều kiện, khả năng về kinh tế để trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con chung.

Tuy nhiên, hai trẻ AK1 là hai trẻ sinh đôi, hiện mới 6 tuổi, cả bà T và ông H đều thừa nhận, hai trẻ AK1 trước đến nay vẫn ở tại Hải Phòng. Từ khi ông H đi làm ăn xa ở Thành phố Hồ Chí Minh, bà T là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng 02 trẻ. Ông H cũng thừa nhận hàng tháng ông vẫn gửi về cho bà T 15.000.000 đồng cố định để chăm sóc con chung, hai trẻ ở với bà T được chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng rất tốt.

Do đó, căn cứ Điều 6 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình, nhằm đảm bảo sự phát triển về tâm sinh lý cũng như quyền lợi về mọi mặt cho trẻ, việc để bà T tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng hai trẻ, ông H cấp dưỡng nuôi con chung 10.000.000 đồng/2 trẻ là có cơ sở chấp nhận

  • Về tài sản chung: Tự thỏa thuận nên không xem xét
  • Nợ chung: không có

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Căn cứ khoản 1 Điều 51, Điều 53, Điều 54, Điều 58, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Căn cứ Điều 6 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà T.

Về án phí: Bà T là nguyên đơn nên phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Ông H phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Căn cứ vào Giấy chứng nhận kết hôn số 55, đăng ký ngày 23 tháng 12 năm 2011 tại Ủy ban Nhân dân xã V, huyện T, tỉnh Hải Dương, có cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Thu T và ông Phạm Tiến H là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ, nay bà T yêu cầu ly hôn là tranh chấp “Ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án theo quy định tại Khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn ông Phạm Tiến H có đăng ký tạm trú tại địa chỉ số C đường B, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (Căn cứ Phiếu yêu cầu xác minh số 534/2023/PYCXM ngày 10/11/2023 của Tòa án nhân dân Quận 7) nên vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 7 theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 35 và Điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về các yêu cầu của đương sự, Hội đồng xét xử xét thấy:

Nguyễn Thị Thu T và ông Phạm Tiến H tự nguyện tiến tới hôn nhân, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn (theo Giấy chứng nhận kết hôn số 55, đăng ký ngày 23 tháng 12 năm 2011 tại Ủy ban Nhân dân xã V, huyện T, tỉnh Hải Dương) nên là quan hệ hôn nhân hợp pháp, vì vậy được pháp luật công nhận và bảo vệ.

[2.1] Về quan hệ vợ chồng, Hội đồng xét xử xét thấy: Bà T và ông H chung sống với nhau hạnh phúc khoảng 11 (Mười một) năm thì xảy ra mâu thuẫn, theo bà T nguyên nhân do ông H có quan hệ với người phụ nữ khác ở bên ngoài, không quan tâm, chăm sóc, lo lắng cho gia đình, vợ con. Mặc dù bà đã nhiều lần tha thứ cho ông, khuyên nhủ ông quay trở về Hải Phòng cùng sinh sống với bà và hai con nhưng ông đều cương quyết không đồng ý. Hiện nay, bà vẫn đang sống cùng hai con tại Hải Phòng, ông H đã chuyển vào sinh sống tại Thành phố Hồ Chí Minh. Bà cảm thấy giữa ông bà không còn có sự quan tâm, lo lắng, chăm sóc cho nhau nữa, mạnh ai người đó sống, không còn có sự trao đổi, chia sẻ với nhau nên mong muốn của bà là được ly hôn với ông H.

Về phía ông H cho rằng ông và bà T không có mâu thuẫn gì trầm trọng, ông vẫn làm tròn trách nhiệm làm chồng, làm cha. Theo ông nguyên nhân bà T yêu cầu ly hôn là do cả hai hiện đang sống xa nhau, bà T đang sống cùng 02 con tại Hải Phòng, ông đã chuyển vào sinh sống và làm việc tại Thành phố Hồ Chí Minh. Mục đích ông phải sống xa vợ con là do ông phải đi làm kinh tế lo cho vợ con và gia đình. Ông đã nhiều lần khuyên bà vào Thành phố Hồ Chí Minh sống cùng ông nhưng bà T không đồng ý.

Tại phiên tòa, ông xác nhận vẫn còn tình cảm với bà T. Ông đã cố gắng hàn gắn mối quan hệ vợ chồng nhưng bà T vẫn cương quyết yêu cầu ly hôn với ông.

Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, ông H đã trình bày ý kiến và có nguyện vọng cần thêm thời gian để vợ chồng ngồi lại nói chuyện với nhau để hàn gắn mối quan hệ, Tòa đã tạo điều kiện để cho ông H có cơ hội trình bày nhưng ông H lại không nắm bắt, tìm cách tháo gỡ mâu thuẫn vợ chồng, điều đó thể hiện sự thiếu trách nhiệm với chính quan hệ hôn nhân của mình. Chính những hành động của ông H đã làm cho mâu thuẫn vợ chồng ngày một trầm trọng và không thể hàn gắn.

Từ những phân tích và căn cứ nêu trên, xét thấy, nếu tiếp tục duy trì mối quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông H chỉ là sự ràng buộc về mặt pháp luật, bởi hôn nhân thực tế không còn tồn tại, không đem lại hạnh phúc đích thực cho nhau nên chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc ly hôn với bị đơn theo quy định tại Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014

[2.2] Về con chung: Căn cứ vào Giấy khai sinh số 181 do Ủy ban Nhân dân phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng cấp ngày 04/6/2018 và Giấy khai sinh số 182 do Ủy ban Nhân dân phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng cấp ngày 04/6/2018 đã có đủ cơ sở để xác định bà T và ông H có 02 (Hai) con chung là trẻ Phạm Chi A (nữ), sinh ngày 13/5/2018 và trẻ Phạm Minh K (nam), sinh ngày 13/5/2018.

Trong quá trình giải quyết vụ kiện, bà T yêu cầu là người trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng cả hai con chung. Bà yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi mỗi con 5.000.000 (Năm triệu) đồng/ tháng. Tổng cộng 10.000.000 (Mười triệu) đồng/02 trẻ/tháng

Đối với ông H, trường hợp phải ly hôn, ông yêu cầu là người trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ Phạm Minh K, đồng ý giao bà Nguyễn Thị Thu T là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ Phạm Chi A. Không bên nào có nghĩa vụ cấp dưỡng bên nào.

Hội đồng xét xử đã có Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 84/2024/QĐST-HNGĐ ngày 27 tháng 6 năm 2024 để các bên cung cấp chứng cứ chứng minh điều kiện chăm sóc và nuôi dưỡng con chung. Phía bà T cung cấp cho Tòa các tài liệu chứng cứ chứng minh thu nhập của bà tại Công ty TNHH K2 (hiện đang là kế toán) với mức lương 10.000.000 (Mười triệu) đồng/tháng và tại Công ty TNHH T1 (hiện đang là kế toán) với mức lương 10.000.000 (Mười triệu) đồng/tháng, tổng thu nhập là 20.000.000 (Hai mươi triệu) đồng/tháng. Mặt khác bà trình bày bà và hai con hiện đang sống cùng cha mẹ ruột của bà tại Hải Phòng. Phía ông H cung cấp cho Tòa bản sao kê tài khoản chứng minh hằng tháng ông H vẫn chu cấp cho hai con số tiền là 15.000.000 (Mười lăm triệu) đồng. Ông trình bày hiện ông đang làm kinh doanh tự do nên ông không có tài liệu chứng cứ chứng minh thu nhập thực tế, ông chỉ cung cấp vi bằng thể hiện ông nhận chuyển nhượng 01 thửa đất tại địa chỉ 6 Bis H đường M, T, Quận G, Tp .. Các tài liệu chứng cứ trên thể hiện bà T và ông H đều có điều kiện về kinh tế để trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con chung.

Xét thấy, các trẻ Phạm Chi A và trẻ Phạm Minh K là hai chị em song sinh, hiện còn nhỏ, từ khi sinh ra cho đến hiện nay các bé đều sinh sống cùng nhau tại Thành phố Hải Phòng, đều do bà T là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tại phiên tòa, ông H cũng thừa nhận từ năm 2018 ông chuyển vào sinh sống tại Thành phố Hồ Chí Minh cho đến nay. Do công việc nên mỗi tháng ông về Thành phố Hải Phòng một đến hai lần để thăm con, còn lại toàn bộ thời gian đều do một mình bà T và ông bà ngoại chăm sóc các bé. Hai trẻ ở với bà T được chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng rất tốt. Ông xác nhận trường hợp phải ly hôn thì ông yêu cầu nuôi dưỡng bé K và ông sẽ đưa bé vào Thành phố Hồ Chí Minh để sinh sống cùng.

Xét, căn cứ vào các Điều 68, Điều 69, Điều 70, Điều 71, Điều 72 và Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Điều 6 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình, để đảm bảo sự phát triển về tâm sinh lý và quyền lợi của trẻ thì việc giao trẻ Phạm Chi A và trẻ Phạm Minh K cho mẹ ruột chăm sóc nuôi dưỡng là phù hợp với quy định của Luật hôn nhân gia đình, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T. Bà T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng trẻ Phạm Chi A và trẻ Phạm Minh K cho đến tuổi trưởng thành. Trường hợp bà T không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì ông H có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung.

Về cấp dưỡng nuôi con: Ông H thừa nhận và thể hiện ở bản sao kê tài khoản, hằng tháng ông vẫn gửi cho bà T số tiền 15.000.000 (Mười lăm triệu) đồng để nuôi hai con. Do vậy, có cơ sở để chấp nhận yêu cầu của bà T về việc yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi mỗi trẻ mỗi tháng số tiền là 5.000.000 (Năm triệu) đồng, tổng cộng hai trẻ là 10.000.000 (Mười triệu) đồng/tháng.

Thi hành vào ngày 01 (dương lịch) hàng tháng. Bắt đầu thi hành vào ngày 01/8/2024 cho đến khi phát sinh các căn cứ làm chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng được quy định tại Điều 118 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014

[2.3] Về tài sản chung: Bà T và ông H xác nhận tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.4] Về nợ chung: Bà T và ông H xác nhận không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm và ông H phải chịu án phí về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo quy định.

[4] Quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Thu T và ông Phạm Tiến H có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

[5] Kiểm sát viên đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn là phù hợp với nhận định trên của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Khoản 1 Điều 28; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39; Điều 91; Điều 147 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ khoản 1 Điều 51, Điều 53, Điều 54, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 và Điều 6 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;

- Căn cứ Luật phí và lệ phí năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

- Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Xử:

  1. Về quan hệ vợ chồng: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu T về việc ly hôn với bị đơn ông Phạm Tiến H, xử cho bà T được ly hôn với ông H (Giấy chứng nhận kết hôn số 55, đăng ký ngày 23 tháng 12 năm 2011 tại Ủy ban Nhân dân xã V, huyện T, tỉnh Hải Dương không còn giá trị pháp lý).
  2. Về con chung: Bà Nguyễn Thị Thu T và ông Phạm Tiến H xác nhận có 02 (Hai) con chung là trẻ Phạm Chi A (nữ), sinh ngày 13/5/2018 và trẻ Phạm Minh K (nam), sinh ngày 13/5/2018.

Giao cả hai trẻ Phạm Chi APhạm Minh K cho bà Nguyễn Thị Thu T là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

Ông Phạm Tiến H cấp dưỡng nuôi mỗi trẻ 5.000.000 (Năm triệu) đồng mỗi tháng. Tổng cộng 10.000.000 (Mười triệu) đồng/02 trẻ/tháng.

Thi hành vào ngày 01 (dương lịch) hàng tháng. Bắt đầu thi hành từ ngày 01/8/2024 cho đến khi phát sinh các căn cứ làm chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng được quy định tại Điều 118 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014

Ông Phạm Tiến H có quyền và nghĩa vụ đi lại thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung. Vì lợi ích của con theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con. Nếu có yêu cầu các đương sự sẽ yêu cầu Tòa án giải quyết bằng một vụ án khác.

Trong trường hợp ông Phạm Tiến H chậm thi hành khoản tiền cấp dưỡng nuôi con thì ông Phạm Tiến H còn phải trả lãi đối với số tiền chậm thi hành theo quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015

  1. Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, Tòa án không giải quyết.
  2. Về nợ chung: Không có.
  3. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Thu T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án, lệ phí Tòa án số AA/2023/0037288 ngày 10 tháng 10 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh. Vậy, bà T đã nộp đủ.

Ông Phạm Tiến H phải chịu án phí về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con định kỳ là 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng

  1. Quyền yêu cầu thi hành án, thời hiệu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án:

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án Dân sự.

  1. Quyền kháng cáo:

Các đương sự được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân Thành phố Hồ Chí Minh trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND TP.HCM;
  • - VKSND TP.HCM;
  • - VKSND Quận 7;
  • - Chi cục THADS Quận 7;
  • - Cơ quan thực hiện việc đăng ký kết hôn;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu VT, hồ sơ (Tk Sang).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Phương Thảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 446/2024/HNGĐ-ST ngày 12/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 446/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: NGUYEN T THU T-PHAM TIEN H -ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger