Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 4451/2024/DS-ST

Ngày: 19/9/2024

V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ

HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Thúy Nga.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Huỳnh Tiến Dũng.
  2. Bà Đinh Thị Diễm Kiều;

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Bình Minh- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Võ Cao Hùng- Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 34/2024/TLST- DS ngày 03 tháng 01 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 6753/2024/QĐXXST- DS ngày 15 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 7649/2024/QĐST- DS ngày 06 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần V (gọi tắt là Ngân hàng V1);

Địa chỉ trụ sở chính: H L, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội;

Địa chỉ liên lạc: Lầu A, B Q, phường C, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh;

Đại diện pháp luật: Ông Ngô Chí D, sinh năm: 1968;

Chức danh: Chủ tịch Hội đồng quản trị;

Đại diện ủy quyền:

  • Bà Thái Thị Hồng T;
  • (theo Giấy ủy quyền số 42A/2022/UQ- HĐQT ngày 01/6/2022);
  • Bà Nguyễn Thị Thanh N, sinh năm: 1989;
  • Chức danh: Chuyên viên XLN KHCN- Ngân hàng V1;
  • Ông Hoàng Thanh T1;
  • Chức danh: Chuyên viên XLN KHCN- Ngân hàng V1;
  • Ông Nguyễn Khánh D1;
  • Chức vụ: Trưởng bộ phận XLN KHCN- Ngân hàng V1;
  • (theo Văn bản ủy quyền số 3140/2024/UQ- V2 ngày 05/7/2024);
  • (Bà N có mặt tại phiên tòa);

2. Bị đơn: Ông Trần Minh H sinh năm: 1975;

Địa chỉ thường trú: 138 Đại lộ C, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh;

Cư trú: 108B Đại lộ C, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; (có mặt);

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại Đơn khởi kiện đề ngày 31/7/2023 và trong quá trình tố tụng, bà Nguyễn Thị Thanh N là người đại diện ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng TMCP V trình bày như sau:

Ngày 12/12/2018, Ngân hàng TMCP V- Chi nhánh B1 có ký với ông Trần Minh H Giấy đăng ký kiêm Hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, dịch vụ ngân hàng điện tử, số thẻ 9876543210, hạn mức tín dụng: 200.000.000 đồng, loại thẻ tín dụng: VNA-VPBank MasterCard Platinum; mục đích sử dụng vốn: phục vụ nhu cầu đời sống cá nhân, lãi suất: 35.88%/năm;

Sau khi được cấp thẻ tín dụng, ông H đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 3.211.800.111 đồng;

Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay, ông H đã thanh toán cho Ngân hàng V1 số tiền 3.082.852.752 đồng (thứ tự thanh toán theo Điều 8 của Bản Điều kiện giao dịch chung về cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, (số tiền nợ gốc đã trả 3.017.875.998 đồng, số tiền lãi đã trả: 55.325.251 đồng). Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông H vẫn không có thiện chí trả nợ. Do ông H vi phạm nghĩa vụ thanh toán (theo Điều 8 của Bản Điều kiện giao dịch chung về cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng); ngày 28/8/2022, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn đối với ông H (theo Điều 6 của Bản Điều kiện giao dịch chung về cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng);

Tính đến ngày 19/9/2024, ông H còn nợ các khoản sau: dư nợ gốc số tiền 193.924.113 đồng và lãi quá hạn số tiền 239.086.360 đồng; tổng cộng số tiền là: 433.010.473 đồng;

Tại Đơn khởi kiện, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết là:

1. Buộc ông Trần Minh H phải trả ngay một lần, toàn bộ số tiền nợ gốc, nợ lãi, tiền phạt chậm trả lãi và các khoản phát sinh liên quan theo các hợp đồng nêu trên cho V1 tạm tính đến ngày 25/7/2023 tổng cộng số tiền là: 285,795,710 đồng (Hai trăm tám mươi lăm triệu, bảy trăm chín mươi lăm nghìn, bảy trăm mười đồng). Trong đó, tổng nợ gốc là 193.924.113 đồng; tổng nợ lãi và phạt chậm trả là 91.871.598 đồng do vi phạm các Hợp đồng nêu trên.

Ngoài ra, Ông Trần Minh H còn phải tiếp tục chịu lãi phạt, chậm trả theo đúng thỏa thuận trong văn bản tín dụng nêu trên cho đến ngày ông Trần Minh H thực tế thanh toán hết nợ cho V2.

2. Yêu cầu Ông Trần Minh H phải chịu các án phí và các chi phí liên quan (nếu có).

3. Đề nghị Tòa án xem xét tuyên Ngân hàng V1 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án xác minh, kê biên, phát mại các tài sản của ông Trần Minh H để thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng V1.

Tại Biên bản làm việc ngày 10/7/2024 và tại phiên tòa, đại diện ủy quyền cho Ngân hàng V1 bà Nguyễn Thị Thanh N xác định lại yêu cầu khởi kiện như sau:

1. Buộc Ông Trần Minh H phải trả ngay một lần, toàn bộ số tiền nợ gốc, nợ lãi, tiền phạt chậm trả lãi và các khoản phát sinh liên quan theo các hợp đồng nêu trên cho V1 tạm tính đến ngày 19/9/2024 tổng cộng là: 433.010.473 đồng. Trong đó, tổng nợ gốc là 193.924.113 đồng; tổng nợ lãi là 239.086.360 đồng do vi phạm các Hợp đồng nêu trên.

Ngoài ra, Ông Trần Minh H còn phải tiếp tục chịu lãi phạt, chậm trả theo đúng thỏa thuận trong văn bản tín dụng nêu trên cho đến ngày ông Trần Minh H thực tế thanh toán hết nợ cho V2.

2. Yêu cầu Ông Trần Minh H phải tiếp tục chịu nợ lãi phát sinh theo đúng thỏa thuận trong văn bản tín dụng từ ngày 20/9/2024 cho đến khi thanh toán hết khoản nợ cho Ngân hàng V1;

Ngoài ra, nguyên đơn không có yêu cầu gì khác.

Tại Bản tự khai ngày 06/9/2024, bị đơn ông Trần Minh H trình bày:

Ông xác nhận đã sử dụng thẻ tín dụng VNA-VPBank MasterCard Platinum của Ngân hàng V1 với hạn mức 200.000.000 đồng, trong quá trình sử dụng thẻ ông đã giao dịch số tiền là 3.211.800.111 đồng; đã thanh toán cho Ngân hàng V1 số tiền 3.082.852.752 đồng (trong đó: nợ gốc số tiền là 3.017.875.998 đồng và nợ lãi số tiền là 55.325.251 đồng). Do dịch Covid 19 xảy ra, hoàn cảnh kinh tế của ông gặp nhiều khó khăn nên ông đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng từ ngày 28/8/2022; nay ông đề nghị Ngân hàng cho ông chỉ được trả nợ gốc số tiền là 193.924.113 đồng và miễn toàn bộ lãi quá hạn cho ông; mỗi tháng ông trả số tiền gốc là 5.000.000 đồng cho đến khi thanh toán hết số tiền nợ gốc, bắt đầu thi hành từ tháng 01/2025;

Ngoài ra, bị đơn không có yêu cầu gì khác;

Tại phiên tòa sơ thẩm:

- Bà Nguyễn Thị Thanh N là người đại diện ủy quyền của nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện như đã nêu trong Biên bản làm việc ngày 10/7/2024, B tự khai và Biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ. Bị đơn ông Nguyễn Minh H1 trình bày là đề nghị Ngân hàng cho ông H1 chỉ được trả nợ gốc số tiền là 193.924.113 đồng và miễn toàn bộ lãi quá hạn cho ông; mỗi tháng ông H1 trả số tiền gốc là 5.000.000 đồng cho đến khi thanh toán hết số tiền nợ gốc, bắt đầu thi hàng từ tháng 01/2025; đề nghị này của ông H1 thì Ngân hàng V1 không chấp nhận;

- Bị đơn là ông Trần Minh H có mặt trình bày: Ông giữ nguyên nội dung trình bày tại Bản tự khai ngày 06/9/2024;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án được thực hiện đúng quy định của pháp luật;

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa, căn cứ vào phát biểu ý kiến của Kiểm sát viên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Căn cứ Đơn khởi kiện của nguyên đơn, có cơ sở xác định đây là Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản. Do bị đơn ông Trần Minh H có địa chỉ cư trú tại địa chỉ số A Đại lộ C, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Xét thấy, Giấy đăng ký kiêm Hợp đồng phát hành và sử dụng thủ tín dụng, dịch vụ ngân hàng điện tử, số thẻ 9876543210 ngày 12/12/2018 được các bên ký kết trên tinh thần tự nguyện, nội dung phù hợp theo quy định của pháp luật, không trái đạo đức xã hội; vì vậy, hợp đồng này có hiệu lực pháp luật.

Căn cứ vào Giấy đăng ký kiêm Hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, dịch vụ ngân hàng điện tử ngày 12/12/2018 thì ông Trần Minh H có nghĩa vụ thanh toán số tiền vay, lãi hàng tháng và các khoản khác theo thỏa thuận trong hợp đồng nhưng kể từ ngày 28/8/2022 ông H đã không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán số dư nợ 433.010.473 đồng, cụ thể nợ gốc là 193.924.113 đồng, nợ lãi là: 239.086.360 đồng. Tại phiên tòa, ông H trình bày là đề nghị Ngân hàng V1 cho ông H chỉ được trả nợ gốc số tiền là 193.924.113 đồng và miễn toàn bộ lãi quá hạn cho ông; mỗi tháng ông H trả số tiền gốc là 5.000.000 đồng cho đến khi thanh toán hết số tiền nợ gốc, bắt đầu thi hàng từ tháng 01/2025. Xét thấy, ông Trần Minh H đã không thanh toán đầy đủ và đúng hạn nợ, lãi phát sinh theo thỏa thuận là đã vi phạm hợp đồng, xâm phạm đến quyền và lợi ích của nguyên đơn. Hội đồng xét xử xét thấy, yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng đối với ông Trần Minh H là có cơ sở chấp nhận.

[2.2] Xét về yêu cầu tính lãi suất:

Đại diện ủy quyền của nguyên đơn yêu cầu ông H phải trả số tiền lãi quá hạn là 239.086.360 đồng. Xét, khi ký kết hợp đồng tín dụng, nguyên đơn và bị đơn thỏa thuận lãi suất 35.88%/năm (tức là 2.99%/tháng), việc thỏa thuận lãi suất này là tự nguyện, không bị ai ép buộc. Nguyên đơn áp dụng lãi suất và thời gian tính lãi đúng quy định của hợp đồng tín dụng và phù hợp với quy định tại Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 nên có cơ sở chấp nhận.

Ngoài ra, ông H phải thanh toán cho ngân hàng tiên lãi phát sinh theo quy định tại hợp đồng đã ký kể từ ngày 20/9/2024 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.

[3] Về án phí: Bị đơn ông Trần Minh H phải chịu 21.320.419 đồng án phí dân sự sơ thẩm đối với tranh chấp về dân sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

Căn cứ vào các điều 278, 280, 463, 466 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ vào các điều 91, 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010;

Căn cứ vào Điều 7, Điều 8, Điều 12 của Nghị quyết 01/2019/NQ- HĐTP ngày 11/9/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;

Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Căn cứ vào Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014);

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần V;

Buộc bị đơn ông Trần Minh H phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần V số tiền 433.010.473 (Bốn trăm ba mươi ba triệu, không trăm lẻ mười ngàn, bốn trăm bảy mươi ba) đồng, trong đó: nợ gốc là 193.924.113 đồng và lãi quá hạn là 239.086.360 đồng;

Phương thức và thời hạn thanh toán: Một lần ngay khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiên nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh của ngân hàng cho vay.

2. Về án phí:

- Ông Trần Minh H chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền 21.320.419 (Hai mươi mốt triệu, ba trăm hai mươi ngàn, bốn trăm mười chín) đồng.

- Hoàn lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần V số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 7.144.893 (Bảy triệu, một trăm bốn mươi bốn mươi bốn ngàn, tám trăm chín mươi ba) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0000269 ngày 29/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014).

Nơi nhận:

  • - TAND TP.HCM;
  • - VKSND TP. Thủ Đức;
  • - Chi cục THADS TP. Thủ Đức;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VP, HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Thị Thúy Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 4451/2024/DS-ST ngày 19/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 4451/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger