|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 445/2023/DS-PT Ngày 20-11-2023 Về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Trang
Các Thẩm phán: Ông Phạm Văn Ngọt
Bà Nguyễn Thị Rẻn
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Quỳnh Mai – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Phấn – Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 11 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 286/2023/TLPT-DS ngày 03 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 75/2023/DS-ST ngày 21 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 3606/2023/QĐXXPT-DS ngày 31 tháng 10 năm 2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Trần Văn M, sinh năm: 1953;
Địa chỉ: Số A ấp B, xã N, thành phố B, tỉnh Bến Tre.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (theo giấy ủy quyền ngày 03/11/2023):
Anh Nguyễn Minh B, sinh năm: 1981;
Địa chỉ: D, ấp K, xã P, huyện G, tỉnh Bến Tre.
Địa chỉ liên hệ: 105D, ấp B, xã B, thành phố B, tỉnh Bến Tre.
2. Bị đơn: Ông Phan Văn C, sinh năm: 1977;
Địa chỉ: Số C ấp H (T), xã S, huyện G, tỉnh Bến Tre.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn (theo Hợp đồng ủy quyền ngày 05/4/2023):
Anh Nguyễn Hoàng L, sinh năm: 1988;
Địa chỉ: Ấp C, xã M, huyện G, tỉnh Bến Tre.
- Người kháng cáo: Bị đơn ông Phan Văn C.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung bản án sơ thẩm,
Theo nguyên đơn ông Trần Văn M và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là anh Nguyễn Minh B trình bày:
Do có mối quan hệ quen biết nên ngày 09/01/2020 âm lịch (tức ngày 02/02/2020 dương lịch) ông Trần Văn M có cho ông Phan Văn C vay số tiền 246.000.000 đồng, vay không thời hạn, khi nào cần thì báo trước 02 tháng; lãi suất thỏa thuận 3%/tháng (thỏa thuận miệng), mục đích vay sinh hoạt gia đình, ông C chưa thực hiện đóng lãi.
Khi vay, ông C có lập giấy mượn tiền và ký tên xác nhận nợ cho ông M. Tuy nhiên, trong giấy mượn tiền ghi “120.000.000 (một trăm hai chục triệu cộng thêm 7 tháng lãi là 126.000.000 đ”. Ông C ghi như vậy nhưng thực ra đó là số tiền vốn 246.000.000 đồng. Trong giấy mượn tiền còn ghi “mục đích mượn tiền dùm cho ông Nguyễn Hữu N ở xã H, Tiền Giang” nhưng thật ra là ông C mượn.
Khi phát hiện sự việc trên, ông M có yêu cầu ông C viết lại giấy mượn tiền khác nhưng ông C không đồng ý. Ông M đã nhiều lần đến nhà cũng như gọi điện yêu cầu ông C trả tiền gốc, lãi nhưng ông C cứ hứa mà không trả.
Nay ông Trần Văn M yêu cầu ông Phan Văn C trả cho ông M số tiền 246.000.000 đồng và tiền lãi tạm tính từ 02/02/2020 đến 02/12/2022 là 188.977.200 đồng (lãi suất 1,67%/tháng), tổng cộng 434.977.200 đồng.
Tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Trần Văn M là anh Nguyễn Minh B trình bày: Nguyên đơn ông Trần Văn M thay đổi yêu cầu khởi kiện. Ông M yêu cầu ông Phan Văn C trả cho ông M số tiền gốc 246.000.000 đồng và tiền lãi tính từ 02/3/2020 đến ngày 02/6/2023 là 79.630.200 đồng (lãi suất 0,83%/tháng), tổng cộng 325.630.200 đồng. Ông M không yêu cầu tính lãi từ ngày 03/6/2023 đến ngày xét xử sơ thẩm 21/6/2023.
Theo bị đơn ông Phan Văn C và người đại diện theo ủy quyền của bị đơn là anh Nguyễn Hoàng L trình bày:
Ông C với chỗ ông Trần Văn M có mối quan hệ quen biết, anh ruột thứ 5 của ông C là em rễ của ông M. Vào ngày 08/01/2018 âm lịch, ông C có mượn ông Trần Văn M 13.000.000 đồng, mục đích là mượn dùm cho bạn là Nguyễn Văn N1 (khoảng 45 tuổi, địa chỉ: xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang, hiện đã bỏ địa phương đi đâu không biết) để làm ăn. Ông C có viết biên nhận cho ông M, mượn không có nói khi nào trả, hai bên thỏa thuận miệng lãi suất 30%/tháng. Sau khi mượn tiền ông C có đóng lãi cho ông M được 02 tháng nhưng mỗi tháng đều không đóng đủ tiền (từ tháng 01 đến tháng 6 không có đóng lãi; mùng 09/7/2018 âm lịch đóng được 2.000.000 đồng; mùng 09/8/2018 âm lịch đóng được 1.500.000 đồng; từ đó về sau không có khả năng đóng lãi nữa). Sau đó (không nhớ rõ thời gian) do ông C không có khả năng đóng lãi nên ông C và ông M thống nhất gộp tiền lãi ông C còn thiếu là 8.690.000 đồng vào tiền gốc 13.000.000 đồng, thành tổng cộng ông C thiếu ông M 21.690.000 đồng tiền gốc (do bạn ông C hứa trả và nói với ông C là ông M kêu sao thì cứ làm vậy nên khi ông M yêu cầu gộp lãi vào gốc thì ông C cũng đồng ý). Việc cộng gộp thành 21.690.000 đồng tiền gốc, hai bên không có làm giấy nợ mới mà ông M ghi chú vào mặt sau của biên nhận ngày 08/01/2018 âm lịch, vẫn thỏa thuận miệng lãi suất 30%/tháng nhưng từ đó đến nay ông C cũng không có đóng lãi cho ông M được đồng nào. Cứ như thế, tính đến cuối năm 2018 thì số tiền lãi và gốc cộng gộp thành 47.150.000 đồng, hai bên không có viết giấy nợ mới mà ông M tính vào một tờ giấy lịch và đưa cho ông C, hai bên đều thống nhất với cách làm đó. Đến ngày 09/02/2019 âm lịch, hai bên chốt lại gốc lãi thành 71.000.000 đồng và ông C có làm giấy mượn tiền mới cho ông M, ông C cũng có báo tình hình với bạn ông C và bạn ông nói cố gắng làm theo ý ông M đi rồi bạn ông C sẽ trả tất hết, nhưng sau đó khoảng vài tháng thì bạn ông C đã bỏ địa phương đi và ông C không còn liên lạc được nữa. Đến ngày 09/01/2020 âm lịch, ông M yêu cầu ông C viết giấy mượn tiền mới, trong đó ghi là ông C mượn ông M 120.000.000 đồng tiền gốc và 07 tháng tiền lãi của 120.000.000 đồng là 246.000.000 đồng. Ông C thừa nhận giấy mượn tiền ngày 09/01/2020 âm lịch là do ông C viết và ký tên, do ông M ép buộc ông C ghi, ông C không còn cách nào khác nên đành chấp nhận, tuy nhiên ông C cũng không có chứng cứ nào chứng minh có sự ép buộc này.
Ông C xác định hiện tại chỉ có nợ ông M số tiền gốc 13.000.000 đồng, ông C đồng ý trả cho ông M số tiền này và đồng ý trả lãi của số tiền 13.000.000 đồng này tính từ ngày vay là ngày mùng 08/01/2018 âm lịch đến ngày xét xử theo lãi suất pháp luật quy định sau khi cấn trừ đi số tiền lãi 3.500.000 đồng mà ông C đã đóng cho ông M.
Tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Phan Văn C là anh Nguyễn Hoàng L trình bày: Ông C không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Ông C xác định hiện tại chỉ có nợ ông M số tiền gốc 13.000.000 đồng, ông C đồng ý trả cho ông M số tiền này và đồng ý trả lãi của số tiền 13.000.000 đồng này tính từ ngày vay là ngày mùng 08/01/2018 âm lịch đến ngày xét xử theo lãi suất pháp luật quy định sau khi cấn trừ đi số tiền lãi 5.500.000 đồng mà ông C đã đóng cho ông M.
Sau khi hòa giải không thành, Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm đưa vụ án ra xét xử. Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 75/2023/DS-ST ngày 21 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre, quyết định:
Căn cứ Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng các Điều 463, 466, 468, 469 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Áp dụng Nghị quyết số 326/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Văn M đối với ông Phan Văn C về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản, cụ thể:
Buộc ông Phan Văn C có trách nhiệm trả cho ông Trần Văn M số tiền 120.000.000 (một trăm hai mươi triệu) đồng và tiền lãi tính từ ngày 28/12/2022 đến ngày 02/6/2023 là 5.146.000 (năm triệu một trăm bốn mươi sáu nghìn) đồng. Ghi nhận việc ông M không yêu cầu tính lãi từ ngày 03/6/2023 đến ngày xét xử sơ thẩm là ngày 21/6/2023.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
2. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Văn M về việc yêu cầu ông Phan Văn C trả số tiền 200.484.200 đồng (hai trăm triệu, bốn trăm tám mươi bốn nghìn, hai trăm đồng).
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 05 tháng 7 năm 2023, ông Phan Văn C kháng cáo.
Theo đơn kháng cáo của ông Phan Văn C và tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của ông Phan Văn C là anh Nguyễn Hoàng L giữ nguyên nội dung kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm. Anh L cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết buộc ông C có trách nhiệm trả cho ông Trần Văn M số tiền 120.000.000 đồng và tiền lãi tính từ ngày 28/12/2022 đến ngày 02/6/2023 là 5.146.000 đồng là chưa phù hợp, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông C. Ông C yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét sửa bản án sơ thẩm, ông C chỉ đồng ý trả cho ông M 13.000.000 đồng tiền gốc và tiền lãi của số tiền 13.000.000 đồng này tính từ ngày vay là ngày mùng 08/01/2018 âm lịch đến ngày xét xử theo lãi suất pháp luật quy định sau khi cấn trừ số tiền lãi 5.500.000 đồng mà ông C đã đóng cho ông M.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày nguyên đơn không đồng ý nội dung kháng cáo của ông Phan Văn C, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre phát biểu:
Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; những người tham gia tố tụng đã thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của họ theo quy định của pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Phan Văn C, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 75/2023/DS-ST ngày 21 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng. Xét kháng cáo của ông Phan Văn C và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre. Hội đồng xét xử nhận định:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Bị đơn ông Phan Văn C kháng cáo và thực hiện các thủ tục kháng cáo hợp lệ, trong thời hạn luật định nên được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về nội dung:
[2.1] Ông Trần Văn M yêu cầu ông Phan Văn C trả cho ông M số tiền gốc 246.000.000 đồng và tiền lãi tính từ 02/3/2020 đến ngày 02/6/2023 là 79.630.200 đồng (lãi suất 0,83%/tháng), tổng cộng 325.630.200 đồng. Chứng cứ mà ông M cung cấp cho Tòa án là “Giấy mượn tiền” lập ngày 09/01/2020 âm lịch do ông C viết và ký tên.
Ông Phan Văn C thừa nhận có mượn tiền của ông M nhưng chỉ có mượn 13.000.000 đồng tiền gốc, qua thời gian lãi chồng lãi nên mới thành số tiền tổng cộng là 246.000.000 đồng. Ông C thừa nhận ngày 09/01/2020 âm lịch ông có viết cho ông M giấy mượn tiền trong đó ghi nội dung là ông C thiếu ông M 120.000.000 đồng tiền gốc và 07 tháng tiền lãi của 120.000.000 đồng, cộng lại là 246.000.000 đồng và ông C có ký tên vào giấy mượn tiền. Tuy nhiên, ông C cho rằng do ông M ép buộc nên ông C mới viết giấy mượn tiền này. Xét thấy, ông C cho rằng bị ép buộc viết giấy mượn tiền nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh nên lời trình bày của ông C là không có cơ sở để xem xét.
Các bên đương sự đều trình bày thống nhất giữa ông Trần Văn M và ông Phan Văn C có xác lập và thực hiện hợp đồng vay tài sản. Hợp đồng vay giữa các bên được giao kết trên cơ sở tự nguyện, không ai bị lừa dối hoặc bị ép buộc, các bên đều có đầy đủ năng lực hành vi dân sự nên đây được xem là hợp đồng hợp pháp, có hiệu lực pháp luật ràng buộc quyền và nghĩa vụ của các bên.
Nội dung “Giấy mượn tiền” lập ngày 09/01/2020 âm lịch thể hiện: Ông C có vay của ông M số tiền 120.000.000 đồng và thiếu ông M 07 tháng tiền lãi là 126.000.000 đồng, cộng lại là 246.000.000 đồng. Phía ông M cho rằng 246.000.000 đồng là tiền gốc; còn ông C cho rằng trong 246.000.000 đồng chỉ có 13.000.000 đồng tiền gốc, còn lại đều là tiền lãi. Tuy nhiên, cả hai bên đương sự đều không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho lời trình bày của mình nên căn cứ vào giấy mượn tiền Hội đồng xét xử xác định giữa ông Trần Văn M và ông Phan Văn C có xác lập và thực hiện hợp đồng vay tài sản với số tiền 120.000.000 đồng; đây là hợp đồng vay không kỳ hạn. Số tiền 126.000.000 đồng còn lại là tiền lãi nhưng không xác định được là tiền lãi của khoản vay nào.
[2.2] Phía ông M cho rằng ông cho ông C mượn tiền có thỏa thuận miệng lãi suất là 3%/tháng nhưng từ lúc vay 246.000.000 đồng vào ngày 09/01/2020 âm lịch đến nay ông C không có đóng lãi cho ông. Phía ông C cho rằng khi vay là hai bên thỏa thuận miệng lãi suất 30%/tháng, không phải 3%/tháng như ông M trình bày.
Như vậy, các bên có thoả thuận về việc trả lãi nhưng không thống nhất lãi suất và có tranh chấp về lãi suất nên cấp sơ thẩm căn cứ vào khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 xác định mức lãi suất bị đơn phải trả cho nguyên đơn là 0,83%/tháng là đúng quy định pháp luật.
Do hợp đồng vay giữa các bên là hợp đồng vay không kỳ hạn nên thời gian chậm trả nợ gốc được tính từ ngày bị đơn nhận được thông báo về việc bị khởi kiện. Theo hồ sơ vụ án thể hiện ngày ông C nhận được thông báo thụ lý vụ án là ngày 28/12/2022. Do đó, cấp sơ thẩm xác định ông C phải có nghĩa vụ trả cho ông M số tiền lãi tính từ ngày 28/12/2022 đến ngày 02/6/2023 là 5.146.000 đồng là có căn cứ.
Ông C cho rằng ông đã đóng lãi cho ông M được 5.500.000 đồng và yêu cầu được cấn trừ số tiền này nhưng ông M không thừa nhận đây là tiền lãi của số nợ gốc 246.000.000 đồng và ông C cũng không cung cấp được chứng cứ chứng minh nên lời trình bày của ông C là không có cơ sở để xem xét.
[3] Từ những phân tích trên, xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn M, buộc ông Phan Văn C có trách nhiệm trả cho ông M số tiền gốc 120.000.000 đồng và tiền lãi của số tiền 120.000.000 đồng tính từ ngày 28/12/2022 đến ngày 02/6/2023 là 5.146.000 đồng, không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông M về việc yêu cầu ông C trả số tiền 200.484.200 đồng là có căn cứ.
Ông Phan Văn C kháng cáo nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu kháng cáo là có căn cứ nên Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[4] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên ông Phan Văn C phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Phan Văn C.
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 75/2023/DS-ST ngày 21 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.
Áp dụng các điều 463, 466, 468, 469 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Áp dụng các điều 147, 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các điều 12, 26 của Nghị quyết số 326/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Văn M đối với ông Phan Văn C về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản, cụ thể:
Buộc ông Phan Văn C có trách nhiệm trả cho ông Trần Văn M số tiền 120.000.000đ (một trăm hai mươi triệu đồng) và tiền lãi tính từ ngày 28/12/2022 đến ngày 02/6/2023 là 5.146.000đ (năm triệu, một trăm bốn mươi sáu nghìn đồng).
Ghi nhận việc ông Trần Văn M không yêu cầu tính lãi từ ngày 03/6/2023 đến ngày xét xử sơ thẩm 21/6/2023.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
2. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Văn M về việc yêu cầu ông Phan Văn C trả số tiền 200.484.200đ (hai trăm triệu, bốn trăm tám mươi bốn nghìn, hai trăm đồng).
3. Về án phí sơ thẩm:
Ông Trần Văn M thuộc diện người cao tuổi được miễn toàn bộ án phí sơ thẩm.
Ông Phan Văn C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 6.257.300đ (sáu triệu, hai trăm năm mươi bảy nghìn, ba trăm đồng).
4. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Phan Văn C phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0006054 ngày 10 tháng 7 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Thu Trang |
Bản án số 445/2023/DS-PT ngày 20/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 445/2023/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 20/11/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
