Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 4449/2024/DS-ST

Ngày: 19/9/2024

V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Loan

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Hương
  2. Ông Nguyễn Thành Vinh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mến - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ánh N, Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 9 năm 2024 tại Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 17/2024/TLST-DS ngày 03 tháng 01 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 6996/2024/QĐXXST-DS ngày 22 tháng 8 năm 2024.

Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần V

Trụ sở: số H L, Phường L, Quận Đ, Thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo ủy quyền: ông Nguyễn Khánh D, chức vụ: Trưởng bộ phận XLN KHCN – V1; ông Hoàng Thanh T, chức vụ: Chuyên viên XLN KHCN – V1; bà Nguyễn Thị Thanh N1, chức vụ: Chuyên viên XLN KHCN – V1; Cùng địa chỉ: Lầu A, B Q, Phường C, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (theo văn bản ủy quyền ngày 02/7/2024). (có mặt)

Bị đơn: ông Lê Quang H năm 1987

Địa chỉ: 9 khối B, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 15 tháng 8 năm 2023 và lời trình bày của bà Nguyễn Thị Thanh N1 người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần V.

Ngày 28/6/2022 Ngân hàng Thương mại cổ phần V (sau đây gọi tắt là Ngân hàng V) ký với ông Lê Quang H1 Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không TSBĐ, mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ ngân hàng Đ, hạn mức tín dụng 100.000.000 đồng (trong đó vay phục vụ nhu cầu đời sống là 95.333.333 đồng, vay phục vụ mục đích mua bảo hiểm là 4.666.667 đồng), thời hạn vay 36 tháng, mục đích vay phục vụ nhu cầu đời sống, lãi suất là 23%/năm, biên độ điều chỉnh tối đa 18%/năm. Sau khi ký hợp đồng ngày 21/7/2022 ông Lê Quang H1 đã được giải ngân số tiền trên. Quá trình thực hiện hợp đồng ông Lê Quang H1 đã thanh toán cho Ngân hàng không liên tiếp từng tháng, với tổng số tiền đã thanh toán là 8.688.038 đồng, tính đến ngày 15/02/2023 ông Lê Quang H1 ngưng không thanh toán đầy đủ cho Ngân hàng V theo thỏa thuận đã ký. Nay ông Lê Quang H1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán đối với Ngân hàng V, nên Ngân hàng đã chuyển khoản vay thành nợ quá hạn và khởi kiện để thu hồi toàn bộ tiền nợ trên.

Nay Ngân hàng Thương mại cổ phần V yêu cầu ông Lê Quang H1 thanh toán cho Ngân hàng V tiền nợ tính đến ngày 19/9/2024 là 152.418.297đồng (một trăm năm mươi hai triệu bốn trăm mười tám ngàn hai trăm chín mươi bảy đồng), (trong đó tiền nợ gốc 91.311.962 đồng, tiền nợ lãi quá hạn 61.106.335 đồng).

Tại phiên tòa,

Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện nêu trên. Về tiền lãi suất kể từ ngày 20/9/2024, ông Lê Quang H1 còn phải thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần V tiền lãi quá hạn phát sinh trên nợ gốc với mức lãi suất quá hạn quy định tại Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không TSBĐ, mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ ngân hàng điện tử của Ngân hàng Thương mại cổ phần V cho đến khi thanh toán xong nợ. Ngoài ra, nguyên đơn không có yêu cầu gì khác.

Bị đơn ông Lê Quang H1 có lời khai: Xác nhận ngày 28/6/2022 giữa ông Lê Quang H1 và Ngân hàng Thương mại cổ phần V có ký Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không TSBĐ, mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ ngân hàng Đ DSANN0010325120226139 như Ngân hàng V trình bày trên. Nay ông Lê Quang H1 đồng ý thanh toán cho Ngân hàng V, nhưng do hoàn cảnh khó khăn nên ông H1 xin được thanh toán nợ vào ngày 20/8/2024. Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhưng ông H1 vắng mặt và cũng không có yêu cầu phản tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử, thẩm phán, thư ký và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử sơ thẩm nghị án và ý kiến của Viện kiểm sát về yêu cầu giải quyết vụ án như sau:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Hội đồng xét xử, thẩm phán, thư ký đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng theo đúng quy định pháp luật.

Đối với nguyên đơn có mặt tại phiên tòa và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; bị đơn có mặt tại phiên tòa. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Về nội dung: Đại diện Viện Kiểm S đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án:

Đây là vụ án tranh chấp phát sinh từ quan hệ hợp đồng dân sự về vay tài sản thuộc trường hợp được quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn ông Lê Quang H1 cư trú trên địa bàn thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn ông Lê Quang H1 vắng mặt tại phiên tòa đến lần thứ hai mặc dù đã được triệu tập hợp lệ, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan do đó Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt các đương sự.

Trong quá trình xét xử vụ án, nguyên đơn chỉ yêu cầu cá nhân bị đơn là ông Lê Quang H1 thanh toán số tiền còn nợ theo hợp đồng vay tài sản mà không yêu cầu cá nhân nào khác phải liên đới trả số tiền trên cùng với bị đơn. Vấn đề này Hội đồng xét xử (HĐXX) thấy đây là sự tự nguyện của nguyên đơn, phù hợp với chủ thể của Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không TSBĐ, mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ ngân hàng điện tử của Ngân hàng Thương mại cổ phần V và bị đơn vắng mặt, nên HĐXX không xem xét đến trách nhiệm thanh toán tiền vay còn nợ của người nào khác.

[2] Đối với yêu cầu của nguyên đơn:

Vấn đề này HĐXX thấy rằng: Theo Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không TSBĐ, mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ ngân hàng điện tử của Ngân hàng Thương mại cổ phần V ngày 28/6/2022 thì bị đơn đã vay tiền của nguyên đơn, hình thức vay tiền trực tiếp ký hợp đồng, mục đích vay phục vụ nhu cầu đời sống, với hạn mức tín dụng 100.000.000đồng. Sau khi giải ngân thì bị đơn đã không thanh toán tiền đầy đủ cho nguyên đơn theo thỏa thuận giữa hai bên. Quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông H1 đồng ý thanh toán nợ cho nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần V vào ngày 20/8/2024, nhưng Ngân hàng Thương mại cổ phần V không đồng ý. Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhưng ông H1 không đến tham gia phiên xét xử và không có yêu cầu phản tố, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp để xem xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Xét thấy, bị đơn đã vi phạm hợp đồng về nghĩa vụ của mình đối với nguyên đơn, căn cứ theo Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015 “Nghĩa vụ trả nợ của bên vay” là không thanh toán tiền đúng hạn cho nguyên đơn và nguyên đơn đã thực hiện đúng nghĩa vụ của mình như trong thỏa thuận. Do đó, nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả cho nguyên đơn số tiền là 152.418.297 đồng, là có cơ sở pháp luật nên HĐXX chấp nhận.

Về tiền lãi: Nguyên đơn yêu cầu tiếp tục tính tiền lãi quá hạn từ ngày 20/9/2024 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ theo quy định tại Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không TSBĐ, mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ ngân hàng điện tử của Ngân hàng Thương mại cổ phần V đã ký kết giữa nguyên đơn với bị đơn. Xét, lãi suất áp dụng giữa các bên thỏa thuận là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 là có cơ sở pháp luật, nên HĐXX chấp nhận yêu cầu về tiền lãi suất của nguyên đơn.

Từ những phân tích và nhận định trên, HĐXX nhận thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ và hợp pháp.

[3] Về án phí: Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn tiền án phí cho nguyên đơn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 271; khoản 1 Điều 273; Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 357; 463; 466 và Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010;

Căn cứ Luật Phí và Lệ phí năm 2015;

Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần V.

    Buộc ông Lê Quang H1 trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần V số tiền 152.418.297đồng (một trăm năm mươi hai triệu bốn trăm mười tám ngàn hai trăm chín mươi bảy đồng).

    Kể từ ngày 20/9/2024, ông Lê Quang H1 còn phải thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần V tiền lãi quá hạn phát sinh trên nợ gốc với mức lãi suất quá hạn quy định tại hợp đồng cho đến khi thanh toán xong nợ.

  2. Thi hành tại Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền.
  3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

    Buộc ông Lê Quang H1 phải chịu 7.620.915đồng (bảy triệu sáu trăm hai mươi ngàn chín trăm mười lăm đồng).

    H2 lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần V toàn bộ số tiền tạm ứng án phí 2.729.047đồng (hai triệu bảy trăm hai mươi chín ngàn không trăm bốn mươi bảy đồng), theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000255 ngày 29/12/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

  4. Quyền và thời hạn kháng cáo:

    Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

  5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi bổ sung năm 2014.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND TP. Thủ Đức;
  • - VKSND TP. Hồ Chí Minh;
  • - Tòa án ND TP.HCM;
  • - Chi cục THADS TP.Thủ Đức;
  • - Lưu hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Trần Thị Loan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 4449/2024/DS-ST ngày 19/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 4449/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger