Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CỦ CHI

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 444/2023/DS-ST

Ngày: 25-8-2023

V/v Tranh chấp đòi lại tài sản là

quyền sử dụng đất; yêu cầu tuyên

hợp đồng ủy quyền và hợp đồng

chuyển nhượng quyền sử dụng đất

là vô hiệu.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng Ngọc

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Phước Trinh.
  2. Bà Phạm Thị Ngọc.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Đức - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Lê Quang Trinh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 25 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 11/2023/TLST-DS ngày 04 tháng 01 năm 2023 về “Tranh chấp đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất; Tranh chấp hợp đồng ủy quyền và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là vô hiệu” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 202/2023/QĐXXST-DS ngày 10/7/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 255/2023/QĐST-DS ngày 28/7/2023, giữa các đương sự:

*Nguyên đơn:

  1. Ông Hồ Quang P, sinh năm: 1960. (Vắng mặt)

Địa chỉ: Số nhà E, Tỉnh lộ 15, Tổ H, ấp B, xã N, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

  1. Bà Lâm Thị N, sinh năm: 1963. (vắng mặt).

Địa chỉ: Số A đường T, ấp P, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

· Đại diện ủy quyền của nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Ngọc C, sinh năm: 1994. (Có mặt)

Địa chỉ: Số B P, phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

*Bị đơn:

  1. Ông Ngô Thế T, sinh năm: 1984. (Có mặt)

Địa chỉ: Số A, Đường số C, Tổ C, ấp C, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

  1. Ông Phạm Thanh N1, sinh năm: 1987. (Có mặt)

Địa chỉ: Số A Đường số C, Tổ H, ấp X, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Văn phòng C1. (Vắng mặt)

Địa chỉ: Số A, Tỉnh lộ 8, khu phố B, thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

  1. Văn phòng công chứng Nguyễn Tất T1. (Vắng mặt)

Địa chỉ: Số D, ấp C, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

  1. Bà Phạm Nguyễn Ngọc Diễm M, sinh năm: 1993. (Vắng mặt)

Địa chỉ: Số A Đường số C, Tổ H, ấp X, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

  1. Ông Hồ Quang T2, sinh năm 1992. (Vắng mặt)
  2. Ông Hồ Quang T3, sinh năm 1994. (Vắng mặt)
  3. Bà Lâm Thị Thu T4, sinh năm 2004. (Vắng mặt)

Cùng địa chỉ: Số A đường T, ấp P, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Tại đơn khởi kiện ngày 03/01/2023, biên bản hoà giải, biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và tại phiên toà nguyên đơn ông Hồ Quang P và bà Lâm Thị N có bà Huỳnh Thị Ngọc C là đại diện theo ủy quyền trình bày:

Ngày 26 tháng 06 năm 2021, ông P, bà N có vay của ông Ngô Thế T số tiền 200.000.000 (hai trăm triệu) đồng, lãi suất 1,5%/tháng. Khi vay số tiền này, ông P, bà N có lập Hợp đồng ủy quyền số 018395 ngày 26/06/2021 tại Văn phòng C1 (sau đây viết tắt là hợp đồng ủy quyền ngày 26/6/2021), đối với Thửa đất số 125, Tờ bản đồ số 13 (BĐKTS), diện tích là 593,4 m², bộ địa chính xã P, huyện C, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ H00878/10 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 04/12/2009 đứng tên bà Lâm Thị N (sau đây viết tắt là Thửa đất số 125), để ông T tin tưởng cho ông P, bà N có vay tiền chứ không chuyển nhượng đất vì trên đất có nhà của cả gia đình ông P, bà N sinh sống, đồng thời giá trị thực tế Thửa đất số 125 là lớn hơn nhiều số tiền vay. Chúng tôi đã giao bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00878/10 cho ông Tân giữ làm tin.

- Trên Thửa đất số 125 có căn nhà ở và các tài sản khác hiện do chúng tôi đang quản lý, sử dụng. Hiện tại, phần đất này đã được tách một phần diện tích 147,4 m², diện tích còn lại là 446m².

- Ông P và bà N đã có tiền để trả cho ông Ngô Thế T nhưng ông T không có thiện chí để giải quyết nhận tiền và trả lại bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau đó, ông P, bà N tìm hiểu thì mới biết ông T đã sang nhượng Thửa đất 125 cho ông Phạm Thanh N1 theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 003726, quyển số 05/2022 TP/CC-SCC/HĐGD, lập ngày 28/5/2022, tại Văn phòng C2 (sau đây viết tắt là hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 28/5/2022).

Hiện tại trên Thửa đất số 125, ông P, bà N đang sinh sống, gồm có:

  1. Ông Hồ Quang T2, sinh năm: 1992.
  2. Ông Hồ Quang T3, sinh năm: 1994.
  3. Bà Lâm Thị Thu T4, sinh năm: 2004.

Cùng địa chỉ: Số nhà A, đường T, ấp P, xã P, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh.

Do không tự thỏa thuận được với nhau nên ông P, bà N khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Củ Chi giải quyết:

  1. Tuyên bố Hợp đồng ủy quyền ngày 26/6/2021 là vô hiệu.
  2. Yêu cầu ông Ngô Thế T trả lại cho ông P, bà N một bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ H00878/10 cho ông P và bà N. Ông P, bà N sẽ trả cho ông Ngô Thế T số tiền là 200.000.000 (hai trăm triệu) đồng và lãi suất theo thỏa thuận là 1,5%/ tháng, tính từ ngày 26 tháng 06 năm 2021 cho đến ngày Tòa xét xử sơ thẩm. Trả làm một lần ngay sau khi án phát sinh hiệu lực thi hành.
  3. Tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất 28/05/2022 là vô hiệu.

*Tại biên bản định giá ngày 14/03/2023 gia đình bà N, ông P thống nhất với giá của Hội đồng định giá, không có ý kiến gì và tại bản vẽ hiện trạng mà phía công ty TNHH MTV T6 bản đồ Hoàng Thịnh theo số HĐ 213/HD-HT/2023 được Trung tâm kiểm định bản đồ và T7 thuộc Sở T8 đã kiểm tra nội nghiệp T0070/L1 ngày 12/04/2023.

*Tại phiên tòa: Nguyên đơn có ý kiến nếu các bên thống nhất thỏa thuận tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 28/5/2022 và hợp đồng ủy quyền ngày 26/6/2021 là vô hiệu, thì phía nguyên đơn sẽ trực tiếp trả số tiền vay gốc 200.000.000đồng và tiền lãi 60.000.000đồng cho ông T hoặc trả trực tiếp cho ông N1 (nếu ông T đồng ý). Nguyên đơn rút yêu cầu buộc ông Ngô Thế T phải trả lại bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ H00878/10.

*Trong quá trình giải quyết vụ án, tại biên bản hoà giải và biên bản về việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và tại phiên Toà bị đơn ông Ngô Thế T trình bày:

Vào ngày 26/6/2021 tại Văn phòng C1 giữa tôi và ông Hồ Quang P và bà Lâm Thị N có thực hiện hợp đồng ủy quyền ngày 26/6/2021 đối với phần Thửa đất số 125. Mục đích để làm tin để tôi cho bà Lâm Thị N và ông Hồ Quang P vay số tiền là 200.000.000 (hai trăm triệu) đồng.

Trước đó, vào ngày 28/5/2022 tại Văn phòng C2, tôi có làm hợp đồng chuyển nhượng cho anh Phạm Thanh N1 đối với Thửa đất 125. Mục đích là để vay anh Phạm Thanh N1 với số tiền 1.600.000.000đ (một tỷ sáu trăm triệu đồng), Tôi có đóng lãi cho ông N1 và có người làm chứng là ông chỉ vay tiền của ông N1.

*Tại phiên tòa hôm nay: Ông Tân thống nhất tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 28/5/2022 và hợp đồng ủy quyền ngày 26/6/2021 là vô hiệu. Ông T đồng ý trả cho ông N1 số tiền 2.200.000.000đồng. Trong thời gian từ ngày 25/8/2023 đến 25/11/2023, ông T đồng ý để ông P, bà N trả số tiền vay gốc 200.000.000đồng, tiền lãi 60.000.000đồng, tổng cộng là 260.000.000đồng cho ông N1 và ông T cũng sẽ trả cho ông N1 số tiền 1.000.000.000đồng; từ ngày 26/11/2023 đến ngày 25/01/2024, ông T tiếp tục trả cho ông N1 số tiền còn lại 940.000.000đồng.

*Trong quá trình giải quyết vụ án, tại biên bản hoà giải và biên bản về việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và tại phiên Toà bị đơn ông Phạm Thanh N1 trình bày:

Tôi là người mua Thửa đất số 125 hợp pháp từ ông Ngô Thế T là người được ông Hồ Quang P và bà Lâm Thị N ủy quyền. Tôi đã được cập nhật việc nhận chuyển nhượng tại trang tư của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ H 00878 do UBND huyện C cấp ngày 04/12/2009 đứng tên bà Lâm Thị Na .

Nay, tôi khởi kiện yêu cầu ông Ngô Thế T và ông Hồ Quang P, bà Lâm Thị N phải có nghĩa vụ tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng đất ngày 28/5/2022 đã ký kết tại Văn phòng C2. Buộc ông Ngô Thế T và ông Hồ Quang P, bà Lâm Thị N phải dọn ra khỏi đất để bàn giao thửa đất số 125 cho tôi là Phạm Thanh N1.

*Tại phiên tòa: Ông N1 thống nhất tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 28/5/2022 giữa ông và ông T và hợp đồng ủy quyền ngày 26/6/2021 giữa ông P, bà N và ông T là vô hiệu. Ông N1 đồng ý nhận số tiền ông T trả lại là 2.200.000.000đồng, Trong thời gian từ ngày 25/8/2023 đến 25/11/2023, ông N1 đồng ý để ông P, bà N trả thay ông T số tiền 260.000.000đồng và ông T có trách nhiệm trả cho ông N1 số tiền 1.000.000.000đồng; từ ngày 26/11/2023 đến ngày 25/01/2024, ông T tiếp tục trả cho ông N1 số tiền còn lại 940.000.000đồng. Sau khi ông T trả xong số tiền nói trên Tôi sẽ ký chuyển nhượng lại cho ông P, bà N. Ông N1 rút yêu cầu buộc gia đình ông P, bà N phải dọn ra khỏi nhà trả lại Thửa đất 125 cho ông N1.

*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm ông Hồ Quang T2, ông Hồ Quang T3 và bà Lâm Thị Thu T4 cùng thống nhất trình bày tại bản tự khai ngày 03/02/2023 và xin xét xử vắng mặt như sau:

Chúng tôi là con của ông P, bà N đang sinh sống trên Thửa đất số 125, Tờ bản đồ số 13 (BĐKTS), diện tích là 593,4 m², bộ địa chính xã P, huyện C, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ H00878/10 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 04/12/2009 đứng tên bà Lâm Thị Na . Chúng tôi thống nhất yêu cầu khởi kiện của ông P, bà N.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Văn phòng C1 trình bày tại bản tự khai ngày 31/01/2023 và xin xét xử vắng mặt như sau:

Ngày 26/06/2021, Ông Hồ Quang P, sinh năm 1960, CCCD số [...] và bà Lâm Thị N, sinh năm 1963, CMND số [...] cùng ngụ tại Tổ H, Ấp B, Xã N, Huyện C, TP H và Ông Ngô Thế T, sinh năm 1984, CCCD số [...] ngụ tại Tổ C, Ấp C, Xã T, Huyện C, TP H đã đến trụ sở Văn phòng C1 yêu cầu Công chứng viên Văn phòng C1 chứng nhận hợp đồng uỷ quyền đối với toàn bộ quyền sử dụng đất, tại thửa đất số: 125, tờ bản đồ số: 13, địa chỉ: xã P, huyện C, TP , số công chứng 018395.

Tại thời điểm công chứng, Ông Hồ Quang P, Bà Lâm Thị N, Ông Ngô Thế T đã xuất trình đầy đủ giấy tờ pháp lý liên quan, đầy đủ năng lực hành vi dân sự và tinh thần hoàn toàn minh mẫn, sáng suốt. Các bên hoàn toàn tự nguyện thỏa thuận và giao kết hợp đồng uỷ quyền quyền sử dụng đất, đồng ý ký tên, điểm chỉ vào hợp đồng này trước sự chứng kiến của Công chứng viên Văn phòng C1. Công chứng viên Văn phòng C1 đã chứng nhận hợp đồng uỷ quyền quyền sử dụng đất nêu trên theo đúng trình tự thủ tục luật định.

*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Văn phòng công chứng Nguyễn Tất T1 trình bày tại đơn xin xét xử vắng mặt ngày 27/01/2023 như sau:

Ngày 28/5/2022, Văn phòng C2 có tiếp nhận yêu cầu công chứng Hợp đồng Chuyển nhượng quyền sử dụng đất ( Không có tài sản gắn liền với đất) tại thửa đất số 125, tờ bản đồ 13 (BĐKTS), tại xã P, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh với nội dung ông Ngô Thế T (Đại diện theo ủy quyền cho bà Lâm Thị N và ông Hồ Quang P) Chuyển nhượng toàn bộ quyền sử dụng đất nêu trên cho ông Phạm Thanh N1. Sau khi kiểm tra hồ sơ, công chứng viên đã thực hiện đúng đầy đủ quy trình tiếp nhận và giải quyết công chứng hợp đồng như sau:

Tiếp nhận phiếu yêu cầu công chứng, yêu cầu các bên cung cấp giấy tờ về nhân thân, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hợp đồng ủy quyền hợp lệ số công chứng 018395 do Công chứng viên Văn Phòng Công chứng Dương Thái Hoàng thành phố H chứng nhận ngày 26/6/2021. Sau khi xem xét kỹ, thấy hồ sơ hợp lệ và đầy đủ các giấy tờ cần thiết theo quy định của pháp luật, công chứng viên tiến hành soạn thảo hợp đồng. Trước khi tiến hành công chứng hợp đồng, công chứng viên đã giải thích toàn bộ nội dung, quyền lợi, nghĩa vụ cũng như trách nhiệm trước pháp luật các bên khi tham gia ký kết hợp đồng này và cũng tiến hành tra cứu ngăn chặn trên trang thông tin ngăn chặn của Sở Tư pháp và không thấy có dấu hiệu tài sản bị ngăn chặn.

Các bên tham gia hợp đồng đã đọc, nghe công chứng viên giải thích toàn bộ bản thảo và đồng ý toàn bộ nội dung hợp đồng.

Các bên khẳng định việc giao kết hợp đồng này là hoàn toàn tự nguyện, không bị lừa dối, ép buộc.

Trước khi các bên ký và điểm chỉ vào 03 (Ba) bản hợp đồng chính thức, Công chứng viên đã hỏi kỹ các bên một lần nữa và các bên trả lời là đã hiểu rõ nội dung hợp đồng, hiểu rõ quyền lợi, nghĩa vụ cũng như trách nhiệm trước pháp luật của các bên.

Như vậy công chứng viên đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật về công chứng hợp đồng giao dịch, đã tận tình giải thích lại toàn bộ nội dung, quyền lợi, nghĩa vụ cũng như trách nhiệm trước pháp luật các bên khi tham gia ký kết hợp đồng này.

Trên đây là toàn bộ quy trình công chứng Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất dụng đất số công chứng 003726 do Công chứng viên Văn phòng Nguyễn Tất T1 chứng nhận ngày 28/5/2022.

Đồng thời, vì lý do bận công tác đại diện văn phòng công chứng Nguyễn Tất T1 xin phép được vắng mặt tại các buổi làm việc và xét xử vụ án nêu trên rất được sự chấp thuận của Q toà.

* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi:

Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng nội dung quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015: Vụ án được thụ lý đúng thẩm quyền; việc Tòa án cấp, tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng đúng quy định; thời hạn gửi Thông báo thụ lý cho Viện kiểm sát cùng cấp đúng quy định; thời hạn gửi Quyết định đưa vụ án ra xét xử và thời hạn gửi hồ sơ đúng quy định; tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã tiến hành đúng thời gian, địa điểm được ghi trong quyết định đưa vụ án ra xét xử, thành phần Hội đồng xét xử đúng quy định, việc tham gia hỏi tại phiên tòa đúng quy định.

Đối với các đương sự: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, các đương sự đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Về nội dung vụ án đề nghị Hội đồng xét xử : Công nhận sự thoả thuận giữa nguyên đơn và bị đơn ông Ngô Thế T, ông Phạm Thanh N1 như sau: Tuyên bố Hợp đồng ủy quyền 26/6/2021 và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 28/5/2022 là vô hiệu. Trong thời gian từ ngày 25/8/2023 đến 25/11/2023, buộc ông P, bà N phải có trách nhiệm trả ông Phạm Thanh N1 số tiền 260.000.000 (hai trăm sáu mươi triệu) đồng và ông T phải trả ông N1 số tiền 1.000.000.000 (một tỷ) đồng. Trong thời gian từ ngày 26/11/2023 đến ngày 25/01/2024, ông T phải có trách nhiệm trả cho ông N1 số tiền còn lại 940.000.000 (chín trăm bốn mươi triệu) đồng. Đình chỉ một phần khởi kiện của nguyên đơn đối với yêu cầu ông T trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và một phần yêu cầu phản tố của ông Phạm Thanh N1 về việc yêu cầu ông P, bà N cùng các con phải dọn ra khỏi nhà.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng, kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Nguyên đơn ông Hồ Quang P, bà Lâm Thị N yêu cầu tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và hợp đồng ủy quyền là vô hiệu; Bị đơn ông Phạm Thanh N1 yêu cầu ông P, bà N phải dọn ra khỏi nhà trả lại tài sản là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại Thửa 125. Đây là quan hệ pháp luật “Tranh chấp đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất; Tranh chấp hợp đồng ủy quyền và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” theo quy định tại khoản 2, 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Thửa đất số 125 tọa lạc xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 35 và Điểm c Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng:

Tại phiên tòa, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Phạm Nguyễn Ngọc Diễm M, anh Hồ Quang T2, anh Hồ Quang T3, chị Lâm Thị Thu T4, Văn phòng C1, Văn phòng công chứng Nguyễn Tất T1 vắng mặt nhưng có đề nghị xét xử vắng mặt. Nguyên đơn ông P, bà N vắng mặt, có mặt người đại diện theo ủy quyền. Căn cứ Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên.

Tại phiên tòa, nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc buộc ông Ngô Thế T phải trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ H00878/10 do Ủy ban nhân dân huyện C, cấp ngày 04-12-2009 đứng tên bà Lâm Thị Na . Bị đơn ông N1 rút yêu cầu buộc gia đình ông P, bà N phải dọn ra khỏi nhà trả lại Thửa đất 125 cho ông N1. Hội đồng xét xử đình chỉ giải quyết yêu cầu đã rút của các đương sự theo quy định tại khoản 2 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

[3] Về yêu cầu của đương sự:

[3.1] Thửa đất số 125 đã được UBND huyện C cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ H 00878/10 ngày 04/12/2009 cho bà Lâm Thị Na . Ngày 26/6/2021, bà N cùng chồng ông P ủy quyền...chuyển nhượng...Thửa đất số 125 cho ông Ngô Thế T tại Văn phòng C1. Ông P, bà N trình bày việc ký hợp đồng ủy quyền là để ông T tin tưởng cho ông P, bà N vay 200.000.000đ (hai trăm triệu đồng), ông P, bà N cung cấp giấy xác nhận vay tiền ngày 26/6/2021 giữa ông P, bà N và ông T có nội dung thỏa thuận “...có ủy quyền cho tôi Thửa đất 125, Tờ bản đồ số 13...để vay số tiền là 200.000.000 (hai trăm triệu đồng chẵn) ...Trong thời gian 2 năm tính từ ngày hôm nay (26-6-2021) sẽ hoàn trả lại số tiền và trả lại sổ đỏ...”. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, ông T cũng xác nhận nội dung này. Như vậy, có cơ sở xác định hợp đồng ủy quyền ngày 26/6/2021 bị vô hiệu do giả tạo, nhằm che dấu hợp đồng vay tài sản theo quy định tại Điều 124 Bộ luật dân sự 2015.

[3.2] Sau khi nhận ủy quyền từ ông P và bà N, ông T đã không thực hiện theo giấy xác nhận ngày 26/6/2021 mà lại chuyển nhượng toàn bộ Thửa đất số 125 cho ông Phạm Thanh N1 theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 28/5/2022 tại Văn phòng C2, ông T trình bày hợp đồng này được lập để đảm bảo khoản vay 1.600.000.000₫ mà ông N1 cho ông T vay, ông N1 không thừa nhận việc này và xác định ông nhận chuyển nhượng đất hợp pháp. Xét giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 28/5/2022: Như đã nhận định ở trên, hợp đồng ủy quyền giữa ông P, bà N và ông T là hợp đồng giả tạo nên bị vô hiệu, đồng thời tại thời điểm ông N1 nhận chuyển nhượng đất từ ông Tân gia đ ông P, bà N cùng các con đang ở ổn định trên đất, ông N1 nhận chuyển nhượng nhà đất nhưng không có biên bản bàn giao nhà đất, quá trình giải quyết vụ án ông N1 cũng thừa nhận khi ông T dẫn ông đi xem Thửa đất 125, ông T đã dẫn đi một thửa đất khác chứ không phải Thửa 125. Do đó, Hội đồng xét xử xác định hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 28/5/2022 là hợp đồng vô hiệu theo quy định tại Điều 123 Bộ luật dân sự.

[3.3] Đồng thời, tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, bị đơn ông T và bị đơn N1 thống nhất việc tuyên vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 28/5/2022 giữa ông T và ông N1 và hợp đồng ủy quyền ngày 26/6/2021 giữa ông P, bà N và ông T nên Hội đồng xét xử ghi nhận ý kiến của các đương sự này.

[3.4] Hậu quả của hợp đồng vô hiệu: Hợp đồng ủy quyền lập ngày 26/6/2021 là hợp đồng không có thù lao và các đương sự cũng không yêu cầu giải quyết hậu quả nên Hội đồng xét xử không xem xét. Đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 28/5/2022, ông N1 và ông T cũng như ông P, bà N thống nhất giải quyết hậu quả như sau: Ông T đồng ý trả cho ông N1 số tiền 2.200.000.000đồng. Trong thời gian từ ngày 25/8/2023 đến 25/11/2023, ông P, bà N phải có trách nhiệm trả số tiền vay gốc và lãi, tổng cộng là 260.000.000đồng cho ông N1; ông T sẽ trả cho ông N1 số tiền 1.000.000.000đồng. Từ ngày 26/11/2023 đến ngày 25/01/2024, ông T sẽ trả cho ông N1 số tiền còn lại 940.000.000đồng.

[3.5] Ông Phạm Thanh N1 và bà Phạm Nguyễn Ngọc Diễm M phải có trách nhiệm giao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ H00878/10 do Ủy ban nhân dân huyện C, cấp ngày 04-12-2009 đứng tên bà Lâm Thị N cho ông P, bà N.

[3.6] Văn phòng đăng ký đất đai huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh có trách nhiệm điều chỉnh xóa nội dung thay đổi và cơ sở pháp lý ngày 09/12/2022, chuyển nhượng Thửa đất số 125 cho ông Phạm Thanh N1 và bà Phạm Nguyễn Ngọc Diễm M tại trang tư Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ H00878/10.

[4] Về nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm:

Yêu cầu đòi lại nhà và đất Thửa số 125 của ông N1, ông N1 đã rút yêu cầu nên được hoàn trả lại 300.000đồng tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp.

Yêu cầu tuyên hợp đồng ủy quyền, và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông P, bà N vô hiệu được Hội đồng xét xử chấp nhận nên ông T phải chịu 600.000đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Ông T phải trả cho ông N1 số tiền 1.940.000.000đồng nên phải chịu số tiền 70.200.000đồng là án phí dân sự sơ thẩm.

Ông P, bà N phải trả cho ông N1 số tiền 260.000.000đồng nên phải chịu tiền án phí theo qui định. Do ông P, bà N là người lớn tuổi nên được miễn án phí.

[5] Xét bài phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi là có căn cứ nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào Khoản 2, khoản 3 Điều 26, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm c Khoản 1 Điều 39, Điều 58, Điều 146, Điều Điều 24, Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

- Căn cứ vào Điều 123, 125, 131, 407, 408 của Bộ luật Dân sự.

- Căn cứ vào Điều 6, Điều 7, Điều 26, Điều 30, Điều 31, Điều 32 của Luật Thi hành án Dân sự năm 2008;

- Căn cứ vào Điều 12 và Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của của ông Hồ Quang P, bà Lâm Thị N đối với ông Ngô Thế T và ông Phạm Thanh N1:
    • -Tuyên bố Hợp đồng ủy quyền số: 018395, quyển số: 02/2021 TP/CC SCC/HĐGD, lập ngày 26 tháng 06 năm 2021, tại Văn phòng C1 giữa ông Hồ Quang P, bà Lâm Thị N và ông Ngô Thế T là vô hiệu.
    • -Tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 003726, quyển số: 05/2022 TP/CC-SCC/HĐGD, lập ngày 28-05-2022, tại Văn phòng công chứng Nguyễn Tất T1, đối với phần đất Thửa số 125, Tờ bản đồ số 13 (BĐKTS) bộ địa chính xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh là vô hiệu.
  2. Trong thời gian từ 25/8/2023 đến 25/11/2023: Buộc ông Hồ Quang P và bà Lâm Thị N phải có trách nhiệm trả ông Phạm Thanh N1 số tiền 260.000.000 (hai trăm sáu mươi triệu) đồng; Buộc ông Ngô Thế T có trách nhiệm trả cho ông Phạm Thanh N1 số tiền 1.000.000.000 (một tỷ) đồng.

Trong thời gian từ ngày 26/11/2023 đến ngày 25/01/2024, ông Ngô Thế T phải có trách nhiệm trả cho ông Phạm Thanh N1 số tiền còn lại 940.000.000 (chín trăm bốn mươi triệu) đồng.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

  1. Đình chỉ giải quyết yêu cầu phản tố của ông Phạm Thanh N1 về việc yêu cầu gia đình ông Hồ Quang P, bà Lâm Thị N phải trả lại nhà và đất Thửa số 125, Tờ bản đồ số 13 (BĐKTS) bộ địa chính xã P, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh.
  2. Đình chỉ yêu cầu của nguyên đơn ông Hồ Quang P và bà Lâm Thị N về việc buộc ông Ngô Thế T phải trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ H00878/10 do Ủy ban nhân dân huyện C, cấp ngày 04-12-2009 đứng tên bà Lâm Thị Na .
  3. Buộc ông Phạm Thanh N1 và bà Phạm Nguyễn Ngọc Diễm M phải trả lại ông Hồ Quang P và bà Lâm Thị N bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ H00878/10 do UBND huyện C cấp ngày 04/12/2009 đứng tên bà Lâm Thị Na. Trong trường hợp ông N1 và bà M không trả lại bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nói trên thì ông P, bà N được liên hệ cơ quan có thẩm quyền xin cấp lại.
  4. Chi nhánh Văn phòng Đ có trách nhiệm xóa nội dung thay đổi và cơ sở pháp lý ngày 09/12/2022, “chuyển nhượng cho ông Phạm Thanh N1, CCCD số 0798087009042, địa chỉ tại Tổ H, ấp X, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh và vợ là bà Phạm Nguyễn Ngọc Diễm M, CCCD số [...], địa chỉ tại Tổ F, Ấp C, xã P, huyện C, Thành phố H” tại trang tư Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ H00878/10 do UBND huyện C cấp ngày 04/12/2009 đứng tên bà Lâm Thị Na .
  5. Án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Hồ Quang P và bà Lâm Thị N là người cao tuổi nên được miễn án phí. Ông P, bà N được nhận lại số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu số 0020536 ngày 04/01/2023 của Chi cục Thi hành dân sự huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Ông Phạm Thanh N1 được hoàn trả số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0017397 ngày 11/5/2023 của Chi cục Thi hành dân sự huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Thi hành tại Chi cục Thi hành án Dân sự có thẩm quyền.

Ông T phải chịu tiền án phí là 70.800.000đ (bảy mươi triệu tám trăm nghìn đồng).

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

  1. Đương sự có mặt quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - TAND Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - VKSND huyện Củ Chi;
  • - Chi cục THADS huyện Củ Chi;
  • - Các đương sự
  • - Lưu: HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Hồng Ngọc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 444/2023/DS-ST ngày 25/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất; yêu cầu tuyên hợp đồng ủy quyền và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là vô hiệu

  • Số bản án: 444/2023/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất; yêu cầu tuyên hợp đồng ủy quyền và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là vô hiệu
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/08/2023
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hồ Quang P, Lâm Thị N - Ngô Thế T, Phạm Thanh N
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger