TÒA PHÚC THẨM TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 444/2025/HS-PT Ngày: 27/10/2025 |
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA PHÚC THẨM TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Sỹ Hưng;
Các Thẩm phán: Ông Võ Hồng Sơn;
Ông Nguyễn Tiến Dũng.
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Phạm Thành Trung, Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện Công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Hà Nội Viện
kiểm sát nhân dân tối cao tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Vinh, Kiểm
sát viên cao cấp.
Ngày 27 tháng 10 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hải
Phòng, Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm
công khai vụ án Hình sự thụ lý số 855/2025/TLPT-HS ngày 27 tháng 6 năm
2025 đối với bị cáo Nguyễn Mạnh C. Do có kháng cáo của bị cáo, bị hại, người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đối với Bản án Hình sự sơ thẩm số
45/2025/HS-ST ngày 29 tháng 5 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương
(nay là Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng).
* Bị cáo có kháng cáo, bị kháng cáo:
Họ và tên: Nguyễn Mạnh C, sinh ngày 07/09/1978, nơi cư trú và chỗ ở:
số A T, phường T, thành phố Hải Phòng (trước đây là: số A T, phường H, thành
phố H, tỉnh Hải Dương); căn cước công dân số: [...]; giới tính: Nam;
trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Thanh tra viên Sở GTVT tỉnh H (đã tạm
đình chỉ công tác ngày 06/10/2023); Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam đã bị
đình chỉ sinh hoạt đảng ngày 06/10/2023; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh;
Tôn giáo: không; con ông Nguyễn Tiến T và con bà Nguyễn Thị Hoài . Vợ là
Lương Thị H; có 03 con sinh năm 2006, 2011 và 2014; Tiền án, tiền sự: Không;
bị bắt tạm giam từ ngày 04/10/2023 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm
giam số 2 Công an Thành phố H (trước đây là Công an tỉnh H), có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo C do Toà án chỉ định: Luật sư Trần Trung K -
luật sư Văn phòng L, thuộc Đoàn luật sư tỉnh H; địa chỉ: A Hồ N, tỉnh thành phố
Hải Dương, tỉnh Hải Dương, có mặt.
* Bị hại có kháng cáo:
- Chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1981; địa chỉ: Số E đường H, khu đô thị E, phường T, thành phố Hải Phòng, có mặt.
- Chị Hà Thị T1, sinh năm 1987; địa chỉ: Lô B nay là số C N, phường H, thành phố Hải Phòng (trước đây là phường Q, thành phố H, tỉnh Hải Dương), có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chị M: Luật sư Phạm Xuân N, Công ty L1, thuộc Đoàn luật sư thành phố H; địa chỉ: số A khu đô thị V đường T, phường Đ, thành phố Hà Nội, có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chị T1: Ông Lưu Văn Q, ông Bùi Quang T2, ông Bùi Huy Đ - Luật sư văn phòng L2, thuộc đoàn luật sư thành phố H; địa chỉ: tầng E số F phố V, phường Y, thành phố Hà Nội, có mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có kháng cáo:
- Anh Nguyễn Xuân D, sinh năm: 1968; địa chỉ: khu F xã T, thành phố Hải Phòng (trước đây là thị trấn T, huyện T, tỉnh Hải Dương), có mặt.
- Chị Phạm Thị Thu H1, sinh năm 1979; địa chỉ: số H L, phường T, thành phố Hải Phòng (trước đây là phường H, thành phố H, tỉnh Hải Dương), có mặt.
- Anh Nguyễn Văn T3, sinh năm 1980; địa chỉ: khu D, phường L, thành phố Hải Phòng (trước đây là phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương), có mặt.
- Anh Tăng Văn G, sinh năm 1981; địa chỉ: số B N, xã G, thành phố Hải Phòng (trước đây là thị trấn G, huyện G, tỉnh Hải Dương), có mặt.
- Anh Vương Văn T4, sinh năm 1985; địa chỉ: khu K, phường T, thành phố Hải Phòng (khu K, phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương), vắng mặt.
- Anh Trịnh Văn H2, sinh năm 1990; địa chỉ: xóm A, phường N, thành phố Hải Phòng (trước đây là xóm A, xã M, thị xã K, tỉnh Hải Dương), có mặt.
- Chị Hoàng Thị T5, sinh năm 1992; địa chỉ: Xã T, thành phố Hải Phòng (trước đây là xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng), có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo:
Anh Lê Văn N1, sinh năm 1976; địa chỉ: khu A, phường L, thành phố Hải Phòng (trước đây là phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương), có đơn xin xét xử vắng mặt.
Ngoài ra còn một số người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, không kháng cáo, Tòa không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Mạnh C quen biết chị Nguyễn Thị M và chị Hà Thị T1. Trong
khoảng thời gian từ tháng 5/2021 đến tháng 3/2023, C đưa ra thông tin với chị M và chị T1 về việc C có mối quan hệ với Lãnh đạo Ủy ban nhân dân (sau đây viết tắt là UBND) tỉnh Hải Dương nên có thể đặt cọc mua đất tại các dự án trên địa bàn tỉnh Hải Dương với giá ưu đãi. Do tin tưởng, chị M, chị T1 đã giao tiền cho C nhiều lần để đặt cọc mua đất; C còn đưa ra thông tin gian dối với chị T1 là C đang được UBND tỉnh H làm quy trình quy hoạch, bổ nhiệm chức vụ Phó Chủ tịch, Chủ tịch UBND tỉnh H, C đặt vấn đề vay tiền chị T1 để C chi phí cho việc quy hoạch chức vụ lãnh đạo. Sau khi nhận tiền của chị M và chị T1, C có liên hệ với một số người nhưng không đặt được cọc để mua đất cho chị M và chị T1, C đã trả lại một phần cho chị M, chị T1. Còn tổng số tiền 10.859.550.000đồng, C đã chiếm đoạt và sử dụng trả nợ, chi tiêu cá nhân và không trả lại cho chị M, chị T1, cụ thể như sau:
1. Hành vi chiếm đoạt số tiền 9.805.000.000đ của chị Nguyễn Thị M:
Đầu tháng 5/2021, khi chị M có nhu cầu đặt cọc mua đất tại dự án Khu dân cư mới phường N, thành phố H, C thông báo giá tiền đặt cọc là 185.000.000 đồng/02 lô. Chị M đã chuyển khoản 185.000.000 đồng vào ngày 05/5/2021 và 07/5/2021, để đặt cọc giữ chỗ 02 lô đất LK12.35, LK12.36. Đến tháng 10/2021, C tiếp tục nói với chị M về việc có thể đặt cọc giữ chỗ mua các lô đất tại dự án Khu đô thị M, huyện N, tỉnh Hải Dương, cam kết sẽ giao đất cho chị M khi chủ đầu tư mở bán. Chị Mai T6 thật nên từ ngày 08/10/2021 đến ngày 16/8/2022, đã nhiều lần chuyển khoản, nộp tiền mặt vào tài khoản của C với tổng số tiền 9.620.000.000 đồng để đặt cọc giữ chỗ mua 05 lô đất LK19.24, LK25.1, LK 19.01, LK09.44, LK01.01 tại dự án Khu đô thị M. Để chị M không nghi ngờ mình nói dối, C tự viết, đóng dấu “Đã thu tiền” vào 02 phiếu thu theo mẫu đề ngày 29/11/2021 có nội dung: chị M đặt cọc số tiền 1.300.000.000 đồng (một phiếu 800.000.000đ, một phiếu 500.000.000đ)” cho Công ty H7 để giữ chỗ mua 05 lô đất và đưa cho chị M quản lý.
Tổng số tiền 9.805.000.000 đồng nhận của chị M, C sử dụng để trả nợ cho 10 người gồm ông Nguyễn Xuân D 2.050.000.000đồng; chị Hà Thị T1 2.522.800.000 đồng, bà Phạm Thị Thu H1 427.000.000 đồng; bà Đinh Thị T7 140.000.000 đồng; anh Nguyễn Văn T3 337.000.000 đồng; chị Lương Thị H 330.000.000 đồng; chị Hoàng Thị T5 470.000.000 đồng; ông Tăng Văn G 400.000.000 đồng; anh Vương Văn T4 100.000.000 đồng; anh Trịnh Văn H2 81.900.000 đồng, số còn lại C đã sử dụng cá nhân.
Đến giữa tháng 11/2022 do không nhận được đất như C cam kết nên chị M nhiều lần yêu cầu C trả lại tiền. Ngày 28/11/2022, C chuyển trả 160.000.000 đồng, ngày 19/9/2023 C chuyển trả 400.000.000 đồng cho chị M. Đến ngày 10/4/2023, C nói với chị M về việc không đặt cọc mua đất tại 02 dự án trên mà
đã sử dụng trả nợ, chi tiêu cá nhân và đề nghị chị M cho C trả dần nhưng chị M không đồng ý và làm đơn tố cáo C đến Cơ quan điều tra.
2. Hành vi chiếm đoạt số tiền 690.500.000 đồng của chị Hà Thị T1 (đặt cọc mua đất):
Đầu tháng 5/2021, thấy chị T1 có nhu cầu đặt cọc giữ chỗ 04 lô đất LK01.26, LK18.01, LK10.01, LK10.02 tại dự án Khu dân cư mới phường N, thành phố H. Tin tưởng thông tin do C đưa ra nên từ ngày 14/5/2021 đến 08/6/2021, chị T1 chuyển 760.000.000 đồng vào tài khoản của C làm nhiều lần để đặt cọc giữ chỗ 04 lô đất trên. Sau khi nhận tiền, C sử dụng để trả nợ cho 09 người gồm chị Phạm Thị Thu H1 50.000.000 đồng; ông Nguyễn Xuân D 270.000.000 đồng; ủng hộ trường THCS V, thành phố H phòng chống dịch Covid-19 105.000.000 đồng; ông Trần Xuân H3 5.000.000 đồng; anh Lê Văn N1 4.300.000 đồng; bà Nguyễn Thị H4 5.000.000 đồng (mua quà sinh nhật); chị Nguyễn Thị N2 9.000.000 đồng; chị Lương Thị H (vợ C) 10.000.000 đồng; anh Nguyễn Văn D1 2.500.000 đồng; anh Nguyễn Tiến Việt H5 (em trai C) 3.000.000 đồng. Số tiền còn lại, C chi tiêu cá nhân. Sau đó, C tiếp tục đưa ra thông tin gian dối như trên để chị T1 chuyển tiền cho C làm nhiều lần để đặt cọc nhiều lô đất khác nhau ở các dự án thuộc tỉnh Hải Dương. C có liên hệ với một số người để đặt cọc mua đất hộ chị T1 nhưng các dự án đó đều chưa nhận tiền đặt cọc hoặc chưa mở bán nên C không đặt cọc giúp chị T1 được. C đã chuyển trả chị T1 làm nhiều lần số tiền đã nhận của chị T1 để đặt cọc mua đất. C xác định giữa C và chị T1 chỉ giao dịch với nhau trong việc đặt cọc đất qua tài khoản ngân hàng, không giao nhận bằng tiền mặt. Khi chị T1 yêu cầu C ký các Biên bản giao nhận tiền đặt cọc mua đất do chị T1 đánh máy sẵn, C không nhớ rõ đã nhận của chị T1 và chuyển khoản lại trả chị T1 bao nhiêu tiền, chưa đối chiếu với sao kê tài khoản của mình nhưng do sợ ảnh hưởng đến công việc và uy tín tại cơ quan công tác nên C ký, điểm chỉ vào các biên bản mà không kiểm tra cụ thể nội dung.
Tính từ ngày 14/05/20021 đến ngày 28/03/2023, giữa tài khoản số [...] tại ngân hàng V1 tên chủ tài khoản NGUYEN MANH CƯƠNG do một mình C trực tiếp, quản lý, sử dụng với tài khoản số 19035157166017 tại ngân hàng T9 tên chủ tài khoản HA THỊ THU do một mình chị T1 trực tiếp quản lý, sử dụng có phát sinh rất nhiều giao dịch chuyển tiền qua lại cho nhau trong đó có các giao dịch để chị T1 đặt cọc mua đất là 9.692.500.000 đồng. C xác định đã trả chị T1 tiền đặt cọc mua đất là 9.002.000.000 đồng, còn lại 690.500.000 đồng C đã chiếm đoạt. Đến ngày 10/4/2023, C nói với chị T1 về việc không đặt cọc mua đất tại dự án trên mà đã sử dụng trả nợ, chi tiêu cá nhân và đề nghị chị T1 cho C trả dần nhưng không được đồng ý, sau đó chị T1 làm đơn tố cáo C đến Cơ quan điều tra.
3. Hành vi vay và chiếm đoạt số tiền 364.050.000 đồng của chị Hà Thị T1 liên quan đến việc quy hoạch, bổ nhiệm chức vụ.
Khoảng tháng 10/2022, C nói với chị T1 hiện C là Chánh Văn phòng UBND tỉnh H, đặt vấn đề vay tiền chị T1 để chi phí cho việc bổ nhiệm chức danh Phó Chủ tịch UBND tỉnh H. Tin lời C nên ngày 11/10/2022 và ngày 02/11/2022, chị T1 chuyển khoản 03 lần cho C tổng số tiền 550.000.000đồng. Sau khi nhận tiền của chị T1, C sử dụng trả nợ cho 05 người gồm chị Hà Thị Hải Y 150.000.000 đồng; chị Lương Thị H (vợ C) 20.000.000 đồng; ông Vương Văn H6 30.000.000 đồng; chị Mai Thị N3 14.050.000 đồng; bà Phạm Thu H1 150.000.000 đồng. C đã chuyển trả chị T1 185.950.000 đồng. Số tiền còn lại C chiếm đoạt của chị T1 là 364.050.000 đồng.
Tổng số tiền C chiếm đoạt của chị T1 là 1.054.550.000 đồng. Ngoài ra, giữa C và chị T1 còn chuyển tiền qua lại cho nhau để thực hiện các giao dịch dân sự khác với nhau.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 45/2025/HS-ST ngày 29 tháng 5 năm 2025, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương (nay là thành phố Hải Phòng) đã quyết định:
Về áp dụng pháp luật: Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174, điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 46, Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Các Điều 167, 579, 580, 582, 584, 585 của Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Mạnh C phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh C 13 (Mười ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 04/10/2023.
Về trách nhiệm dân sự:
- Chị Hà Thị T1 được nhận số tiền số tiền 620.000.000 đồng (sáu trăm hai mươi triệu đồng) theo biên lai thu tiền số 0003102 ngày 20/5/2025 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương do ông Nguyễn Tiến T nộp thay bị cáo Nguyễn Mạnh C.
- Chị Nguyễn Thị M được nhận số tiền 400.000.000 đồng (bốn trăm triệu đồng) theo biên lai thu tiền số 0002980 ngày 15/10/2024 và số tiền 120.000.000 đồng (một trăm hai mươi triệu đồng) theo biên lai thu tiền số 0002952 ngày 20/8/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương do ông Nguyễn Tiến T nộp thay bị cáo Nguyễn Mạnh C.
- Buộc bị cáo Nguyễn Mạnh C phải trả cho chị Nguyễn Thị M số tiền
4.129.100.000 đồng (bốn tỷ một trăm hai mươi chín triệu một trăm nghìn đồng).
- Buộc những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan sau đây phải có trách nhiệm hoàn trả tiền cho chị Nguyễn Thị M như sau:
- Ông Nguyễn Xuân D phải hoàn trả cho chị Nguyễn Thị M số tiền 2.050.000.000 đồng (hai tỷ không trăm năm mươi triệu đồng).
- Bà Phạm Thị Thu H1 phải hoàn trả chị Nguyễn Thị M số tiền: 427.000.000 đồng (bốn trăm hai mươi bảy triệu đồng).
- Anh Nguyễn Văn T3 phải hoàn trả cho chị Nguyễn Thị M số tiền 337.000.000 đồng (ba trăm ba mươi bảy triệu đồng).
- Chị Lương Thị H hoàn trả cho chị Nguyễn Thị M số tiền: 330.000.000 đồng (ba trăm ba mươi triệu đồng).
- Chị Hoàng Thị T5 phải hoàn trả cho Nguyễn Thị M số tiền: 470.000.000 đồng (bốn trăm bảy mươi triệu đồng).
- Ông Tăng Văn G phải hoàn trả cho chị Nguyễn Thị M số tiền: 400.000.000 đồng (bốn trăm triệu đồng).
- Anh Vương Văn T4 phải hoàn trả cho Nguyễn Thị M số tiền: 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng).
- Anh Trịnh Văn H2 phải hoàn trả cho chị Nguyễn Thị M số tiền: 81.900.000 đồng (tám mươi mốt triệu chín trăm nghìn đồng).
(Cộng bằng 4.195.900.000.000 đồng)
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án đối với khoản tiền nêu trên cho đến khi thi hành án xong, nếu người phải thi hành án chậm trả tiền thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất do chậm thi hành được quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 05/6/2025 bị cáo Nguyễn Mạnh C có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.
Ngày 04/6/2025, bị hại Hà Thị T1 có đơn kháng cáo toàn bộ Bản án sơ thẩm.
Ngày 09/6/2025, bị hại Nguyễn Thị M có đơn kháng cáo đề nghị tăng hình phạt đối với bị cáo và xem xét lại phần trách nhiệm dân sự.
Ngày 09/6/2025, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phạm Thị Thu H1, Tăng Văn G, Trịnh Văn H2 có đơn kháng cáo phần trách nhiệm dân sự.
Ngày 10/6/2025, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Vương Văn T4 có đơn kháng cáo về phần trách nhiệm dân sự.
Ngày 11/6/2025, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Xuân D, Nguyễn Văn T3 có đơn kháng cáo về phần trách nhiệm dân sự.
Ngày 27/6/2025, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Hoàng Thị T5 có đơn kháng cáo về phần trách nhiệm dân sự, nhưng quá hạn và đã được chấp nhận tại Quyết định về việc giải quyết kháng cáo quá hạn số 05/2025/HSPT-QĐ ngày 07/8/2025 của Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo và những người kháng cáo khác giữ nguyên nội dung kháng cáo. Trong đó bị cáo xin giảm hình phạt và cung cấp biên lai thu tiền tiền bồi thường và tiền án phí sơ thẩm theo quyết định của bản án sơ thẩm; người bị hại và người có quyền nghĩa vụ liên quan trình bày các nội dung như đã nêu trong đơn kháng cáo và đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận nội dung kháng cáo, trừ người bị hại Hà Thị T1 đề nghị hủy án sơ thẩm để điều tra lại.
Người bào chữa cho bị cáo cho rằng bị cáo được hưởng rất nhiều tình tiết giảm nhẹ; quá trình giải quyết vụ án cũng đã rất tích cực bồi thường khắc phục hậu quả, trong đó đã bồi thường xong toàn bộ cho người bị hại Hà Thị T1; nộp xong toàn bộ án phí thể hiện thái độ, ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo, nên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo xuống mức thấp nhất.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại Hà Thị T1 cho rằng ngoài số tiền đã được cơ quan điều tra kết luận và Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử thì trong quá trình điều tra bị cáo đã có lời khai thừa nhận có nhận tiền của người bị hại Hà Thị T1 như chị T1 trình bày, trong đó có các tài liệu thể hiện các lần chuyển tiền qua lại giữa bị cáo và bị hại chưa được làm rõ ... (chi tiết theo nội dung bản luận cứ có trong hồ sơ vụ án). Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét hủy án sơ thẩm để điều tra lại.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại Nguyễn Thị M cho rằng hình phạt đối với bị cáo là chưa tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo; thiệt hại của người bị hại là rất lớn nhưng chưa được xem xét triệt để gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguời bị hại. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm tăng hình phạt đối với bị cáo và tính lãi suất trên số tiền mà bị cáo đã chiếm đoạt của người bị hại.
Đại diện Viện kiểm sát sau khi phân tích đánh giá nguyên nhân, tính chất, mức độ và hậu quả hành vi phạm tội; tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ và căn cứ nội dung kháng cáo, kết luận: bị cáo Nguyễn Mạnh C bị Tòa án cấp sơ thẩm kết án về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật; hình phạt là phù hợp và tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm, không có thêm các tình tiết khác làm thay đổi nội dung, bản chất của vụ án; việc người
bị hại kháng cáo cho rằng việc xét xử sơ thẩm bỏ lọt hành vi phạm tội là không có chứng cứ chứng minh; số tiền bị cáo chiếm đoạt đã được chứng minh là phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; việc Tòa án buộc người có quyền nghĩa vụ liên quan phải hoàn trả lại số tiền bị cáo đã chiếm đoạt của người bị hại là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo và giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Các hành vi, quyết định tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố xét xử sơ thẩm, đã được cơ quan và người tiến hành tố tụng thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
[2] Kháng cáo của bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 45/2025/HS-ST ngày 29 tháng 5 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương (nay là thành phố Hải Phòng) là hợp lệ, được xem xét theo quy định của pháp luật.
[3] Tại phiên toà hôm nay, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình, những lời khai nhận của các bị cáo là phù hợp lời khai của chính bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố; phù hợp với một phần lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, sao kê các tài khoản có liên quan, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Trong thời gian từ tháng 5/2021 đến tháng 3/2023, Nguyễn Mạnh C đã đưa ra thông tin không đúng sự thật với chị Nguyễn Thị M và chị Hà Thị T1 về việc C có mối quan hệ với lãnh đạo các cơ quan trong tỉnh Hải Dương, có thể đặt cọc giữ chỗ mua các lô đất tại dự án khu dân cư phường N, thành phố H, khu đô thị M, huyện N, khu T thành phố H khiến chị M và chị T1 tin tưởng chuyển tiền cho C nhiều lần để đặt cọc mua đất. Ngoài ra, C còn đưa ra thông tin gian dối về việc C đang được quy hoạch, bổ nhiệm chức vụ lãnh đạo tỉnh Hải Dương để chị M và chị T1 tin tưởng cho C vay tiền. Với thủ đoạn này, Nguyễn Mạnh C đã chiếm đoạt của chị Nguyễn Thị M số tiền 9.805.000.000 đồng; chiếm đoạt của chị Hà Thị T1 số tiền 1.054.550.000 đồng để sử dụng vào mục đích cá nhân.
[4] Xét hành vi của bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ việc bản thân đưa ra các thông tin gian dối, không đúng sự thật để các bị hại tin tưởng, giao tiền cho bị cáo và bị cáo đã chiếm đoạt tiền của hai bị hại tổng số tiền 10.859.550.000 đồng là phạm vào tội đặc biệt nghiêm trọng. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử và kết án bị cáo về tội
"Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[5] Xét bị cáo nhiều lần chiếm đoạt tài sản của bị hại, nên phải chịu tình tiết tăng nặng “phạm tội hai lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai nhận về hành vi của mình, thực sự ăn năn hối cải; đã tích cực bồi thường cho các bị hại; bản thân bị cáo có nhiều thành tích xuất sắc trong công tác được Ban chấp hành Đảng bộ và Sở giao thông vận tải tỉnh H tặng Giấy khen; nhiều năm là chiến sĩ thi đua cơ sở; được Trường chính trị thành phố H, Ban chấp hành công đoàn ngành giao thông vận tải tặng giấy khen; được tặng thưởng kỷ niệm chương; tham gia ủng hộ UBND xã C xây tường trụ sở. Bố bị cáo được tặng thưởng: Huân chương lao động hạng ba; bằng khen của thủ tướng Chính Phủ 2007; Bằng khen của Chủ tịch UBND tỉnh H năm 2010; Chiến sĩ thi đua cấp tỉnh 2009; Bằng khen của Ban; Giấy khen của UBND tỉnh H 2006; Chiến sĩ thi đua cơ sở nhiều năm. Mẹ bị cáo được tặng Giấy khen của hội chữ thập đỏ thành phố H, của BCH đảng bộ phường L; là chiến sĩ thi đua cơ sở cơ sơ nhiều năm; đạt danh hiệu giáo viên dạy giỏi nhiều năm. Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 13 năm tù là đã có xem xét.
[6] Tại cấp phúc thẩm gia đình bị cáo cung cấp một số tài liệu thể hiện bị cáo đã nộp án phí sơ thẩm theo quyết định của bản án sơ thẩm và một số tiền để bồi thường cho người bị hại; một số tài liệu thể hiện bản thân và bố mẹ bị cáo có nhiều thành tích trong quá trình học tập, lao động, công tác, nhưng những tình tiết này đã được Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng cho bị cáo theo quy định tại điểm v khoản 1 và khoản 2 Điều 151 Bộ luật hình sự, đồng thời không phát sinh các tình tiết khác làm thay đổi tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo, nên không có cơ sở để tiếp tục xem xét lại về hình phạt đối với bị cáo.
[7] Liên quan đến nội dung kháng cáo của chị Hà Thị T1, Tòa án cấp sơ thẩm đã nhận định: Bản thân chị T1 xác định việc chị lập các biên bản giao nhận tiền đặt cọc đất là do chị ghi chép tất cả các giao dịch chuyển tiền cho C vào sổ, sau đó chị tự so sánh số liệu trong sổ ghi chép với sao kê tài khoản của chị T1 rồi tự lập 49 biên bản giao nhận tiền đặt cọc mua đất và đưa cho C ký vào ngày 15/12/2022; bị cáo C đã xác định chữ ký và điểm chỉ trên các biên bản này đúng là của C, nên không cần thiết phải giám định chữ ký và điểm chỉ tại 21 biên bản như chị T1 đề nghị. Ngoài lời khai, chị T1 không có căn cứ vững chắc nào khác
về việc chuyển cho C 2.350.000.000 đồng bằng tiền mặt để đặt cọc mua đất và số tiền 10.740.000.000 đồng tiền mặt để đổi tiền lẻ, trong khi C không thừa nhận. Thời điểm C ký các biên bản giao nhận tiền đặt cọc mua đất nêu trên, C chưa so sánh với sao kê tài khoản của C, không nhớ rõ được các lần giao dịch chuyển tiền giữa hai bên và do sợ T1 làm ảnh hưởng đến công việc, uy tín tại đơn vị công tác nên đã ký, điểm chỉ vào các biên bản do T1 đưa. Tại phiên tòa, giữa C và chị T1 đã được công khai đối chất với với nhau về các khoản tiền mà hai bên đã chuyển cho nhau qua tài khoản và số liệu là thống nhất với trình bày của chị T1. Người làm chứng là anh T8 khai có chứng kiến C nhận tiền mặt từ T1 nhưng không xác định được thời gian, số tiền.
Đối chiếu với lời khai của bị cáo có trong hồ sơ vụ án thì thấy bị cáo khai về các khoản tiền là không thống nhất, nên căn cứ các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đã nhận định như nêu trên là phù hợp, đồng thời quá trình chuẩn bị xét xử, Tòa án cấp sơ thẩm đã trả hồ sơ để điều tra bổ sung, nhưng Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố, nên Tòa án tiến hành xét xử là đúng quy định của pháp luật. Như vậy, sau khi chiếm đoạt tiền của chị T1, bị cáo đã bồi thường 450.000.000 đồng vào ngày 03/6/2024, đồng thời tác động gia đình nộp số tiền 620.000.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0003102, ngày 20/5/2025 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương để trả cho chị T1. Tổng cộng bị cáo đã bồi thường 1.070.000.000 đồng cho chị T1 là đã bồi thường xong. Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét đến trách nhiệm hoàn trả của những người nhận tiền của bị cáo có nguồn gốc từ số tiền bị cáo chiếm đoạt của chị T1 và không xem xét buộc bị cáo phải bồi thường trả lại số tiền như yêu cầu của chị là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
[8] Về trách nhiệm dân sự có liên quan đến chị Nguyễn Thị M thì quá trình giải quyết vụ án, bị cáo đã thừa nhận chiếm đoạt số 9.805.000.000 đồng của chị M, bị cáo sử dụng để trả nợ cho 09 người gồm: ông Nguyễn Xuân D 2.050.000.000 đồng; bà Phạm Thị Thu H1 427.000.000 đồng; anh Nguyễn Văn T3 337.000.000 đồng; chị Lương Thị H 330.000.000 đồng; chị Hoàng Thị T5 470.000.000 đồng; ông Tăng Văn G 400.000.000 đồng; anh Vương Văn T4 100.000.000 đồng; anh Trịnh Văn H2 81.900.000 đồng. Đồng thời những người này cũng thừa nhận việc C chuyển tiền cho họ là thông qua tài khoản ngân hàng và việc C chuyển tiền cho những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là trong thời gian mà C nhận tiền của các bị hại trong vụ án này. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xác định nguồn gốc số tiền bị cáo trả cho 09 người nêu trên do bị cáo chiếm đoạt của chị M mà có và buộc những người này phải có trách nhiệm hoàn trả lại cho chị M số tiền mà họ đã nhận từ bị cáo C có nguồn gốc từ chiếm đoạt của chị M là có căn cứ, phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án
và đúng quy định của pháp luật. Quan hệ dân sự (vay nợ) giữa bị cáo và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được giải quyết bằng vụ án dân sự khác theo quy định của pháp luật, nếu có yêu cầu.
[9] Đối với các khoản tiền bị cáo C đã trả cho chị M được xác định gồm: 560.000.000 đồng trả trước khi bị truy tố; 300.000.000 đồng, trả vào ngày 26/12/2024 và 520.000.000 đồng do bố bị cáo đã nộp tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương theo biên lai thu tiền số 0002952 ngày 20/8/2024 và số 0002980 ngày 15/10/2024, tổng cộng là 1.380.000.000 đồng. Đối với số tiền 2.522.800.000 đồng được xác định C nhận của chị M và sử dụng để trả cho chị Hà Thị T1, nhưng chị T1 cũng là bị hại trong vụ án này, nên số tiền chị T1 đã nhận từ bị cáo, chị T1 không phải trả lại cho chị M mà bị cáo C phải trả cho chị M là phù hợp. Đối với số tiền 140.000.000 đồng mà bị cáo chuyển cho bà Đinh Thị T7 là để mua sơn và đã sử dụng hết sơn vào công trình nhà của bị cáo nên không buộc bà T7 phải trả lại cho chị M.
Như vậy, đối trừ số tiền bị cáo đã chiếm đoạt của chị M với số tiền bị cáo đã trả cho chị M và số tiền mà những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải hoàn trả cho chị M1 thì số tiền còn lại cần buộc bị cáo C phải trả trả cho chị M là 4.229.100.000 đồng. Tại cấp phúc thẩm gia đình bị cáo nộp tiếp 200.000.000 đồng để bồi thường trả lại cho chị Nguyễn Thị M, nên cần được xác nhận.
[10] Từ những nhận định trên, xét thấy tại phiên tòa phúc thẩm không có tình tiết mới khác làm thay đổi các nội dung mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử, nên không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của bị cáo, người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Do đó cần giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm như quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên đã phát biểu tại phiên tòa là phù hợp.
[11] Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận, nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
[12] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự 2015;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí tòa án,
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Mạnh C và người hại,
giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 45/2025/HS-ST ngày 29 tháng 5 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương (nay là thành phố Hải Phòng) về phần hình sự.
Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174, điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38, Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh C 13 (Mười ba) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 04/10/2023.
2. Không chấp nhận kháng cáo của các đương sự có nội dung liên quan đến phần trách nhiệm dân sự, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 45/2025/HS-ST ngày 29 tháng 5 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương (nay là thành phố Hải Phòng) về phần trách nhiệm dân sự.
Áp dụng Điều 46, Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 167, 579, 580, 582, 584, 585 của Bộ luật Dân sự:
- Buộc bị cáo Nguyễn Mạnh C phải bồi thường trả lại cho chị Nguyễn Thị M số tiền là 4.229.100.000 đồng (bốn tỷ hai trăm hai mươi chín triệu một trăm nghìn đồng).
Xác nhận bị cáo Nguyễn Mạnh C đã nộp trả cho chị Nguyễn Thị M số tiền 200.000.000 đồng (hai trăm triệu) tại Biên lai thu tiền số 0001711 ngày 28/7/2025 và Biên lai số 0000917 ngày 26/9/2025 đều của Thi hành án dân sự thành phố H (do ông Nguyễn Tiến T, nộp thay). Số tiền còn phải bồi thường trả lại cho chị Nguyễn Thị M là 4.029.100.000 đồng (bốn tỷ không trăm hai mươi chín triệu một trăm nghìn đồng).
Chị Nguyễn Thị M được nhận số tiền 400.000.000 đồng (bốn trăm triệu đồng) theo biên lai thu tiền số 0002980 ngày 15/10/2024; số tiền 120.000.000 đồng (một trăm hai mươi triệu đồng) theo biên lai thu tiền số 0002952 ngày 20/8/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương do ông Nguyễn Tiến T nộp thay bị cáo; số tiền 200.000.000 đồng (hai trăm triệu) tại Biên lai thu tiền số 0001711 ngày 28/7/2025 và Biên lai số 0000917 ngày 26/9/2025 đều của Thi hành án dân sự thành phố H (do ông Nguyễn Tiến T, nộp thay bị cáo).
- Chị Hà Thị T1 được nhận số tiền số tiền 620.000.000 đồng (sáu trăm hai mươi triệu đồng) theo biên lai thu tiền số 0003102 ngày 20/5/2025 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương do ông Nguyễn Tiến T nộp thay bị cáo.
- Buộc những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan sau đây phải có trách nhiệm hoàn trả tiền cho chị Nguyễn Thị M như sau:
- Ông Nguyễn Xuân D phải hoàn trả cho chị Nguyễn Thị M số tiền 2.050.000.000 đồng (hai tỷ không trăm năm mươi triệu đồng).
- Bà Phạm Thị Thu H1 phải hoàn trả chị Nguyễn Thị M số tiền: 427.000.000 đồng (bốn trăm hai mươi bảy triệu đồng).
- Anh Nguyễn Văn T3 phải hoàn trả cho chị Nguyễn Thị M số tiền 337.000.000 đồng (ba trăm ba mươi bảy triệu đồng).
- Chị Lương Thị H hoàn trả cho chị Nguyễn Thị M số tiền: 330.000.000 đồng (ba trăm ba mươi triệu đồng).
- Chị Hoàng Thị T5 phải hoàn trả cho Nguyễn Thị M số tiền: 470.000.000 đồng (bốn trăm bảy mươi triệu đồng).
- Ông Tăng Văn G phải hoàn trả cho Nguyễn Thị M số tiền: 400.000.000 đồng (bốn trăm triệu đồng).
- Anh Vương Văn T4 phải hoàn trả cho Nguyễn Thị M số tiền: 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng).
- Anh Trịnh Văn H2 phải hoàn trả cho chị Nguyễn Thị M số tiền: 81.900.000 đồng (tám mươi mốt triệu chín trăm nghìn đồng).
(Cộng bằng 4.195.900.000.000 đồng)
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án đối với khoản tiền nêu trên cho đến khi thi hành án xong, nếu người phải thi hành án chậm trả tiền thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất do chậm thi hành được quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Mạnh C phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Xác nhận bị cáo đã nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 112.129.000 án phí dân sơ thẩm tại Biên lai thu tiền số 0001710 ngày 28/7/2025 của Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan gồm Phạm Thị Thu H1, Tăng Văn G, Trịnh Văn H2, Vương Văn T4, Nguyễn Xuân D, Nguyễn Văn T3, Hoàng Thị T5 phải chịu án phí dân phúc thẩm mỗi người là 300.000 đồng; được đối trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại các Biên lai thu tiền lần lượt là 0001888 ngày 18/6/2025; 0001889 ngày 18/6/2025; 0001891 ngày 18/6/2025; 0001886 ngày 18/6/2025; 0001887 ngày 18/6/2025; 0001892 ngày 20/6/2025 đều của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương và Biên lai số 0002684 ngày 29/9/2025 của Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Hồ Sỹ Hưng |
CÁC THẨM PHÁN | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | |
Võ Hồng Sơn | Nguyễn Tiến Dũng | Hồ Sỹ Hưng |
Bản án số 444/2025/HS-PT ngày 27/10/2025 của TÒA PHÚC THẨM TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HÀ NỘI về hình sự (lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Số bản án: 444/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 27/10/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA PHÚC THẨM TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Mạn C phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
