Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Bản án số: 444/2025/DS-PT

Ngày: 24/06/2025

V/v: Tranh chấp phát sinh từ hợp

đồng tín dụng

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hồng;

Các Thẩm phán: Bà Trần Thị Liên Anh;

Ông Vũ Toàn Giang.

- Thư ký phiên tòa: Ông Dương Đức Thắng - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Thắng - Kiểm sát viên.

Ngày 24/6/2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 514/2024/DS-PT ngày 12 tháng 12 năm 2024, về việc: Tranh chấp phát sinh từ HĐ tín dụng.

Do Bản án sơ thẩm số 83/2024/DS-ST ngày 31/7/2024 của Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội, bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 198/2025/QĐ-PT ngày 19/03/2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 275/2025/QĐHPT-PT ngày 14/04/2025; của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP V (sau đây gọi tắt là V1); địa chỉ trụ sở: Số H L, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội; đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D - Chủ tịch Hội đồng quản trị; Người được ủy quyền: Ông Đỗ Hoàng L - Giám đốc Trung tâm thu hồi nợ khách hàng doanh nghiệp và XLN Pháp lý; Người được ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Nguyễn Trung K, ông Nguyễn Hoàng H (Theo văn bản ủy quyền số 941 ngày 09/4/2024).

Bị đơn: Bà Nguyễn Quỳnh N, sinh năm 1988; trú tại: T, phường T, quận B, Hà Nội. Người đại diện theo uỷ quyền: Bà Nguyễn Hồng H1, sinh năm 1968; CCCD số [...] do Cục C1 về TTXH cấp ngày 27/8/2022; địa chỉ: Số H H, tổ C phường Ô, quận Đ, Hà Nội (Theo văn bản uỷ quyền lập ngày 30/7/2024 tại Văn phòng C2, Hà Nội).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Lý K1, sinh năm 1955;
  2. Bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1949;

Cùng trú tại: Số nhà G, ngõ E đường H, tổ dân phố C phường V, quận B, thành phố Hà Nội.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện của nguyên đơn - V1 trình bày:

Bà Nguyễn Quỳnh N vay của V1 tổng số tiền là 1,293,000,000 đồng (Bằng chữ: Một tỷ hai trăm chín mươi ba triệu đồng) theo hợp đồng tín dụng kiêm khế ước nhận nợ số LN1909051655713 ngày 02/10/2019, Giấy đề nghị vay vốn có tài sản bảo đảm kiêm phương án sử dụng vốn, hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế không tài sản bảo đảm, dịch vụ ngân hàng điện tử ngày 04/9/2019 (Hợp đồng thẻ tín dụng 176-P-5934300 ngày 04/9/2019) cùng các khế ước nhận nợ, văn bản tín dụng kèm theo, cụ thể như sau:

Hợp đồng tín dụng số LN1909051655713 ngày 02/10/2019: Số tiền vay là: 1.233.000.000 đồng (Bằng chữ: Một tỷ hai trăm ba mươi ba triệu đồng). Trong hợp đồng, các bên có thoả thuận về thời hạn vay, mục đích vay, lãi suất trong hạn, lãi suất quá hạn, phạt chậm trả lãi.

Hợp đồng thẻ tín dụng số 176-P-5934300 ngày 04/9/2019: Số tiền vay là: 60.000.000 đồng (Bằng chữ: Sáu mươi triệu đồng); Loại thẻ: V1. Trong hợp đồng các bên cùng thoả thuận về mục đích vay, lãi suất trong hạn; lãi suất quá hạn.

Tài sản bảo đảm của khoản vay nêu trên là: Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 71 - 2B, tờ bản đồ số: 8E-IV-23, địa chỉ: G Tổ E cụm B phường V, quận B, thành phố Hà Nội (số nhà G, ngõ E đường H, B, Hà Nội), thuộc quyền sở hữu/quyền sử dụng của bà Nguyễn Quỳnh N theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CT 267395, số vào sổ cấp GCN: CS 43393 do Sở tài nguyên và môi trường thành phố H cấp ngày 14/10/2019.

Thực hiện hợp đồng tín dụng đã ký kết với bà Nguyễn Quỳnh N, V1 đã giải ngân số tiền 1.293.000.000 đồng (Bằng chữ: Một tỷ hai trăm chín mươi ba triệu đồng).

Việc vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bà Nguyễn Quỳnh N: Quá trình thực hiện Hợp đồng LN1909051655713, tính đến ngày 31/12/2020 bà N mới thanh toán trả cho V1 tổng số tiền 118,723,241 đồng, trong đó trả nợ gốc 8,843,965 đồng, trả nợ lãi 109,002,011 đồng, lãi chậm trả lãi 877,265 đồng. Tính đến ngày 7/8/2020 bà Nguyễn Quỳnh N đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với V1 nên toàn bộ dư nợ của khoản vay đã chuyển sang nợ quá hạn kể từ ngày 07/09/2020 với lãi suất quá hạn theo hợp đồng tín dụng. Sau khi khoản nợ bị chuyển nợ quá hạn, V1 đã nhiều lần đôn đốc, tạo điều kiện nhưng bà Nguyễn Quỳnh N vẫn không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ.

Tính đến ngày 18/6/2024, bà Nguyễn Quỳnh N còn nợ V1 số tiền là 2,610,922,195 đồng (Bằng chữ: Hai tỷ sáu trăm mười triệu chín trăm hai mươi hai nghìn một trăm chín mươi lăm đồng), trong đó: Nợ gốc của Hợp đồng tín dụng LN1909051655713 là 1,224,156,035 đồng, nợ lãi trong hạn là 42.436.802, nợ lãi quá hạn là 918,490,512 đồng, phạt chậm trả là 188,613,576 đồng; Nợ gốc của thẻ tín dụng là 59,989,918 đồng, nợ lãi thẻ tín dụng là 177,235,351 đồng.

V1 đề nghị Tòa án giải quyết các nội dung sau:

- Yêu cầu Tòa án buộc bà Nguyễn Quỳnh N phải thanh toán cho V1 toàn bộ số tiền nợ gốc, nợ lãi, và các khoản phát sinh liên quan theo các Hợp đồng tín dụng nêu trên. Tính đến ngày 18/6/2024, bà Nguyễn Quỳnh N còn nợ V1 số tiền là 2,610,922,195 đồng (Bằng chữ: Hai tỷ sáu trăm mười triệu chín trăm hai mươi hai nghìn một trăm chín mươi lăm đồng), trong đó: Nợ gốc của Hợp đồng tín dụng LN1909051655713 là 1,224,156,035 đồng, nợ lãi trong hạn là 42.436.802, nợ lãi quá hạn là 918,490,512 đồng, phạt chậm trả là 188,613,576 đồng; Nợ gốc của thẻ tín dụng là 59,989,918 đồng, nợ lãi thẻ tín dụng là 177,235,351 đồng.

- V1 được tiếp tục tính lãi theo đúng thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng kể từ ngày 19/6/2024 cho đến ngày bà Nguyễn Quỳnh N thực tế thanh toán hết nợ cho V1.

- Yêu cầu Tòa án tuyên trong bản án: V1 có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án kê biên, phát mại tài sản bảo đảm cho khoản vay là: Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 71 - 2B, tờ bản đồ số : 8E-IV-23, địa chỉ: G Tổ E cụm B phường V, quận B, thành phố Hà Nội (số nhà G, ngõ E đường H, B, Hà Nội), thuộc quyền sở hữu/quyền sử dụng của bà Nguyễn Quỳnh N theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CT 267395, số vào sổ cấp GCN: CS 43393 do Sở tài nguyên và môi trường thành phố H cấp ngày 14/10/2019.

- Trường hợp xử lý xong tài sản bảo đảm vẫn không đủ để thực hiện toàn bộ nghĩa vụ trả nợ của bà Nguyễn Quỳnh N với V1, bà N tiếp tục có nghĩa vụ trả nợ đối với phần dư nợ còn lại cho tới khi thực tế thanh toán toàn bộ khoản nợ.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn - bà Nguyễn Quỳnh N trình bày:

Bà thừa nhận có ký hợp đồng với V1 gồm: Hợp đồng tín dụng kiêm khế ước nhận nợ số LN1909051655713 ngày 02/10/2019, Giấy đề nghị vay vốn có tài sản bảo đảm kiêm phương án sử dụng vốn, hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế không tài sản bảo đảm, dịch vụ ngân hàng điện tử ngày 04/9/2019 (Hợp đồng thẻ tín dụng 176-P-5934300 ngày 04/9/2019) cùng các khế ước nhận nợ, văn bản tín dụng kèm theo đúng như V1 trình bày, số tiền vay theo hợp đồng tín dụng là 1.293.000.000 đồng, số tiền vay thẻ tín dụng là: 60.000.000 đồng. Tính đến ngày 11/12/2023, đã trả nợ gốc và nợ lãi cho Ngân hàng số tiền là: 118.723.241 đồng (trong đó trả nợ gốc 8,843,965 đồng, trả nợ lãi 109.879.276 đồng. Nay bà và Ngân hàng thống nhất đề đạt nguyện vọng như sau: Chậm nhất đến ngày 25/1/2024, thanh toán số tiền 100 triệu đồng; Chậm nhất đến ngày 25/2/2024, thanh toán số tiền 100 triệu đồng; C nhất đến ngày 25/3/2024, thanh toán toàn bộ dư nợ gốc và lãi còn lại.

Trong trường hợp bà không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đủ theo nội dung đề đạt nêu trên bà đồng ý để V1 có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án kê biên, phát mại tài sản bảo đảm cho khoản vay là: Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất tại Thửa đất số 71- 2B, tờ bản đồ số : 8E-IV-23, địa chỉ: G Tổ E cụm B phường V, quận B, thành phố Hà Nội (số nhà G, ngõ E đường H, B, Hà Nội), thuộc quyền sở hữu của bà Nguyễn Quỳnh N theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CT 267395, số vào sổ cấp GCN: CS 43393 do Sở tài nguyên và môi trường thành phố H cấp ngày 14/10/2019.

Tại Biên bản xem xét thẩm định ngày 15/5/2024, Tòa án phối hợp với chính quyền địa phương xuống xem xét, thẩm định tài sản thế chấp, kết quả như sau: Thửa đất số 71- 2B, tờ bản đồ số 8E- IV-23, tại số G, tổ E, cụm B phường V, quận B, Hà Nội có địa chỉ thực tế là số 7C ngõ E đường H, tổ dân phố C, phường V, quận B, Hà Nội. Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền trên đất số CT 267395, số vào sổ cấp GCN: CS 43393 do Sở T, thành phố Hà Nội cấp ngày 14/10/2019 đứng tên bà Nguyễn Quỳnh N, diện tích trên Giấy chứng nhận là 21,9m². Công trình xây dựng trên đất: 01 nhà bê tông 04 tầng, 01 tum. Do gia đình không mở cửa nên Toà án không thể thẩm định bên trong. Về cấu trúc hiện trạng xây dựng bên ngoài không thay đổi so với thời điểm thế chấp Ngân hàng. Theo cung cấp của Tổ trưởng tổ dân phố C, phường V, quận B thì trên nhà đất có những người sau đây đang sinh sống là: Ông Lý K1, sinh năm 1955 và bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1949. Ngoài ra không còn ai khác sinh sống. Việc đo đạc thửa đất trên được Công ty cổ phần D1 thực hiện.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 188/2024/DS-ST ngày 14/8/2024 của Tòa án nhân quận Đ, thành phố Hà Nội đó quyết định như sau:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP V - V1 về việc tranh chấp phát sinh từ Hợp đồng tín dụng số LN1909051655713 ngày 02/10/2019 và Hợp đồng thẻ tín dụng số 176-P-5934300 ngày 04/9/2019 giữa Ngân hàng TMCP V với bà Nguyễn Quỳnh N.
  2. Buộc bà Nguyễn Quỳnh N phải trả nợ cho Ngân hàng TMCP V số tiền: Nợ gốc 1.284.145.953 đồng; Lãi trong hạn và lãi quá hạn: 1.167.530.449đồng. Tổng số nợ: 2.451.676.402đ (Bằng chữ: Hai tỷ, bốn trăm năm mươi mốt triệu, sáu trăm bảy mươi sáu nghìn, bốn trăm linh hai đồng).

Trong trường hợp bà Nguyễn Quỳnh N không thanh toán toàn bộ khoản nợ nêu trên thì Ngân hàng TMCP V có quyền đề nghị Cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm là: Toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, thửa đất số 71-2B, tờ bản đồ số 8E-IV-23 có diện tích 21,9m², địa chỉ: Số G, tổ E, cụm B, phường V, quận B, TP . (địa chỉ thực tế: Số G, ngõ E đường H, tổ dân phố C, phường V, quận B, Hà Nội) theo “ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất” số CT 267395, số vào sổ cấp GCN: CS 43393 do Sở T, thành phố Hà Nội cấp ngày 14/10/2019 đứng tên bà Nguyễn Quỳnh N.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm bà Nguyễn Quỳnh N còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số LN1909051655713 ngày 02/10/2019 và Hợp đồng thẻ tín dụng số 176-P-5934300 ngày 04/9/2019 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Lãi suất mà bà Nguyễn Quỳnh N vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng TMCP V theo bản án của Toà án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng TMCP V.

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP V đối với phần lãi chậm trả lãi, số tiền là 15.678.901 đồng.
  2. Về án phí và quyền kháng cáo:
    • Bà Nguyễn Quỳnh N phải chịu số tiền 81.033.000đ (T mươi mốt triệu, không trăm, ba mươi ba nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
    • Ngân hàng TMCP V phải chịu số tiền 784.000₫ (Bảy trăm tám mươi tư nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Được trừ vào số tiền 37.000.000 đ (Ba mươi bảy triệu đồng) tạm ứng án phí Ngân hàng TMCP V đã nộp theo Biên lai số AA/2020/0044230 ngày 30/10/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội. Ngân hàng TMCP V còn được hoàn trả lại số tiền 36.216.000 đ (Ba mươi sáu triệu, hai trăm mười sáu nghìn đồng).

Án xử công khai sơ thẩm, các đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.

Sau phiên toà sơ thẩm, Toà án sơ thẩm nhận được đơn kháng cáo một phần bản án sơ thẩm của Ngân hàng TMCP V và đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm của người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn - bà Nguyễn Hồng H1.

Tại phiên toà phúc thẩm,

Đại diện theo uỷ quyền của V1 giữ nguyên ý kiến đã trình bày tại cấp sơ thẩm; giữ nguyên nội dung kháng cáo và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của V2.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên toà phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Hội đồng xét xử và các đương sự tuân thủ đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự từ giai đoạn thụ lý vụ án đến phiên toà xét xử vụ án.

Về nội dung: Xét kháng cáo của V1 về phần lãi phạt chậm trả là không có căn cứ. Bị đơn có kháng cáo; đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do là từ bỏ kháng cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị đơn; không chấp nhận kháng cáo đối với nguyên đơn; áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về thủ tục kháng cáo:

Đơn kháng cáo của nguyên đơn và bị đơn trong thời hạn luật định, vì vậy đảm bảo về chủ thể, hình thức, nội dung và trong thời hạn kháng cáo theo quy định tại Điều 271, Điều 272, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[1.2] Về sự vắng mặt của các đương sự tại phiên toà phúc thẩm: Toà án đã triệu tập hợp lệ các đương sự tham gia phiên toà lần thứ hai; tại phiên toà, có mặt đại diện theo uỷ quyền của V1. Người kháng cáo - bà Nguyễn Quỳnh N và người đại diện theo uỷ quyền của bà Nguyễn Quỳnh N đều vắng mặt; không có đơn xin xét xử vắng mặt; không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Do vậy, thuộc trường hợp bị coi như từ bỏ việc kháng cáo theo quy định tại khoản 3 Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy cần đình chỉ phúc thẩm đối với kháng cáo của bà Nguyễn Quỳnh N.

[2] Xét kháng cáo của V1:

[2.1] Xét Hợp đồng tín dụng và Hợp đồng thẻ tín dụng:

Nguyên đơn và bị đơn giao kết Hợp đồng tín dụng kiêm khế ước nhận nợ số LN1909051655713 ngày 02/10/2019 và Hợp đồng thẻ tín dụng 176-P-5934300 ngày 04/9/2019 trên cơ sở tự nguyện, có mục đích và nội dung không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, phù hợp với các quy định tại khoản 16 Điều 4; khoản 2 Điều 91; điểm a khoản 3 Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 117 Bộ luật dân sự năm 2015 nên có giá trị pháp lý và hiệu lực thi hành với các bên.

[2.2] Xét Hợp đồng thế chấp:

Để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ cho các Hợp đồng tín dụng của bị đơn. Ngày 15/10/2019, bà Nguyễn Quỳnh N đã ký kết Hợp đồng thế chấp tài sản để vay vốn Ngân hàng, hợp đồng này được công chứng tại Văn phòng C3, thành phố Hà Nội ngày 15/10/2019, số công chứng 4130/2019; quyển số 04-2017 TP/CC-SCC/HĐGD. Tài sản thế chấp là: Quyền sử dụng đất của Bên thế chấp đối với thửa đất theo “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất” số CT 267395, số vào sổ cấp GCN: CS 43393 do Sở T, thành phố Hà Nội cấp ngày 14/10/2019 đứng tên bà Nguyễn Quỳnh N tại thửa đất số 71-2B, tờ bản đồ số 8E-IV-23 có diện tích 21,9m², địa chỉ: Số G, tổ E, cụm B, phường V, quận B, thành phố Hà Nội; hiện nay mang số: Số G, ngõ E đường H, tổ dân phố C, phường V, quận B, Hà Nội.

Hội đồng xét xử nhận thấy, Hợp đồng thế chấp đã được các bên tự nguyện tham gia ký kết, tài sản dùng thế chấp thuộc quyền sử dụng hợp pháp của người thế chấp. Hợp đồng thế chấp được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Văn phòng công chứng và cơ quan có thẩm quyền theo đúng quy định của pháp luật. Như vậy, việc thế chấp đã thực hiện đúng trình tự và thủ tục, tuân thủ đúng quy định tại Điều 317, Điều 318 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 167 Luật đất đai 2013; Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm. Có căn cứ xác định Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất để vay vốn Ngân hàng số công chứng 4130/2019; quyển số 04-2017 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 15/10/2019 tại Văn phòng C3, thành phố Hà Nội có hiệu lực pháp luật nên có giá trị thi hành.

[2.3] Xét yêu cầu khởi kiện của V1:

Về yêu cầu trả nợ gốc: Thực hiện thoả thuận trong hợp đồng, nguyên đơn đã giải ngân theo thoả thuận trong hợp đồng tín dụng và phát hành thẻ tín dụng theo Hợp đồng thẻ tín dụng cho bị đơn. Như vậy, bị đơn có nghĩa vụ trả nợ đối với các khoản nợ phát sinh từ các Hợp đồng nêu trên. Việc bị đơn không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ cho nguyên đơn là vi phạm thoả thuận của các bên trong các hợp đồng đã giao kết và quy định của pháp luật. Do đó, Toà án cấp sơ thẩm buộc bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn số tiền nợ gốc là đúng quy định của pháp luật.

Về lãi suất và yêu cầu đòi nợ lãi: Mức lãi suất ngân hàng áp dụng đối với khoản vay của bị đơn là phù hợp với quy định của Luật các tổ chức tín dụng cũng như các quy định của Ngân hàng N2. Do đó, số nợ lãi của bị đơn được tính trên cơ sở mức lãi suất này là phù hợp với thỏa thuận của các bên và quy định của pháp luật. Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về số nợ lãi là có căn cứ.

Về yêu cầu tính lãi chậm trả lãi của nguyên đơn: Toà án cấp sơ thẩm xác định mặc dù trong Hợp đồng tín dụng hai bên có thỏa thuận về khoản lãi chậm trả lãi, xong theo quy định tại khoản1 Điều 466 Bộ luật dân sự và khoản 1 Điều 25; khoản 4 Điều 13 Thông tư số 39 ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N2, V1 đã tính toán và yêu cầu bà Nguyễn Quỳnh N trả nợ lãi trong hạn, lãi quá hạn thì V1 sẽ không có quyền đòi lãi chậm trả lãi.

Tuy nhiên, điểm b khoản 4 Điều 13 Thông tư số 39 ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N2 có quy định: Trường hợp khách hàng không trả đúng hạn tiền lãi theo quy định tại điểm a khoản này, thì phải trả lãi chậm trả theo mức lãi suất do tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận nhưng không vượt quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Ngoài ra, tại điểm b khoản 2 Điều 8 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao có quy định: Trường hợp khách hàng không trả đúng hạn tiền lãi trên nợ gốc theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng, thì phải trả lãi chậm trả theo mức lãi suất do tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận nhưng không vượt quá mức lãi suất giới hạn mà pháp luật quy định tương ứng với thời gian chậm trả lãi trên nợ gốc trong hạn. Như nhận định ở trên, lãi suất các bên thoả thuận theo hợp đồng tín dụng không vượt quá mức lãi suất giới hạn mà pháp luật quy định. Hơn nữa, không có quy định về việc nếu tổ chức tín dụng đã tính toán và yêu cầu bên vay trả nợ lãi trong hạn, lãi quá hạn thì sẽ không có quyền đòi lãi chậm trả lãi. Do đó, Toà án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng về việc buộc bị đơn phải trả lãi chậm trả lãi là chưa phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành.

[2.4] Xét kháng cáo của V1 về số tiền lãi chậm trả:

Từ nhận định tại mục [2.3], Hội đồng xét xử thấy có căn cứ chấp nhận kháng cáo của V1, sửa bản án sơ thẩm về việc buộc bà Nguyễn Quỳnh N phải trả cho V1 số tiền lãi chậm trả là 15.678.901 đồng.

[3] Về án phí:

Do được chấp nhận yêu cầu khởi kiện nên V1 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; do sửa bản án sơ thẩm nên V1 không phải chịu án phí phúc thẩm; được hoàn trả số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp.

Do nguyên đơn được chấp nhận yêu cầu khởi kiện nên bà Nguyễn Quỳnh N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận. Bà Nguyễn Quỳnh N phải chịu án phí dân sự phúc thẩm do từ bỏ kháng cáo, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • Điều 117, Điều 317; khoản 6 Điều 320; Điều 317, Điều 318; Điều 463; khoản 1 và khoản 5 Điều 466; khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • Điều 166, Điều 167 Luật đất đai năm 2013;
  • Khoản 16 Điều 4; khoản 2 Điều 91; điểm a khoản 3 Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng;
  • Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm;
  • Điểm b khoản 2 Điều 8 Nghị quyết số 01/2029/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
  • Điểm b khoản 4 Điều 13 Thông tư số 39 ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N2;
  • Điều 271, Điều 272, Điều 273; khoản 3 Điều 296; khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Xử:

Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bà Nguyễn Quỳnh N; chấp nhận kháng cáo của Ngân hàng TMCP V3; sửa bản án sơ thẩm số 83/2024/DS-ST ngày 31/7/2024 của Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội, cụ thể như sau:

[1] Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP V - V1 về việc tranh chấp phát sinh từ Hợp đồng tín dụng số LN1909051655713 ngày 02/10/2019 và Hợp đồng thẻ tín dụng số 176-P-5934300 ngày 04/9/2019 giữa Ngân hàng TMCP V với bà Nguyễn Quỳnh N.

[2] Buộc bà Nguyễn Quỳnh N phải trả nợ cho Ngân hàng TMCP V (tính đến ngày 31/7/2024) số tiền: Nợ gốc 1.284.145.953 đồng; Lãi trong hạn và lãi quá hạn: 1.167.530.449 đồng; lãi chậm trả lãi: 15.678.901 đồng. Tổng số nợ: 2.467.355.305 (Hai tỷ, bốn trăm sáu mươi bảy triệu, ba trăm năm mươi lăm nghìn, ba trăm linh năm) đồng.

Trong trường hợp bà Nguyễn Quỳnh N không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng TMCP V có quyền đề nghị Cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm là: Toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, thửa đất số 71-2B, tờ bản đồ số 8E-IV-23 có diện tích 21,9m², địa chỉ: Số G, tổ E, cụm B, phường V, quận B, TP . (địa chỉ thực tế: Số G, ngõ E đường H, tổ dân phố C, phường V, quận B, Hà Nội) theo “ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất” số CT 267395, số vào sổ cấp GCN: CS 43393 do Sở T, thành phố Hà Nội cấp ngày 14/10/2019 đứng tên bà Nguyễn Quỳnh N.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm bà Nguyễn Quỳnh N còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số LN1909051655713 ngày 02/10/2019 và Hợp đồng thẻ tín dụng số 176-P-5934300 ngày 04/9/2019 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Lãi suất mà bà Nguyễn Quỳnh N vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng TMCP V theo bản án của Toà án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng TMCP V.

[3] Về án phí:

Ngân hàng TMCP V không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm; được hoàn trả số tiền 37.000.000 (Ba mươi bảy triệu) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số AA/2020/0044230 ngày 30/10/2023; được hoàn trả 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp theo biên lai số 0021848 ngày 19/8/2024 cùng tại Chi cục thi hành án dân sự quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội.

Bà Nguyễn Quỳnh N phải chịu số tiền 81.347.106 (T mươi mốt triệu, ba trăm bốn mươi bảy nghìn, một trăm lẻ sáu) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Bà Nguyễn Quỳnh N phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự phúc thẩm; được đối trừ số tiền 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai số 0021837 ngày 13/8/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Bắc Từ Liêm.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án và người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận việc thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày Tòa tuyên án./.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thu Hồng

Nơi nhận:

  • - VKS NDTP Hà Nội;
  • - TAND quận Bắc Từ Liêm;
  • - Chi cục THADS quận Bắc Từ Liêm;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 444/2025/DS-PT ngày 24/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 444/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 24/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger