Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 444/2024/HS-PT

Ngày 06/6/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hoàng Tấn

Các Thẩm phán: 1/ Bà Trần Thị Thúy Hồng

2/ Ông Nguyễn Đắc Minh

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Tường Vi, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân: Ông Trần Ngọc Đảm, Kiểm sát viên cao cấp Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Trong các ngày 30 tháng 5 và 06 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 748/2020/TLPT-HS ngày 25 tháng 12 năm 2020. Do có kháng cáo của bị cáo Tống Văn T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 44/2020/HS-ST ngày 18/11/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước.

Bị cáo kháng cáo: Tống Văn T, sinh năm 1980; tại Bắc Giang; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn A, xã L, huyện P, tỉnh Bình Phước; Nghề nghiệp: Làm rẫy; Trình độ văn hóa: 08/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; con ông Tống Văn T1, sinh năm 1960 và bà Hà Thị K, sinh năm 1961; bị cáo có vợ là Nguyễn Thị M (đã ly hôn ngày 06/01/2016) và có 03 con, lớn nhất sinh năm 2002, nhỏ nhất sinh năm 2007; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 13/01/2020 (Có mặt); Người bào chữa chỉ định cho bị cáo: Luật sư Vũ Thanh H, Đoàn Luật sư Thành phố H (Có mặt).

Những người bị hại không kháng cáo:

  1. Bà Đỗ Thị M1, sinh năm 1975; Địa chỉ: Thôn A, xã L, huyện H, tỉnh Bình Phước. Nơi ở hiện nay: Ấp A, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước.
  2. Ông Phạm Viết B, sinh năm 1967; Địa chỉ: Tổ I, ấp L, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước.
  3. Anh Nguyễn Trường Sơn T2, sinh năm 1988; Địa chỉ: Tổ A, ấp E, xã A, huyện H, tỉnh Bình Phước.
  4. Anh Trần Ngọc T3, sinh năm 1988; Địa chỉ: Thôn B, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo:

  1. Anh Tống Văn V, sinh năm 1985; Địa chỉ: Tổ G, ấp T, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước.
  2. Ông Tống Văn T1, sinh năm 1960;
  3. Bà Hà Thị K, sinh năm 1961;
  4. Cùng địa chỉ: Thôn A, xã L, huyện P, tỉnh Bình Phước.

  5. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B; Địa chỉ trụ sở: QL A, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước.
  6. Chị Trần Thị Bạch M2, sinh năm 1988; Địa chỉ: Ấp Đ, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước.
  7. Anh Võ Minh K1, sinh năm 1991; Địa chỉ: Thôn T, xã B, huyện P, tỉnh Bình Phước.
  8. Anh Trần Đắc S, sinh năm 1985; Địa chỉ: Tổ A, ấp T, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước.
  9. Anh Nguyễn Văn T4, sinh năm 1981; Địa chỉ: Tổ A, ấp Đ, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước.
  10. Anh Trịnh Văn H1, sinh năm 1985; Địa chỉ: Thôn I, xã L, huyện P, tỉnh Bình Phước.
  11. Anh Bùi Văn C, sinh năm 1981; Địa chỉ: Ấp L, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước.

Người làm chứng: Anh Trần Văn V1, sinh năm 1982; Địa chỉ: Ấp Đ, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, vụ án có nội dung như sau:

Khoảng đầu năm 2018, Tống Văn T và Tống Văn V (em ruột T) mua chung với nhau một thửa đất số 40, tờ bản đồ số 40, có diện tích 59.563m² tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước do T và V cùng đứng tên đồng sở hữu trên 02 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) và thống nhất giao cho T giữ GCNQSDĐ.

Sau đó, T đã dùng 02 GCNQSDĐ này thế chấp cho anh Võ Minh K1, trú tại thôn T, xã B, huyện P, tỉnh Bình Phước để vay 500.000.000đồng.

Cuối năm 2018, anh V cần tách thửa để sử dụng việc riêng nên nói T mang GCNQSDĐ trên đến Văn phòng Công chứng để tách thửa. Lúc này, do GCNQSDĐ đang thế chấp cho anh K1 nên T nảy sinh ý định thuê người làm giả 02 GCNQSDĐ để đưa cho anh V.

T liên lạc với đối tượng H1 để thuê H1 làm 02 GCNQSDĐ giả thì được H1 đồng ý với giá thỏa thuận 6 triệu đồng/GCNQSDĐ, sau đó T cung cấp thông tin về thửa đất nêu trên để H1 làm 02 GCNQSDĐ giả. Sau khi có được 02 GCNQSDĐ giả, T cùng với V đến Văn phòng C1 thì bị phát hiện GCNQSDĐ giả nên đã chuyển giao cho Cơ quan điều tra Công an huyện H, tỉnh Bình Phước xử lý theo quy định.

Quá trình điều tra xác định, trong thời gian từ tháng 03/2019 đến tháng 8/2019, do muốn có tiền trả nợ và tiêu xài cá nhân nên Tống Văn T tiếp tục nảy sinh ý định thuê H1 làm 04 GCNQSDĐ giả với cách thức, giá cả như lần trước để thế chấp cho người khác vay tiền rồi chiếm đoạt. Cụ thể như sau:

Vụ thứ 1: Qua giới thiệu của chị Trần Thị Bạch M2, sinh năm 1988, trú tại: ấp Đ, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước và anh Bùi Văn C, sinh năm 1982, trú tại: ấp L, xã T, huyện H thì biết được bà Đỗ Thị M1, sinh năm 1975, trú tại thôn A, xã L, huyện H có nhận thế chấp GCNQSDĐ cho vay tiền.

Lúc này, T thuê H1 làm 01 GCNQSDĐ giả đối với thửa đất số 40, tờ bản đồ số 40, diện tích 59.563m², tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước do T và anh V đứng tên đồng sở hữu quyền sử dụng đất. Sau khi có được GCNQSDĐ giả, ngày 25/3/2019 T đã cầm GCNQSDĐ giả này đi cùng với ông C đến gặp bà Đỗ Thị M1 tại quán cà phê “Mộc” thuộc ấp Đ, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước thỏa thuận thế chấp cho bà Đỗ Thị M1 vay tiền.

Sau khi nhận được GCNQSDĐ giả do T đưa, bà Đỗ Thị M1 tin tưởng GCNQSDĐ giả mà T đưa là thật nên đã đồng ý nhận thế chấp cho T vay 500.000.000đồng. Hai bên không lập giấy vay mượn tiền mà lập thành giấy sang nhượng đất viết tay vào ngày 25/3/2019 với nội dung: thời hạn vay 03 tháng, lãi suất 2.000đ/1.000.000đ/ngày, đến hạn nếu T không trả được gốc và lãi thì bà Đỗ Thị M1 sẽ mua lại thửa đất trên với giá 800.000.000đồng, việc bà Đỗ Thị M1 cho T vay được xem là tiền đặt cọc cho việc mua bán đất.

Đến hạn trả nợ bà Đỗ Thị M1 đã liên lạc điện thoại nhiều lần yêu cầu trả nợ nhưng T không trả rồi tắt máy điện thoại nên bà Đỗ Thị M1 không liên lạc được với T, sau đó đến ngày 27/8/2019, bà Đỗ Thị M1 đến Văn phòng đăng ký đất đai huyện H kiểm tra thông tin thửa đất của T thì được biết đó là GCNQSDĐ giả nên làm đơn tố cáo T.

Vụ thứ 2: Cũng thông qua giới thiệu của anh Bùi Văn C nên T biết được ông Phạm Viết B, sinh năm 1967, trú tại tổ I, ấp L, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước có nhận thế chấp GCNQSDĐ cho vay tiền. Sau đó T thuê H1 làm GCNQSDĐ giả đối với thửa đất số 40, tờ bản đồ số 40, diện tích 59.563m², tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước. Sau khi có GCNQSDĐ giả, T liên lạc với ông B thì ông B đồng ý nhận thế chấp GCNQSDĐ và cho T vay 300.000.000đồng.

Ngày 02/5/2019, T đã mang GCNQSDĐ giả này đi cùng anh C đến nhà ông B. Tại đây, sau khi ông B nhận được GCNQSDĐ do T đưa, ông B tin tưởng là GCNQSDĐ thật nên đã đồng ý nhận thế chấp GCNQSDĐ để cho T vay 300.000.000đồng, hai bên có lập giấy mượn tiền viết tay vào ngày 02/5/2019 và thỏa thuận thời hạn trả 03 tháng, không tính lãi suất với T vì mối quan hệ quen biết với bạn của T là anh C.

Đến hạn trả nợ, T không trả nên ông B đã điện thoại liên lạc đòi tiền nhiều lần thì T trả cho ông B được 40.000.000đồng, sau đó T không trả mà tắt máy điện thoại nên ông B không liên lạc được. Qua tìm hiểu thì biết sổ đỏ mà T mang thế chấp cho ông B là GCNQSDĐ giả nên ngày 01/10/2019, ông B đã làm đơn tố cáo T.

Vụ thứ 3: Thông qua giới thiệu của anh Trần Đắc S, sinh năm 1985, trú tổ A, ấp T, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước nên T biết được anh Nguyễn Trường Sơn T2 có nhận thế chấp GCNQSDĐ cho vay tiền. Sau đó T thuê H1 làm GCNQSDĐ giả đối với thửa đất số 162, tờ bản đồ số 40, diện tích 20.097,9m², tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước. Sau khi có GCNQSDĐ giả, ngày 28/7/2019 T đem theo GCNQSDĐ giả cùng anh S đến nhà anh T2.

Tại đây, sau khi nhận được GCNQSDĐ do T đưa, anh T2 đã tin tưởng là thật nên đã đồng ý nhận thế chấp GCNQSDĐ và cho T vay 400.000.000đồng, hai bên không lập giấy vay mượn tiền mà lập thành giấy sang nhượng đất viết tay vào ngày 28/7/2019 với nội dung: thời hạn vay 02 tháng, không tính lãi suất (do quen biết với anh S là bạn của T), hết hạn T không trả được tiền thì phải chuyển nhượng thửa đất trên cho anh T2 với giá 1.200.000đồng, số tiền vay 400.000.000đồng xem là tiền đặt cọc.

Đến ngày 19/8/2019, T liên lạc với anh T2 nói là không có khả năng trả nợ nên anh T2 yêu cầu chuyển nhượng thửa đất trên cho anh T2 và T đã đồng ý, sau đó anh T2 đã đến Văn phòng Công chứng Vũ Thị L tại phường H, thị xã B, tỉnh Bình Phước làm thủ tục sang tên thì được biết GCNQSDĐ mà T mang thế chấp cho anh T2 là GCNQSDĐ giả, anh T2 nhiều lần đòi nợ nhưng T không trả lời và tắt máy điện thoại để anh T2 không liên lạc được. Ngày 28/11/2019, anh T2 đã làm đơn tố cáo T.

Vụ thứ 4: Thông qua giới thiệu của anh Nguyễn Văn T4, sinh năm 1981; trú tổ A, ấp Đ, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước nên T biết được anh Trần Ngọc T3 có nhận thế chấp GCNQSDĐ cho vay tiền.

Sau đó, T liên hệ với H1 thuê làm 01 GCNQSDĐ giả đối với thửa đất số 162, tờ bản đồ số 40, diện tích 20.097,9m², tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước. Sau khi có GCNQSDĐ giả, ngày 07/8/2019 T đã cùng với anh T4 đến Văn phòng Công chứng Phạm Anh K2 thuộc xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước ký hợp đồng vay tiền với anh T3 và thỏa thuận trong hợp đồng là anh T3 cho vay 400.000.000đồng, thời hạn trả 02 tháng, lãi suất 2000đ/ngày/1.000.000đồng, cứ 15 ngày T phải đóng tiền lãi 01 lần. Sau khi nhận tiền xong, T đưa GCNQSDĐ giả cho anh T3 giữ để làm tin. Đến hạn trả gốc và lãi nhưng T không trả nên anh T3 đã liên lạc với T nhiều lần yêu cầu trả nợ nhưng không liên lạc được. Sau đó anh T3 tìm hiểu thì biết GCNQSDĐ mà T mang thế chấp cho anh T3 là giả nên làm đơn tố cáo T.

Tổng số tiền bị cáo Tống Văn T chiếm đoạt của các bị hại Đỗ Thị M1, Phạm Viết B, Nguyễn Trường Sơn T2, Trần Ngọc T3 là 1.600.000.000đồng.

Tại Kết luận giám định số 58/2019/GĐ-TL ngày 31/10/2019 và Kết luận giám định số 43/2020/GĐ-TL ngày 23/7/2020 của Phòng K3 Công an tỉnh B kết luận:

02 GCNQSDĐ Tống Văn T dùng để sang tên, tách thửa cho Tống Văn V và 04 GCNQSDĐ Thuyết mang thế chấp cho các bị hại Đỗ Thị M1, Phạm Viết B, Nguyễn Trường Sơn T2 và Trần Ngọc T3 để vay tiền là GCNQSDĐ giả.

Tại Bản cáo trạng số 18/CT-VKS-P1 ngày 01/10/2020 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước, có nội dung:

Truy tố bị cáo Tống Văn T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 và tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức; sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo điểm a, b khoản 3 Điều 341 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 44/2020/HS-ST ngày 18/11/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước, đã tuyên xử:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Tống Văn T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức; sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
  2. Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; các Điều 38, 50 và 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Tống Văn T 07 năm 06 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Áp dụng điểm a, b khoản 3 Điều 341; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 38, 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Tống Văn T 03 năm tù về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức; sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.

Áp dụng khoản 1 Điều 55 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, buộc bị cáo Tống Văn T phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 10 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam là ngày 13/01/2020.

Bản án sơ thẩm còn giải quyết các vấn đề về tang vật, án phí, trách nhiệm bồi thường dân sự và quyền kháng cáo theo luật định.

Sau khi xét xử sơ thẩm:

Ngày 01/12/2020, bị cáo Tống Văn T làm đơn kháng cáo, nêu lý do: Mức án sơ thẩm quá nặng, hoàn cảnh gia đình khó khăn, xin xem xét được giảm nhẹ mức án.

Tại Quyết định kháng nghị số 05/QĐ/VC3-V1 ngày 17/12/2020 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, có nội dung: Đề nghị phúc xử lại theo hướng hủy án sơ thẩm để giải quyết lại theo luật định.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh rút một phần kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao và đề nghị là không hủy đối với bản án sơ thẩm mà điều chỉnh để chuyển tội danh là tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Riêng đối với hành vi của tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” thì Viện kiểm sát đề nghị khi nào có đầy đủ căn cứ sẽ xử lý sau. Ngoài ra, Viện kiểm sát còn đề nghị chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo để giảm nhẹ một phần hình phạt vì bị cáo có các tình tiết mới phát sinh sau khi xét xử sơ thẩm.

Luật sư bào chữa cho bị cáo thì cho rằng bị cáo và gia đình đã khắc phục toàn bộ số hậu quả đã xảy ra. Gia đình bị cáo là gia đình có công cách mạng. Vợ bị cáo bỏ bị cáo hiện nay bị cáo có 3 con còn nhỏ cần nuôi dưỡng, bị cáo đang bị bệnh tâm thần nên bị hạn chế về mặt tinh thần. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức án cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án, thẩm tra các chứng cứ tại phiên tòa, nghe bị cáo trình bày, nghe Đại diện Viện kiểm sát và luật sư phát biểu quan điểm, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. [1] Về thủ tục kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo Tống Văn T và kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đều làm trong hạn luật định, nên thủ tục kháng cáo, kháng nghị hợp lệ.
  2. [2] Về nội dung giải quyết yêu cầu kháng cáo, kháng nghị:
    1. [2.1] Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa sơ thẩm và phiên tòa phúc thẩm, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản án sơ thẩm đã quy kết phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, phù hợp với các vật chứng đã thu thập được.

      Trên cơ sở đó, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định do muốn có tiền trả nợ để tiêu xài cá nhân, trong khoảng thời gian từ tháng 3/2019 đến tháng 8/2019, Tống Văn T đã dùng 4 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả mang đến thế chấp cho 4 người bị hại gồm: bà Đỗ Thị M1, ông Phạm Viết B, anh Nguyễn Trường Sơn T2 và anh Trần Ngọc T3, để các bị hại tin tưởng rồi cho T vay tiền. Sau khi vay được tiền và nhận tiền từ những người bị hại thì bị cáo T không trả nợ mà tắt điện thoại và cắt đứt liên lạc với bị hại.

      Tổng số tiền chiếm đoạt là 1.600.000.000đồng. Quá trình giải quyết vụ án thì gia đình bị cáo phải nộp lại toàn bộ số tiền cho phía bị hại.

    2. [2.2] Hành vi của bị cáo là dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tiền của bị hại đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, được pháp luật quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 và đủ yếu tố để cấu thành tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”, được pháp luật quy định tại điểm b khoản 3 Điều 341 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 như bản án sơ thẩm quy kết và có căn cứ.

      Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đến tình tiết tăng nặng cho bị cáo như phạm tội hai lần trở lên được pháp luật quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

      Ngoài ra, bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ như khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải. Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, gia đình bị cáo có người là người có công cách mạng, bà nội của bị cáo được truy tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, ngoại ruột của bị cáo thì được tặng Huân chương kháng chiến hạng Nhì, hiện nay gia đình bị cáo và bị cáo cũng đã khắc phục toàn bộ thiệt hại cho phía người bị hại và phía những người bị hại cũng có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

      Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và áp dụng các điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt đối với bị cáo mức án 7 năm 6 tháng tù, về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 3 năm tù về tội “Sử dụng các tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” là có căn cứ.

      Tại phiên tòa ngày 19/5/2021, bị cáo T có biểu hiện hạn chế về nhận thức, không trả lời được các câu hỏi của Hội đồng xét xử, Luật sư bào chữa cho bị cáo và ông Tống Văn T1 là cha của bị cáo cho rằng bị cáo bị bệnh tâm thần và đề nghị Tòa án trưng cầu giám định tâm thần đối với bị cáo.

      Ngày 15/10/2021, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Quyết định số 949/2021/QĐ-PT về việc trưng cầu giám định tâm thần đối với bị cáo Tống Văn T.

      Tại Kết luận Giám định pháp y tâm thần số 52 ngày 21/01/2022 của Viện Pháp y Tâm thần Trung ương B1, có nội dung: Tại thời điểm gây án đương sự bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Hiện nay, đương sự mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

      Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đã ban hành Quyết định bắt buộc chữa bệnh số 95/2022/QĐ-TA ngày 25/01/2022 đối với bị cáo Tống Văn T.

      Ngày 02/8/2023, Viện Pháp y Tâm thần Trung ương B1 có Thông báo số 527/TB-VPYTW, nội dung: Theo báo cáo của bác sĩ điều trị, tình trạng tâm thần của đối tượng Tống Văn T hiện nay đã ổn định, không cần thiết áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh nữa.

      Ngày 15/8/2023, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đã ban hành Quyết định trưng cầu giám định pháp y tâm thần sau thời gian bắt buộc chữa bệnh số 706/2023/QĐ-TA đối với bị cáo Tống Văn T.

      Ngày 26/9/2023, Viện Pháp y Tâm thần Trung ương B1 ban hành Kết luận số 706/KLBB-VPYTW, nội dung: Đương sự Tống Văn T bệnh tạm ổn để làm việc với cơ quan pháp luật.

      Xét, với diễn biến sự việc nêu trên, bị cáo có thêm một tình tiết giảm nhẹ, đó là bị cáo đã hạn chế về nhận thức hành vi trong quá trình phạm tội, nên cấp phúc thẩm có cơ sở xem xét cho bị cáo về tình tiết này.

    3. [2.3] Đối với tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức; Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” mà tòa sơ thẩm đã xét xử. Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đã có kháng nghị về vấn đề này, cho rằng bị cáo chỉ phạm một tội đối với một hành vi “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Riêng đối với hành vi “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” thì do chưa đủ dấu hiệu để xác định tội phạm nên khi nào có đầy đủ các tài liệu, chứng cứ để chứng minh tội phạm thì tiếp tục xử lý sau. Do đó, Viện kiểm sát đề nghị chỉ xử bị cáo về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” là phù hợp. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh cũng đề nghị xem xét giảm nhẹ mức án cho bị cáo.

      Hội đồng xét xử nhận thấy Tòa án cấp sơ thẩm đã xử gộp hai tội với mức án là 03 năm tù. Do đó, khi các hành vi thành một hành vi để xử một tội thì có cơ sở xem xét để giảm cho bị cáo một phần như đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao là phù hợp.

      Do bị cáo có nhiều tình tiết mới giảm nhẹ phát sinh ở cấp phúc thẩm nên có cơ sở chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bị cáo cũng như một phần kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, sửa bản án sơ thẩm về hình phạt cho bị cáo.

  3. [3] Về án phí hình sự phúc thẩm: Do chấp nhận một phần kháng cáo, nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo luật định.
  4. [4] Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật thi hành.

Bởi các lẽ trên;

Căn cứ Điều 355 Bộ Luật tố tụng Hình sự.

QUYẾT ĐỊNH

Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bị cáo Tống Văn T và chấp nhận một phần kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh. Sửa một phần bản án sơ thẩm.

Tuyên xử:

Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 50, Điều 54 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 03/2020/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Xử phạt Tống Văn T 04 năm 06 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 341; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt Tống Văn T 02 năm tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.

Áp dụng khoản 1 Điều 55 của Bộ luật Hình sự, buộc bị cáo T phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 06 năm 06 tháng tù. Thời hạn tính từ ngày 13/01/2020.

  1. Các phần quy định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, đã có hiệu lực pháp luật thi hành.
  2. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao.
  • - VKSNDCC tại Tp. HCM.
  • - VKSND tỉnh Bình Phước.
  • - TAND tỉnh Bình Phước.
  • - Công an tỉnh Bình Phước.
  • - Trại TG Công an tỉnh Bình Phước.
  • - Cục THADS tỉnh Bình Phước.
  • - Những người tham gia tố tụng.
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Phước.
  • - Lưu VP; HS vụ án, TK: NTV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

LÊ HOÀNG TẤN

10

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 444/2024/HS-PT ngày 06/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự phúc thẩm (tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức)

  • Số bản án: 444/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự Phúc thẩm (Tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 06/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Sửa bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger