Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRẦN VĂN THỜI

TỈNH CÀ MAU

Bản án số: 443/2024/HNGĐ-ST

Ngày 08-10-2024

V/v tranh chấp xin ly hôn.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Ngô Văn Đen.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Việt Thắng;

2. Ông Văn Công Trọn.

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Trúc Linh – Thư ký tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời.

Ngày 08 tháng 10 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 526/2024/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 08 năm 2024, về việc “Tranh chấp xin ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 406/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Kim X Sinh năm: 1998 (có mặt).

Địa chỉ: Ấp M, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau

- Bị đơn: Ông Nguyễn Hải Đ. Sinh năm: 1991 (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp M, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các tài liệu trong quá trình tố tụng, bà Nguyễn Kim X1 trình bày:

Về hôn nhân: Bà X và ông Đ kết hôn với nhau vào năm 2017, có đăng ký kết hôn tại UBND xã K 2, việc kết hôn là tự nguyện. Nguyên nhân dẫn đến ly hôn được bà xác định là trong thời gian chung sống vợ chồng không hòa hợp với nhau, quan điểm sống khác nhau nên thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, không tự hàn gắn được, hiện nay ông bà đã sống ly thân. Xét thấy hôn nhân không hạnh phúc, bà X xác định tình cảm vợ chồng không thể tiếp tục. Nay bà X yêu cầu được ly hôn với ông Đ.

Về con chung: Có 01 người con chung tên Nguyễn Đăng K, sinh ngày 20/05/2014, hiện tại cháu đang chung sống cùng bà X, khi ly hôn bà yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu K1 yêu cầu ông Đ cấp D nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà X xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn Nguyễn Hải Đ đúng theo quy định pháp luật nhưng ông Đ không có văn bản thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn và cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Bị đơn ông Nguyễn Hải Đ có nơi cư trú tại Ấp M, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bà X khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Đ nên quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án được xác định là "Tranh chấp xin ly hôn" theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Ông Đ đã được Tòa án tống đạt hợp lệ để tham gia xét xử nhưng vẫn vắng mặt, căn cứ theo Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Tòa án xét xử vắng mặt ông Đ theo quy định của pháp luật.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Ông bà tự nguyện xác lập quan hệ hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại UBND xã K2 vào năm 2017 đúng theo quy định tại Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa ông bà được pháp luật công nhận là hôn nhân hợp pháp.

Xét nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cãi, gia đình hai bên có hàn gắn nhưng không thành, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, hiện ông bà đã ly thân nhau. Bà X xác định không còn tình cảm vợ chồng với ông Đ và thể hiện sự quyết tâm mong muốn được ly hôn. Trường hợp nếu cho các bên tiếp tục chung sống sẽ không mang lại hạnh phúc, do đó Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu của bà X được ly hôn với ông Đ.

[3] Về con chung: Có 01 người con chung tên Nguyễn Đăng K, sinh ngày 20/05/2014, hiện tại cháu đang chung sống cùng bà X, khi ly hôn bà yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu K1 yêu cầu ông Đ cấp D nuôi con.

Cháu Nguyễn Đăng K hiện tại đang chung sống cùng bà X, từ trước đến nay đều sống tại địa phương, cháu khôi có nguyện vọng sống cùng bà X2 cha mẹ ly hôn, điều kiện hoàn cảnh sống của cháu tốt. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét nguyện vọng, điều kiện hoàn cảnh sống của cháu K nên giao cháu cho bà X nuôi dưỡng đến khi trưởng thành là phù hợp và tốt nhất với cháu.

Ông Đ không phải cấp dưỡng nuôi con, tuy nhiên quá trình nuôi dưỡng chăm sóc con chung có khó khăn, vất vả thì bà X có quyền khởi kiện yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con chung.

Ông Đ không trực tiếp nuôi con chung có quyền thăm nom con chung, không ai có quyền cản trở việc thăm nom con chung của ông Đ và ông Đ phải tôn trọng quyền được sống cùng bà X của cháu K.

[4] Về tài sản chung, nợ chung: Bà X xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[5] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bà X phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình; Ông Đ không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 và khoản 3 Điều 68, khoản 4 Điều 147, khoản 1 và khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 238, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 9, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 116, 117 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Kim X1 về việc yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Hải Đ.
  2. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Đăng K, sinh ngày 20/5/2014 cho bà Nguyễn Kim X1 trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành. Ông Nguyễn Hải Đ không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở, ông Đ phải tôn trọng quyền của cháu K được sống cùng bà X
  3. Về án phí: Bà Nguyễn Kim X1 phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình. Bà có dự nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0005499 ngày 14/08/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, nay được chuyển thu án phí.

Án xử sơ thẩm công khai, nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau;
  • - Viện kiểm sát nhân dân H. Trần Văn Thời;
  • - Chi cục THADS H. Trần Văn Thời;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Văn Đen

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 443/2024/HNGĐ-ST ngày 08/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp xin ly hôn

  • Số bản án: 443/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp xin ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Kim X xin ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger