Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH

PHỐ HỒ CHÍ MINH

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 443/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 27/5/2025

V/v Tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Hiền.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Danh Cư;
  2. Bà Thái Thục Hiền.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Phương – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Tp. Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Nga - Kiểm sát viên.

Ngày 27/5/2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8, Tp . đã xét xử công khai vụ án hôn nhân sơ thẩm thụ lý số: 905/2024/TLST-HNGĐ ngày 09/12/2024 về việc “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 118/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 25/4/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 92/2025/QĐST-DS ngày 15/5/2025 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Ông Trương Quốc H, sinh năm 1974;
  • Địa chỉ: Số A đường L, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
  • - Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Út N, sinh năm 1968;
  • Địa chỉ: Số A đường H, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.

Nguyên đơn có mặt, Bị đơn vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo Đơn khởi kiện ly hôn đề ngày 06/11/2024, bản khai và trong quá trình chuẩn bị xét xử, Nguyên đơn là ông Trương Quốc H trình bày:

Ông Trương Quốc H và bà Nguyễn Thị Út N tự nguyện chung sống và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận kết hôn số 55 ngày 11/4/2005. Thời gian đầu hai vợ chồng có cuộc sống hôn nhân hạnh phúc nhưng sau đó bắt đầu phát sinh mâu thuẫn khiến cả hai thường xuyên cãi vả, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống. Ông và bà N đã ly thân từ năm 2017 cho đến nay, không ai còn quan tâm tới ai. Nay nhận thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông đề nghị Tòa án giải quyết được ly hôn với bà N để ổn định cuộc sống.

  • - Về con chung: Không có nên không yêu cầu Toà án giải quyết
  • - Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

* Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa hôm nay, Tòa án đã nhiều lần triệu tập nhưng Bị đơn vắng mặt không có lý do, không trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn và không trình bày ý kiến đối với các tài liệu, chứng cứ Tòa án công bố.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Tp . phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:

Việc chấp hành pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Tòa án xác định quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết, thời hiệu, thực hiện thủ tục cấp tống đạt các văn bản tố tụng, thu thập chứng cứ, mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát, thành phần tham gia xét xử được thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai mà không có lý do mặc dù đã được tống đạt hợp lệ. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự về phiên tòa sơ thẩm. Viện kiểm sát nhân dân Quận 8 không có kiến nghị gì về tố tụng.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của ông Trương Quốc H được ly hôn với bà Nguyễn Thị Út N. Về con chung, tài sản chung, nợ chung, ông H khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về pháp luật tố tụng:

[1.1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án của Tòa án:

Nguyên đơn ông Trương Quốc H có đơn khởi kiện yêu cầu được ly hôn Bị đơn bà Nguyễn Thị Út N, do vậy xác định đây là tranh chấp hôn nhân gia đình về ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Theo kết quả xác minh của Công an P, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh thì Bị đơn có hộ khẩu thường trú và thực tế cư trú tại địa chỉ A đường H, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Về việc giải quyết vắng mặt đối với đương sự:

Toà án tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng và triệu tập Bị đơn tham gia phiên toà đến lần thứ hai nhưng Bị đơn vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về pháp luật nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân:

Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 55 do Ủy ban nhân dân dân Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 11/4/2005; Căn cứ lời khai của ông H về quá trình tiến đến hôn nhân giữa ông H và bà N là tự nguyện và có đăng ký kết hôn nên có cơ sở xác định đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

Xét yêu cầu của Nguyên đơn – ông Trương Quốc H về việc yêu cầu ly hôn với bà Nguyễn Thị Út N, Hội đồng xét xử nhận thấy: Theo lời trình bày của ông H, trong quá trình chung sống ông và bà N thường phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cải vã. Ông và bà N đã ly thân từ năm 2017 cho đến nay, không còn quan tâm đến nhau. Nhận thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được được nên ông yêu cầu được ly hôn với bà N để ổn định cuộc sống.

Xét cuộc sống chung giữa Nguyên đơn và Bị đơn không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được, không có khả năng đoàn tụ, tình trạng mâu thuẫn vợ chồng là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài vì thực tế cả hai đã ly thâm không còn sống chung với nhau từ năm 2017 cho đến nay nên khả năng hàn gắn của hai bên là không có, vì vậy yêu cầu ly hôn của Nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình.

[2.2] Về con chung, tài sản chung, nợ chung:

Nguyên đơn khai không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[4] Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • - Khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 57 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
  • - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • - Điều 6; Điều 7; Điều 9; Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn – ông Trương Quốc H:
    • - Về quan hệ hôn nhân: Ông Trương Quốc H, sinh năm 1974 được ly hôn với bà Nguyễn Thị Út N, sinh năm 1968.
    • Giấy chứng nhận kết hôn số 55 do Ủy ban nhân dân dân Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 11/4/2005 không còn giá trị pháp lý khi bản án có hiệu lực pháp luật.
    • - Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn khai không có, không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét.
  2. Về án phí hôn nhân sơ thẩm không có giá ngạch:
  3. Ông Trương Quốc H phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được cấn trừ vào tiền tạm ứng án phí ông H đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0030850 ngày 25/11/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông H đã nộp đủ án phí hôn nhân sơ thẩm.

  4. Về quyền kháng cáo:
  5. Ông Trương Quốc H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bà Nguyễn Thị Út N vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định.

  6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./ .
HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Thu Hiền

Nơi nhận:

  • - VKSND Q8;
  • - VKSND TP. HCM;
  • - TAND TP. HCM;
  • - Chi cục THADS Q8;
  • - UBND P.14, Q8, Tp. HCM;
  • - Đương sự;
  • - Lưu (HS, VP).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà

Phạm Thị Thu Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 443/2025/HNGĐ-ST ngày 27/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 443/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ông Trương Quốc Hoàng tranh chấp ly hôn với bà Nguyễn Thị Út Nhì
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger