TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 443/2024/HSPT Ngày: 16/9/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Thanh Phượng
Các Thẩm phán: Bà Bùi Lan Hương
Ông Trần Thanh Phong
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Trang – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Trìu A Sám – Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai tiến hành xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 294/2024/TLPT-HS ngày 11 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo Phạm Vương L, do có kháng cáo của bị cáo L đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 128/2024/HS-ST ngày 31/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 422/2024/QĐ-PT ngày 06/9/2024.
Bị cáo kháng cáo: Phạm Vương L, sinh năm 1996, tại tỉnh Kiên GiangHoồ Chí NMinhHo62 C; Nơi cư trú: Ấp H, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang. Chỗ ở hiện nay: Khu phố M, thị trấn H, huyện N, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 04/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn M, sinh năm 1963 và bà Phạm Thị C, sinh năm 1976; bị cáo sống chung như vợ chồng với chị Nguyễn Lâm Thị Bích H, sinh năm 1991 và 01 con sinh năm 2016.
Tiền án: Ngày 29/12/2016, bị Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch xử 08 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 09/5/2022. Tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt giữ từ ngày 19/12/2023 chuyển tạm giam cho đến nay (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phạm Vương L là đối tượng sử dụng trái phép ma túy, vào khoảng 07 giờ ngày 19/12/2023, L đi bộ đến khu phố M, thị trấn H, huyện N mua của một người đàn ông tên T (không rõ nhân thân, lai lịch) 01 gói ma túy với giá 200.000 đồng cất giấu trong túi áo khoác rồi đi về phòng trọ của bạn L là Nguyễn Văn T1 (sinh năm 1997), tại khu phố P, thị trấn H, huyện N để chơi. Đến nơi, thấy T1 đang ngủ trong phòng trọ nên L lên gác lửng phòng trọ ngồi trên nệm chơi điện tử. Đến khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, Công an thị trấn H, huyện N kiểm tra hành chính khu phòng trọ nơi T1 thuê. L sợ Công an kiểm tra phát hiện đang tàng trữ ma túy nên lấy gói ma túy giấu dưới nệm. Khi Công an thị trấn H vào phòng của T1 kiểm tra thì phát hiện dưới nệm nơi L ngồi đang cất giấu 01 gói ma túy. Công an thị trấn H lập biên bản phạm tội quả tang và chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra để điều tra xử lý theo thẩm quyền.
Tại Kết luận giám định số 2832/KL-KTHS ngày 26/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận: “Mẫu tinh thể rắn màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,9210 gam, loại Methamphetamine”
Về tang vật thu giữ: 01 gói nylon dạng túi zip màu trắng, bên trong chứa tinh thể rắn màu trắng.
Quá trình điều tra bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 128 /2024/HS-ST ngày 31/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch quyết định:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Phạm Vương L 03 (ba) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 19/12/2023.
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên xử lý vật chứng, về án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo.
Ngày 03/6/2024, bị cáo Phạm Vương L có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm. Lý do: Xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa, bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Bị cáo không nộp chứng cứ mới.
Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai:
Xét đơn kháng cáo của bị cáo phù hợp về nội dung, hình thức và trong thời hạn nên xem xét giải quyết. Về nội dung: Cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Phạm Vương L tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS là đúng người, đúng tội, tương xứng với tội phạm bị cáo gây ra. Cấp sơ thẩm cũng đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo và xử bị cáo mức án 03 năm tù là có căn cứ. Tại cấp
phúc thẩm, bị cáo không giao nộp chứng cứ mới. Xét thấy mức án của cấp sơ thẩm dành cho bị cáo là có căn cứ, phù hợp với quy định pháp luật nên đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo Phạm Vương L được làm trong thời hạn phù hợp quy định tại các Điều 332, 333 Bộ luật tố tụng hình sự nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Phạm Vương L khai nhận hành vi phạm tội phù hợp như bản án sơ thẩm đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa là thống nhất, phù hợp với nhau và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Phạm Vương L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[3] Cấp sơ thẩm đã xem xét bị cáo có 01 tiền án về tội Mua bán trái phép chất ma túy chưa được xoá án tích nay lại tiếp tục phạm tội nên thuộc trường hợp Tái phạm (quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự) và có tình tiết giảm nhẹ: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có con nhỏ (quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự) nên mức án 03 năm tù của cấp sơ thẩm dành cho bị cáo là có căn cứ và phù hợp.
[4] Tại cấp phúc thẩm, bị cáo L giữ nguyên kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, bị cáo không giao nộp tài liệu, chứng cứ gì mới nên HĐXX không có căn cứ để xem xét theo yêu cầu kháng cáo của bị cáo.
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên HĐXX không xem xét.
[6] Đối với ý kiến của Kiểm sát viên phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[7] Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo phải chịu án phí là 200.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Vương L. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 128/2024/HS-ST ngày 31/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai.
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Phạm Vương L 03 (ba) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 19/12/2023.
- Về án phí hình sự:
- - Án phí sơ thẩm: Bị cáo chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
- - Án phí phúc thẩm: Bị cáo chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm 128/2024/HS-ST ngày 31/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Thị Thanh Phượng |
Bản án số 443/2024/HSPT ngày 16/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về phúc thẩm hình sự
- Số bản án: 443/2024/HSPT
- Quan hệ pháp luật: Phúc thẩm hình sự
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 16/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Vương L - Tàng trữ trái phép chất ma tuý
