|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 443/2024/HS-ST Ngày: 23-8-2024. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA
TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Anh Đức.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Tam.
Bà Huỳnh Thị Kim Kiên.
Thư ký phiên tòa: Ông Trần Trọng Duy – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Mai Văn Hoàng - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 558/2023/TLST-HS ngày 03 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 677/2023/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 11 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 1273/2023/HSST-QĐ ngày 23 tháng 11 năm 2023; Thông báo thay đổi lịch xét xử số 14/2024/HSST-TB ngày 17 tháng 01 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 132/2024/HSST-QĐ ngày 16 tháng 02 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 440/2024/HSST-QĐ ngày 15 tháng 5 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa 646/2024/HSST-QĐ ngày 15 tháng 7 năm 2024 và Thông báo thay đổi lịch xét xử số 159/2024/HSST-TB ngày 14 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Chu Hữu D, sinh ngày 06 tháng 4 năm 1972, tại Đồng Nai; Nơi thường trú: 350/7 khu phố G, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Nơi ở hiện tại: khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 12/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Con ông Chu Trọng H, sinh năm 1917 (đã chết) và bà Phạm Thị T, sinh năm 1920 (đã chết); Gia đình bị cáo có 07 anh, chị em, bị cáo là con thứ bảy trong gia đình; có vợ tên Lê Thị Lưu T1, sinh năm 1973 (đã ly hôn) và có 01 con sinh năm 1999;
Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt).
2. Trần Hữu G, sinh ngày 28 tháng 8 năm 1988, tại Phú Yên; Nơi thường trú: thôn C, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên; Nơi ở hiện tại: khu phố F, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 09/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Trần L, sinh năm 1960 (đã chết) và bà Trần Thị Xuân C, sinh năm 1965; Gia đình bị cáo có 03 anh, em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; có vợ tên Lê Thị N, sinh năm 1986 và chưa có con;
Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Anh Nguyễn Thanh X, sinh năm 1983; Nơi cư trú: 9 L, khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (Vắng mặt).
Anh Nguyễn Thành C1, sinh năm 1993; Nơi cư trú: 9 L, khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Chu Hữu D kinh doanh nước uống. Trần Hữu G và Cao Hoàng L1 (sinh năm 2004, ngụ tại xã N, huyện H, tỉnh Bạc Liêu) là nhân viên chở nước thuê cho D.
Vào tháng 7/2021, khi đang bùng phát dịch bệnh Covid 19. Thực hiện quy định về phòng chống dịch để được đi qua chốt kiểm dịch, người dân phải có giấy xét nghiệm âm tính với covid 19. Do không muốn nhân viên phải đi xét nghiệm để tiết kiệm chi phí, Chu Hữu D nảy sinh ý định làm giả giấy “Kết quả xét nghiệm Sars-Cov2” để giao cho nhân viên đi giao hàng.
Thực hiện ý định trên, ngày 14/8/2021, D mượn giấy "Kết quả xét nghiệm Sars-Cov2" của Trần Hữu G (do G được Bệnh viện Đ1 cấp ngày 04/7/2021). D scan thành tập tin định dạng PDF. Sau đó, tại nhà của D ở khu phố G, phường T, thành phố B, D tải tập tin định dạng PDF trên lưu trữ vào máy vi tính của D, D sử dụng phần mềm Corel Draw X7 để chỉnh sửa ngày tháng năm thành “14/08/2021”. Tiếp đó, D sao chép thêm một tập tin định dạng PDF rồi tiến hành chỉnh sửa nội dung thành “Cao Hoàng L1, tuổi: 20/04/2004, số điện thoại: 0396.260.xxx, Số CMND: [...]; phòng khám 3” và chỉnh sửa ngày tháng năm thành “10/08/2021”. Sau khi hoàn thiện việc chỉnh sửa trên, D in màu ra 02 giấy "Kết quả xét nghiệm Sars-Cov2" âm tính mang tên Trần Hữu G và Cao Hoàng L1.
Khoảng 08 giờ ngày 17/8/2021, D đưa 02 giấy "Kết quả xét nghiệm Sars-Cov2" giả trên cho Trần Hữu G để G đi giao nước cho D. Khi G điều khiển xe ô tô chở nước đi giao cho khách đến đường V thuộc phường T, thành phố B thì bị Tổ tuần tra phòng chống dịch bệnh Covid 19 thực hiện nhiệm vụ trên tuyến đường V kiểm tra, G đưa ra 01 giấy “Kết quả xét nghiệm Sars Cov2” giả mang tên G để trình báo thì bị Tổ tuần tra phòng chống dịch phát hiện nên báo Công an phường T, thành phố B lập hồ sơ và chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B theo thẩm quyền.
Tại Cơ quan điều tra, Chu Hữu D và Trần Hữu G khai nhận hành vi phạm tội như trên.
Vật chứng thu giữ:
- - 02 giấy “Kết quả xét nghiệm Sars Cov2”.
- - 01 đầu CPU máy tính màu trắng kích thước 40cmx50cm nhãn hiệu Aero Cool.
Tại Bản kết luận giám định số 1828/GĐ-PC09 ngày 30/9/2021 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận:
- Hình dấu tròn Công ty TNHH Bệnh viện Đ - TP . - T.Đồng Nai trên các tài liệu nêu ở phần mẫu cần giám định (ký hiệu A1, A2) so với hình dấu tròn Công ty TNHH Bệnh viện Đ - TP . – T.Đồng Nai trên tài liệu nêu ở phần mẫu so sánh (ký hiệu M) không phải do cùng một con dấu đóng ra.
- Chữ ký mang tên Nguyễn Thế T2 trên các tài liệu nêu ở phần mẫu cần giám định (ký hiệu A1, A2) so với chữ ký mang tên BS CKII Nguyễn Thế T2 trên tài liệu nêu ở phần mẫu so sánh (ký hiệu M) không phải do cùng một người ký ra.
- Hình dấu tròn Công ty TNHH Bệnh viện Đ - TP . - T.Đồng Nai và chữ ký mang tên Nguyễn Thế T2 trên tài liệu nêu ở phần mẫu cần giám định (ký hiệu Al, A2) đều được tạo ra bằng phương pháp in màu.
Quá trình điều tra:
- Chu Hữu D khai: D đem giấy xét nghiệm Sars-Cov2 bản gốc của Trần Hữu G đến tiệm photocoppy “Công Thành Đạt” (do ông Nguyễn Thành C1 làm chủ, Nguyễn Thanh X làm quản lý) ở khu phố D, phường T, thành phố B, để nhờ scan giấy trên thành tập tin định dạng PDF, nhờ gửi qua zalo cho D. D chỉnh sửa thời gian, tên và đến tiệm phô tô Công Thành Đ nhờ in màu. Tuy nhiên, C1 và X không thừa nhận làm file và in màu giấy "Kết quả xét nghiệm Sars-Cov2" cho Chu Hữu D. Kiểm tra máy tính và thông tin trên zalo của C1 và X không phát hiện các file trên.
- Trần Hữu G khai: Gian nhận của D 02 giấy "Kết quả xét nghiệm Sars-Cov2" giả. Sau đó, G điều khiển xe ô tô chở Cao Hoàng L1 đi giao nước cho D. Lưỡng không biết G sử dụng giấy xét nhiệm covid giả. Khi G điều khiển xe đến chốt kiểm soát dịch bệnh covid 19 thì bị kiểm tra, G đưa ra 01 giấy Kết quả xét nghiệm Sars-Cov2 mang tên G thì bị phát hiện giấy giả nên mời G và L1 về Công an phường T làm việc. Tại Công an phường T, G vào xe ô tô lấy thêm 01 giấy "Kết quả xét nghiệm Sars-Cov2" giả mang tên L1 giao cho Công an phường T.
Tại phiên tòa, bị cáo Chu Hữu D thừa nhận hành vi làm giả 02 giấy “Kết quả xét nghiệm Sars Cov2” và giao cho Trần Hữu G 01 giấy để sử dụng thì bị phát hiện. Quá trình điều tra, truy tố, bị cáo Chu Hữu D, Trần Hữu G không có ý kiến khiếu nại đối với các quyết định, hành vi của cơ quan, người tiến hành tố tụng cũng như Bản kết luận giám định số 1828/GĐ-PC09 ngày 30/9/2021 của Phòng K Công an tỉnh Đ.
Bản cáo trạng số 548 /CT-VKSBH ngày 19/9/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa truy tố bị cáo Chu Hữu D về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 341 Bộ luật Hình sự và bị cáo Trần Hữu G tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự (được sửa đổi, bổ sung 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận:
Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo Chu Hữu D thừa nhận hành vi làm giả 02 giấy “Kết quả xét nghiệm Sars Cov2” và giao cho Trần Hữu G 01 giấy để sử dụng thì bị phát hiện
Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Chu Hữu D về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” và bị cáo Trần Hữu G tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 341; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung 2017);
- Xử phạt: Bị cáo Chu Hữu D từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù đến 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách.
- Áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung 2017);
- Xử phạt: Bị cáo Trần Hữu G từ 08 (tám) tháng đến 10 (mười) tháng cải tại không giam giữ.
- Về xử lý vật chứng: Tịch thu xung vào Ngân sách nhà nước 01 đầu CPU máy tính màu trắng kích thước 40cm x 50cm nhãn hiệu Aero Cool của Chu Hữu D sử dụng vào việc phạm tội.
- Về án phí: Buộc các bị cáo chịu án phí theo quy định pháp luật.
Bị cáo Chu Hữu D nói lời nói sau cùng: Bị cáo thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhưng do hoàn cảnh khó khăn và chi phí xét nghiệm quá cao nên bị cáo mới nảy sinh ý định chỉnh sửa ngày trong giấy xét nghiệm để đi giao nước trong vùng phong tỏa. Bản thân bị cáo rất hối hận về hành vi của mình nên mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng hình phạt nhẹ nhất để bị cáo có cơ hội làm lại cuộc đời.
Bị cáo Trần Hữu G nói lời nói sau cùng: Bị cáo thấy hành vi của mình là trái pháp luật, nhưng do bị cáo là người làm thuê cho anh D nên khi biết giấy xét nghiệm giả nhưng vì kiếm sống trong thời gian dịch bệnh nên bị cáo vẫn đồng ý sử dụng. Bị cáo rất hối hận về hành vi của mình, bị cáo mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo có điều kiện trở về chăm sóc gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Trên cơ sở tài liệu chứng cứ và lời khai của các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đủ cơ sở xác định:
Ngày 14/8/2021, tại khu phố G, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, Chu Hữu D có hành vi sử dụng máy tính scan giấy "Kết quả xét nghiệm Sars-Cov2" đã hết hạn sử dụng, sau đó chỉnh sửa lại ngày, tháng rồi đưa cho Trần Hữu G sử dụng khi đi qua chốt kiểm soát dịch covid.
Khoảng 08 giờ ngày 17/8/2021, Trần Hữu G có hành vi sử dụng 02 giấy "Kết quả xét nghiệm Sars-Cov2" âm tính do Chu Hữu D đưa để đi qua chốt kiểm soát dịch covid trên đường V thuộc phường T, thành phố B thì bị lực lượng kiểm soát chốt kiểm tra, phát hiện.
[3] Tại Bản kết luận giám định số 1828/GĐ-PC09 ngày 30/9/2021 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận:
- Hình dấu tròn Công ty TNHH B – T. Đ trên các tài liệu nêu ở phần mẫu cần giám định (ký hiệu A1, A2) so với hình dấu tròn Công ty TNHH Bệnh viện Đ - TP . – T.Đồng Nai trên tài liệu nêu ở phần mẫu so sánh (ký hiệu M) không phải do cùng một con dấu đóng ra.
- Chữ ký mang tên Nguyễn Thế T2 trên các tài liệu nêu ở phần mẫu cần giám định (ký hiệu A1, A2) so với chữ ký mang tên BS CKII Nguyễn Thế T2 trên tài liệu nêu ở phần mẫu so sánh (ký hiệu M) không phải do cùng một người ký ra.
- Hình dấu tròn Công ty TNHH Bệnh viện Đ - TP . - T.Đồng Nai và chữ ký mang tên Nguyễn Thế T2 trên tài liệu nêu ở phần mẫu cần giám định (ký hiệu Al, A2) đều được tạo ra bằng phương pháp in màu.
[4] Do đó, hành vi của Chu Hữu D đã yếu tố cấu thành tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” với tình tiết định khung là “Làm từ 02 đến 05 con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 341 Bộ luật Hình sự. Còn hành vi sử dụng giấy tờ giả của bị cáo Trần Hữu G đã phạm vào tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[5] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm hại đến hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước về con dấu, tài liệu. Mặc dù các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi làm giả và sử dụng giấy tờ giả của cơ quan, tổ chức là vi phạm pháp luật nhưng vì phục vụ nhu cầu cá nhân mà các bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của các bị cáo còn gây tâm lý bất an trong nhân dân và ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Do đó, cần có mức hình phạt thật nghiêm để cải tạo, răn đe đối với các bị cáo cũng như phòng ngừa tội phạm nói chung.
[6] Về nhân thân: Bị cáo Chu Hữu D, Trần Hữu G có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
[7] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[8] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, các bị cáo thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo Chu Hữu D thì có hoàn cảnh khó khăn được chính quyền địa phương xác nhận, bản thân bị thoái hoát cột sống lưng là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; còn bị cáo Trần Hữu G phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có hoàn cảnh khó khăn quy định tại điểm i khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Vì vậy, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.
Xét thấy các bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; chấp hành đầy đủ chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú; có nhiều tình tiết giảm nhẹ; có nơi cư trú rõ ràng; bị cáo G thì phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, còn bị cáo D có hoàn cảnh khó khăn (có xác nhận của chính quyền địa phương). Đồng thời, xem xét nguyên nhân, hoàn cảnh phạm tội của các bị cáo là trong thời điểm dịch bệnh Covid 19 đang diễn ra, cuộc sống người dân khó khăn, việc đi lại bị hạn chế, nên vì để mưu sinh, giảm chi phí xét nghiệm quá cao (chi phí xét nghiệm từ 300.000 đồng – 700.000 đồng có giá trị sử dụng trong 03 ngày) và để vận chuyển nước uống cho người dân trong vùng bị phong tỏa mà các bị cáo nhất thời phạm tội. Do đó không cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cần áp dụng thêm Điều 65 của Bộ luật Hình sự và Nghị quyết số: 02/VBHN-TANDTC ngày 07 tháng 9 năm 2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao xử phạt bị cáo D hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách và xử phạt bị cáo G hình phạt cải tạo không giam giữ, đồng thời miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo G cũng phù hợp với quy định pháp luật và thể hiện chính sách khoan hồng và nhân đạo của pháp luật.
[09] Về biện pháp tư pháp: Cần tuyên tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 01 đầu CPU máy tính màu trắng kích thước 40cm x 50cm nhãn hiệu Aero Cool của Chu Hữu D sử dụng vào việc phạm tội.
[10] Các vấn đề khác:
Đối với Nguyễn Thành C1 (sinh năm 1992) và Nguyễn Thanh X (sinh năm 1983) cùng ngụ tại khu phố D, phường T, thành phố B, không thừa nhận làm file và in màu giấy "Kết quả xét nghiệm Sars-Cov2" cho Chu Hữu D. Ngoài lời khai của Chu Hữu D, không có chứng cứ khác chứng minh hành vi của C1 và X đồng phạm với D. Do đó, không đủ căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Thành C1 và Nguyễn Thanh X về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” quy định tại Điều 341 Bộ luật Hình sự.
Đối với Cao Hoàng L1 làm phụ xe cho Trần Hữu G đi giao nước cho Chu Hữu D, L1 không biết hành vi làm giả và sử dụng giấy tờ giả của D và G, sau khi xảy ra vụ việc, L1 đã đi khỏi địa phương. Do đó, đề nghị Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra làm rõ xử lý.
[11] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa truy tố bị cáo Chu Hữu D về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 341 Bộ luật Hình sự và bị cáo Trần Hữu G tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[12] Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Chu Hữu D phạm tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” và bị cáo Trần Hữu G phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức".
- - Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 341; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung 2017).
- Xử phạt: Bị cáo Chu Hữu D 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Giao bị cáo Chu Hữu D cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
- Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 87 và khoản 1 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.
- - Áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung 2017).
- Xử phạt: Bị cáo Trần Hữu G 10 (mười) tháng cải tạo không giam giữ. Thời điểm bắt đầu chấp hành án được tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi bị cáo cư trú nhận được quyết định thi hành án.
- Miễn việc khấu trừ thu nhập cho bị cáo Trần Hữu G. Giao bị cáo Trần Hữu G cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân phường T, thành phố B trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo.
- Trong trường hợp người chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo Điều 100 Luật Thi hành án hình sự.
2. Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 01 đầu CPU máy tính màu trắng kích thước 40cm x 50cm nhãn hiệu Aero Cool của Chu Hữu D sử dụng vào việc phạm tội.
(Số vật chứng đang lưu giữa tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 21/11/2023).
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Luật phí và lệ phí năm 2015; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Chu Hữu D, Trần Hữu G mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Chu Hữu D, Trần Hữu G được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Thanh X, anh Nguyễn Thành C1 được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Anh Đức |
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Bản án số 443/2024/HS-ST ngày 23/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI về làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức và sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
- Số bản án: 443/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức và Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử phạt Chu Hữu D 02 năm 06 tháng tù về tội "Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức" nhưng cho hưởng án treo; bị cáo Trần Hữu G 10 tháng cải tão không giam giữ về tội "Sử dụng con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức".
