|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 443/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 30-9- 2024
“V/v tranh chấp
hôn nhân và gia đình”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Thái Thị Hồng Vân
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Mai Xuân Thường
Ông Hồ Bá Võ
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Bằng Giang, Kiểm sát viên
Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An mở phiên tòa để xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 153/2024/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 5 năm 2024, về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 437/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1980; Địa chỉ khi xuất cảnh: Xóm T, xã T, huyện N, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Tạ Quang H1, sinh năm 1974.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Thiện N và bà Bùi Thị D; Địa chỉ: Xóm F, xã K, huyện N, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
Địa chỉ hiện nay: BLK 502 H : #10/606/Singapore.
Địa chỉ: Xóm T, xã T, huyện N, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, trình bày tại bản tự khai nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày: Chị và anh Tạ Quang H1 kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 18/7/1998, tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện N, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn hai vợ chồng sống hạnh phúc được 10 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là quan điểm sống và tính tình không phù hợp, anh H1 thường xuyên rượu chè dẫn tới mâu thuẫn ngày càng gay gắt. Năm 2008, chị H đi xuất khẩu lao động tại Singapore. Từ đó đến nay hai vợ chồng không liên lạc với nhau. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị H làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An giải quyết cho chị được ly hôn anh Tạ Quang H1.
Về con chung: Vợ chồng chị H và anh H1 có 02 con chung là Tạ Thị H2, sinh ngày 26 tháng 4 năm 1996; Tạ Thị Minh H3, sinh ngày 24 tháng 10 năm 2010. Hiện cháu H2 đã trên 18 tuổi, trưởng thành, không yêu cầu Toà án giải quyết. Cháu H3 đang được ông bà ngoại là ông Nguyễn Thiện N và bà Bùi Thị D chăm sóc nuôi dưỡng. Ly hôn chị H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung và không yêu cầu anh H1 cấp dưỡng.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chị Nguyễn Thị H đang cư trú và làm việc tại Singapore. Ngày 04/4/2024 chị về Việt Nam để làm thủ tục ly hôn và có uỷ quyền cho bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1968; địa chỉ: Xóm I, xã K, huyện N, tỉnh Nghệ An giao nhận các văn bản của Tòa án. Đồng thời, chị đề nghị Tòa án xét xử vụ án vắng mặt chị.
Tại biên bản lấy lời khai anh Tạ Quang H1 trình bày: Về thời gian kết hôn và điều kiện kết hôn đúng như chị Nguyễn Thị H tự khai. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do chị H đi xuất khẩu lao động không quan tâm đến gia đình, cắt đứt mọi liên lạc anh H1. Nay chị H làm đơn yêu cầu được ly hôn thì anh đồng ý ly hôn.
Về con chung: Vợ chồng chị H và anh H1 có 02 con chung là Tạ Thị H2, sinh ngày 26 tháng 4 năm 1996; Tạ Thị Minh H3, sinh ngày 24 tháng 10 năm 2010. Hiện cháu H2 đã trên 18 tuổi, trưởng thành, không yêu cầu Toà án giải quyết. Cháu H3 đang được ông bà ngoại là ông Nguyễn Thiện N và bà Bùi Thị D chăm sóc nuôi dưỡng. Ly hôn anh có nguyện vọng giao con chung cho chị H và ông bà ngoại tiếp tục nuôi dưỡng.
Về tài sản chung, nợ chung: Anh H1 không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Thiện N và bà Bùi Thị D trình bày: Con chung của anh H1 và chị H là cháu Tạ Thị Minh H3, sinh năm 2010, hiện đang được ông bà chăm sóc nuôi dưỡng từ khi chị H đi xuất khẩu lao động đến nay. Ông bà hoàn toàn đồng ý tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng cháu H3 và không yêu cầu anh H4 và chị H thanh toán chi phí công sức nuôi dưỡng cháu. Đồng thời do tuổi cao ông bà xin vắng mặt trong suốt quá trình giả quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến: Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Việc thu thập chứng cứ và xét xử vụ án vắng mặt các đương sự bảo đảm tuân thủ đầy đủ quy định của pháp luật.
Về nội dung: Xét thấy vợ chồng chị H, anh H1 sống xa nhau đã lâu, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình cho Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Tạ Quang H1. Về con chung: Giao con chung Tạ Thị Minh H3 chị Nguyễn Thị H chăm sóc nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi, trưởng thành, hiện nay chị H đang ở nước ngoài nên tạm giao cho ông Nguyễn Thiện N và bà Bùi Thị D chăm sóc, nuôi dưỡng trong thời gian chị H ở nước ngoài.
Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên không giải quyết.
Về án phí: Chị H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về thủ tục tố tụng:
- Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Nguyễn Thị H có địa chỉ trước khi xuất cảnh: Huyện N, tỉnh Nghệ An, hiện nay có địa chỉ cư trú tại Singapore làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Tạ Quang H1 hiện có địa chỉ cư trú tại huyện N, tỉnh Nghệ An nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại Điều 37, Điều tại 40, Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự ; Điều 122, Điều 123, Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình.
- Về thủ tục hòa giải: Vụ án không tiến hành hòa giải được vì chị Nguyễn Thị H không thể tham gia hòa giải do đang ở Singapore và đương sự đề nghị không tiến hành hòa giải là phù hợp với quy định tại khoản 2 và khoản 4 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị H có đơn khởi kiện xin ly hôn, văn bản nêu ý kiến, bản tự khai, đơn xin xét xử vắng mặt và đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Bị đơn và người có quyền lợi liên quan xin vắng mặt. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là hoàn toàn phù hợp, đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự
- Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị H, Hội đồng xét xử thấy rằng:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H và anh Tạ Quang H1 kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn, là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, chị H và anh H1 sống với nhau hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh H1 và chị H sống xa nhau vợ chồng không có tiếng nói chung, không quan tâm lẫn nhau, quan điểm sống của vợ chồng không phù hợp. Xét hiện nay tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H, căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Tạ Quang H1.
- Về con chung: Chị Nguyễn Thị H và anh Tạ Quang H1 có 02 con chung là Tạ Thị H2, sinh ngày 26 tháng 4 năm 1996; Tạ Thị Minh H3, sinh ngày 24 tháng 10 năm 2010. Hiện cháu H2 đã trên 18 tuổi, trưởng thành, không yêu cầu Toà án giải quyết. Cháu H3 đang được ông bà ngoại là ông Nguyễn Thiện N và bà Bùi Thị D chăm sóc nuôi dưỡng. Ly hôn chị H và anh H1 đều có nguyện vọng giao con chung cho chị H. Cháu H3 cũng có nguyện vọng được ở với mẹ. Xét nguyện vọng của hai bên là chính đáng và cũng phù hợp với nguyện vọng của cháu. Do đó, căn cứ vào các Điều 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của chị H. Giao cho chị H được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Tuy nhiên, do hiện nay chị H đang ở nước ngoài không thể trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng các con nên chị H tiếp tục nhờ ông N, bà D chăm sóc, nuôi dưỡng cháu H3. Ông N, bà D cũng đồng ý tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu H3 trong thời gian chị H ở nước ngoài. Xét thấy sự thoả thuận này là tự nguyện, không trái quy định của pháp luật và đảm bảo quyền lợi mọi mặt cho con chung nên cần ghi nhận sự nội dung thoả thuận này.
- Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị H và anh Tạ Quang H1 không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Dành quyền khởi kiện về tài sản chung, nợ chung cho các đương sự trong một vụ án dân sự khác khi có yêu cầu.
- Về án phí sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định.
Về cấp dưỡng nuôi con chị H không yêu cầu nên không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 122, Điều 123, Điều 127 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 37, Điều 40, khoản 4 Điều 147, khoản 1, khoản 4 Điều 207, Điều 228, khoản 1 Điều 273, Điều 469, khoản 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H.
- - Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Tạ Quang H1.
- - Về con chung: Giao con chung Tạ Thị Minh H3, sinh ngày 24 tháng 10 năm 2010, cho chị Nguyễn Thị H được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến lúc đủ 18 tuổi, trưởng thành.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H chưa yêu cầu nên không giải quyết.
Sau khi ly hôn, anh Tạ Quang H1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Ghi nhận sự thoả thuận giữa chị Nguyễn Thị H với ông Nguyễn Thiện N và bà Bùi Thị D về việc ông N và bà D sẽ thay chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Tạ Thị Minh H3, sinh ngày 24 tháng 10 năm 2010 cho đến khi chị H về nước.
- - Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.
Dành quyền khởi kiện liên quan đến chia tài sản chung, nợ chung cho các đương sự trong một vụ án dân sự khác khi các đương sự có yêu cầu.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0012796 ngày 23/4/2024 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An.
- Chị Nguyễn Thị H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
- Anh Tạ Quang H1, ông Nguyễn Thiện N và bà Bùi Thị D có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.
- Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Thái Thị Hồng Vân |
Bản án số 443/2024/HNGĐ-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 443/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Tạ Quang H1
