|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 443/2024/HC-PT Ngày 23 tháng 5 năm 2024 V/v Khiếu kiện QĐ thu hồi đất, QĐ bồi thường hỗ trợ do thu hồi đất, QĐ cưỡng chế thu hồi đất |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Văn Tám
Các Thẩm phán: Ông Hoàng Minh Thịnh
Ông Chung Văn kết
Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Danh Quốc Khánh - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Xuân Lượng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 23 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 1104/2023/TLPT-HC ngày 22 tháng 12 năm 2023 về việc Khiếu kiện quyết định thu hồi đất; Quyết định bồi thường hỗ trợ do thu hồi đất; Quyết định cưỡng chế thu hồi đất “.
Do Bản án hành chính sơ thẩm số 97/2023/HC-ST ngày 19 tháng 10 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 2209/2024/QĐ-PT ngày 22 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
Người khởi kiện:
Bà Võ Thị N, sinh năm 1965. Địa chỉ: Ấp A, xã L, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai, (có mặt).
Người đại diện hợp pháp của người khởi kiện: Ông Trần Huy T, sinh năm 1953. Đ chỉ: Tổ 4 ấp E, xã T, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai, (có mặt).
- Người bị kiện:
- Ủy ban nhân dân huyện Đ;
- Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Đ;
Địa chỉ: Khu phố H, thị trấn Đ, huyện Đ, tinh Đ.
Đại diện theo pháp luật: Ông Trần Nam B – Chủ tịch huyện.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Ngô Tấn T1 – Phó Chủ tịch huyện.
Người kháng cáo: Bà Võ Thị N
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, đơn khởi kiện bổ sung, các bản tự khai người đại diện theo uỷ quyền của người khởi kiện trình bày:
Diện tích đất 19.642m² thuộc thửa đất số 17, tờ bản đồ số 47 BĐĐC xã La Ngà thuộc quyền sử dụng của cụ Võ T2, cha của bà Võ Thị N theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BE 394849 do UBND huyện Đ cấp ngày 31 tháng 12 năm 2012. Theo Quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự số 28/2018/QÐST-DS ngày 24/7/2018 của TAND huyện Định Quán về việc chia di sản thừa kế, bà N được quyền quản lý sử dụng diện tích 9.821m² thuộc thửa đất số 126, tờ bản đồ số 47 xã L.
Ngày 30/6/2018, bà N nhận được Quyết định số 1148/QĐ-UBND ngày 25/6/2018 của Ủy ban nhân dân huyện Đ về việc thu hồi đất; Quyết định số 1152/QĐ-UBND ngày 25/6/2018 của Ủy ban nhân dân huyện Đ về việc phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ do thu hồi đất để thực hiện dự án Trạm biến áp 110kV Định Quán 02 và đường dây đấu nối tại xã L, huyện Đ. Sau khi bà đi điều trị bệnh về thì thấy Quyết định số 1782/QĐ-UBND ngày 05/5/2021 của Chủ tịch UBND huyện Đ về việc cưỡng chế thu hồi đất dán tại cửa nhà trọ của bà. Nay bà N khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tuyên hủy các quyết định gồm:
- Quyết định số 1148/QĐ-UBND ngày 25 tháng 6 năm 2018 của UBND huyện Đ về việc thu hồi 171,6 m² đất thuộc thửa 126 tờ bản đồ số 47 xã L để thực hiện dự án Trạm biến áp 110kV Định Quán 02 và đường dây đấu nối;
- Quyết định số 1152/QĐ-UBND ngày 25 tháng 6 năm 2018 của UBND huyện Đ về việc phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ diện tích 741 m² để thực hiện dự án Trạm biến áp 110kV Định Quán 02 và đường dây đấu nối;
- Quyết định số 1782/QĐ-UBND ngày 05/5/2021 của Chủ tịch UBND huyện Đ về việc cưỡng chế thu hồi đất. Yêu cầu Chủ tịch UBND huyện Đ khắc phục hậu quả của thửa đất.
Bà N khởi kiện yêu cầu hủy các quyết định nêu trên bởi các lý do sau: Giá bồi thường quá thấp, yêu cầu thẩm định lại giá đất bồi thường; Không hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm; Hỗ trợ ổn định đời sống sản xuất theo quy định Quyết định số 10/2018/QĐ- UBND ngày 22/02/2018 của UBND tỉnh Đ; Xét hoàn cảnh để cấp một suất tái định cư.
Do các quyết định hành chính bị khởi kiện được ban hành không đúng quy định pháp luật, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà N, nên bà N đề nghị Tòa án tuyên hủy 03 quyết định nêu trên.
- Theo văn bản số 2727/UBND-NL ngày 16/8/2023, văn bản số 3133/UBND-NL ngày 15/9/2023 Người bị kiện trình bày:
1. Việc U quyết định thu hồi đất:
Dự án Trạm biến áp 110kV Định Q và đường dây đấu nối tại ấp P, xã L được UBND tỉnh thống nhất thỏa thuận hướng tuyến tại Văn bản số 10704/UBND-CNN ngày 22/12/2015.
Dự án được phê duyệt điều chỉnh, bổ sung cập nhật Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 tại Quyết định số 4693/QĐ-UBND ngày 26/12/2017 của UBND tỉnh Đ để làm cơ sở triển khai thực hiện dự án.
Dự án Trạm biến áp 110kV Định Q và đường dây đấu nối thông qua thu hồi đất tại Nghị quyết số 38/2016/NQ-HĐND ngày 09/12/2016 của Hội đồng nhân dân tỉnh Đ (Nghị quyết về dự án thu hồi đất và dự án có sử dụng đất trồng lúa, đất rừng phòng hộ năm 2017 tỉnh Đồng Nai) với diện tích 0,68ha, được Ủy ban nhân dân huyện Đ đưa vào kế hoạch sử dụng đất năm 2016 của huyện Đ được Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt tại Quyết định số 4668/QĐ-UBND ngày 30/12/2016 và được chuyển tiếp sang kế hoạch sử dụng đất của năm 2017 được phê duyệt tại Quyết định số 4816/QĐ-UBND ngày 29/12/2017 để thực hiện các thủ tục thu hồi đất, bồi thường giải phóng mặt bằng theo quy định.
Căn cứ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được duyệt; Căn cứ Quyết định số 53/2014/QĐ-UBND ngày 20/11/2014 của UBND tỉnh Đ ban hành Quy định về trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Đồng Nai, UBND huyện Đ đã ký ban hành thông báo thu hồi đất đến người có đất bị thu hồi (Thông báo số 64/TB-UBND ngày 08/03/2017 của UBND huyện Đ). Theo đó, Trung tâm Phát triển Quỹ đất tổ chức họp phổ biến, thông báo trên Đài truyền thanh huyện, xã và niêm yết tại Trụ sở UBND xã L, địa điểm sinh hoạt của khu dân cư nơi có đất thực hiện dự án về chủ trương thu hồi đất của Nhà nước theo đúng quy định, đảm bảo tính dân chủ trong công tác bồi thường giải phóng mặt bằng.
Trên cơ sở thông báo thu hồi đất được duyệt, Trung tâm Phát triển quỹ đất xây dựng phương án bồi thường với các nội dung: Thành lập Hội đồng bồi thường dự án; Kiểm kê xác định đất đai và tài sản bị thiệt hại; Xác nhận nguồn gốc, tính pháp lý của đất và tài sản bị thiệt hại; Xác nhận về trực tiếp sản xuất nông nghiệp; Xác định giá đất để bồi thường, hỗ trợ; L, niêm yết công khai lấy ý kiến người bị thu hồi đất sau đó chuyển hồ sơ cho Phòng T3 thẩm định, trình UBND huyện phê duyệt theo quy định, tổ chức chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ đảm bảo đúng theo trình tự thủ tục được quy định tại Quyết định số 09/2018/QĐ-UBND ngày 22/02/2018 của UBND tỉnh Đ.
Vì vậy, ngày 25 tháng 6 năm 2018 UBND huyện Định Quán ban hành Quyết định số 1148/QĐ-UBND về việc thu hồi đất của bà Võ Thị N là đúng theo quy định của Nhà nước.
2. Việc UBND huyện ban hành quyết định bồi thường:
- Đối với phần diện tích thu hồi 171,6m²:
Quyết định số 1148/QĐ-UBND ngày 25/6/2018 thu hồi diện tích 171,6m² thuộc thửa đất số 126, tờ 47 BĐĐC xã L để làm móng trụ trạm điện. Căn cứ Điểm đ khoản 4 Điều 114 Luật đất đai, Nhà nước sẽ căn cứ theo giá đất cụ thể để bồi thường khi tiến hành thu hồi đất. Giá đất cụ thể do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định. UBND tỉnh Đ đã ban hành giá đất để tính tiền bồi thường khi Nhà nước thực hiện thu hồi đất tại Quyết định số 3172/QĐ-UBND ngày 08/9/2017.
Trên cơ sở đó, huyện Đ đã bồi thường giá trị đất cho bà N với đơn giá đất nông nghiệp trồng cây lâu năm thuộc vị trí 02 là 139.000 đồng/m². Như vậy, giá trị đất được bồi thường, hỗ trợ đối với diện tích thu hồi là: 139.000 đồng/m² x 171,6m² = 23.852.400 đồng (Bằng chữ: Hai mươi ba triệu, tám trăm năm mươi hai ngàn, bốn trăm đồng).
Ngoài giá trị bồi thường về đất, phần diện tích đất bị thu hồi được hưởng thêm chính sách chuyển đổi nghề nghiệp theo quy định tại khoản 1 Điều 20 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP và khoản 6 Điều 4 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ. Điều 15 Quyết định số 10/2018/QĐ-UBND ngày 22/02/2018 của UBND tỉnh Đ quy định với mức hỗ trợ (=) 2 lần (hai lần) giá đất nông nghiệp cùng loại trong bảng giá đất của UBND tỉnh đối với toàn bộ diện tích đất nông nghiệp thu hồi. Trường hợp này, đơn giá đất nông nghiệp trồng cây lâu năm trong bảng giá đất của UBND tỉnh là 40.000 đồng/m². Phần diện tích thu hồi được hỗ trợ thêm với số tiền là 40.000 đồng x 2 x 171.6m² = 13.728.000 đồng (Bằng chữ: Mười ba triệu, bảy trăm hai mươi tám ngàn đồng).
Đối với diện tích đất bị ảnh hưởng hành lang đường điện, Nhà nước không thực hiện thu hồi đất, được bồi thường thiệt hại do hạn chế khả năng sử dụng đất theo quy định tại Điều 94 Luật Đất đai 2013:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 22 Quyết định số 10/2018/QĐ-UBND ngày 22/02/2018 của UBND tỉnh Đ, UBND huyện Đ đã bồi thường, hỗ trợ về đất đối với phần diện tích thuộc hành lang an toàn bảo vệ đường dây dẫn điện trên không với phần diện tích 569,4m² thuộc thửa đất 126 tờ 47 BĐĐC xã L, với mức hỗ trợ bằng 80% giá bồi thường khi thu hồi đất nông nghiệp là 139.000 đồng/m². Như vậy, phần diện tích bị ảnh hưởng, bà N được bồi thường bằng tiền với giá trị: 139.000 đồng/m² x 80% x 569,4m² = 63.317.280 đồng (Bằng chữ: Sáu mươi ba triệu, ba trăm mười bảy ngàn, hai trăm tám mươi đồng).
Đối với phần diện tích bị ảnh hưởng hành lang đường điện, bà Võ Thị N được tiếp tục sử dụng đất theo đúng mục đích đã được xác định và không được gây cản trở cho việc bảo vệ an toàn công trình theo quy định tại khoản 3 Điều 157 Luật Đất đai 2013.
Vì vậy, UBND huyện Đ ban hành Quyết định số 1152/QĐ-UBND ngày 25/6/2018 về việc phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ cho bà Võ Thị N là đúng theo quy định của Nhà nước.
3. Việc Chủ tịch U quyết định cưỡng chế:
Việc cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất được thực hiện dựa trên cơ sở Điều 17, Điều 20 Quyết định số 41/2019/QĐ-UBND ngày 16/10/2019 của UBND tỉnh Đ quy định về việc phối hợp thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Đồng Nai. Sau khi UBND huyện ký Quyết định thu hồi đất, Quyết định phê duyệt phương án bồi thường, Trung tâm phát triển quỹ đất tổ chức chi trả tiền bồi thường theo quy định. Mặc dù bà N đã được thông báo nhận tiền bồi thường lần thứ hai nhưng không đến nhận nên Trung tâm phát triển quỹ đất đã chuyển khoản tiền chi trả vào tài khoản tạm giữ. UBND huyện Đ đã vận động thuyết phục bà N nhận tiền và bàn giao đất nhưng bà N không chấp hành. Vì vậy Chủ tịch UBND huyện Đ đã ký quyết định cưỡng chế tổ chức thực hiện cưỡng chế thu hồi đất theo quy định tại Điều 71 luật Đất đai năm 2013.
Từ những nội dung trên, các quyết định hành chính bị khởi kiện của UBND huyện Đ cũng như Chủ tịch UBND huyện Đ đã được ban hành đúng quy định pháp luật, đảm bảo các quyền lợi của người bị thu hồi đất. Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xem xét bác yêu cầu khởi kiện và giữ nguyên các Quyết định của UBND huyện Đ, Chủ tịch UBND huyện Đ đã ban hành.
Tại Bản án số 97/2023/HC-ST ngày 19 tháng 10 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai đã quyết định:
- Căn cứ Điều 3, Điều 6, Điều 30, Điều 32, Điều 115, Điều 116, Điều 157, Điều 158, Điều 193, Điều 194, Điều 206 của Luật tố tụng hành chính 2015;
- Áp dụng các điều 62, 66, 67, 69, 71, 74, 83 Luật đất đai; Điều 17 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ về quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai; Điều 10 Nghị định 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 31/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Bác yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị N về việc yêu cầu hủy các quyết định hành chính gôm:
- Quyết định số 1148/QĐ-UBND ngày 25 tháng 6 năm 2018 của UBND huyện Đ về việc thu hồi 171,6 m² đất thuộc thửa 126 tờ bản đồ số 47 xã L để thực hiện dự án Trạm biến áp 110kV Định Quán 02 và đường dây đấu nối;
- Quyết định số 1152/QĐ-UBND ngày 25 tháng 6 năm 2018 của UBND huyện Đ về việc phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ diện tích 741 m² để thực hiện dự án Trạm biến áp 110kV Định Quán 02 và đường dây đấu nối;
- Quyết định số 1782/QĐ-UBND ngày 05/5/2021 của Chủ tịch UBND huyện Đ về việc cưỡng chế thu hồi đất.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 31/10/2023, Võ Thị N có đơn kháng cáo toàn bộ án sơ thẩm, đề nghị sửa án sơ thẩm theo hướng huỷ các quyết định như đơn khởi kiện.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bà Võ Thị N và người đại diện theo uỷ quyền của bà N yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét sửa án sơ thẩm theo hướng buộc UBND phải bồi thường giá đất bị thu hồi theo giá thị trường hoặc hoán đổi cho bà N diện tích đất khác có vị trí đất tương tự đất của bà N. Vì, trên thực tế diện tích đất bà N bị ảnh hưởng bởi dự án Trạm biến áp 110kV Định Quán 2 và đường dây đấu nối rất lớn nhưng khi đền bù thì giá đất bị thu hồi rất thấp không ngang giá thị trường, diện tích đất còn lại bị ảnh hưởng nghiêm trọng không thể trồng cây ăn trái, không thể chuyển nhượng cho người khác.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Về tố tụng: Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng tại phiên tòa đã thực hiện đúng theo quy định pháp luật. Về nội dung: Sau khi phân tích nội dung vụ án, nội dung kháng cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 điều 241 Bộ luật Tố tụng hành chính bác kháng cáo của người khởi kiện, giữ y bản án hành chính sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Đơn kháng cáo của bà Võ Thị N là người khởi kiện trong vụ án được làm đúng thời hạn, hình thức nội dung đảm bảo theo quy định pháp luật. Về việc xét xử vắng mặt đối với người bị kiện: Tại phiên tòa phúc thẩm đại diện hợp pháp của người bị kiện có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, căn cứ khoản 4 Điều 225 Luật Tố tụng Hành chính, Tòa án nhân dân Cấp Cao tại Thành phố Hồ Chí Minh chấp nhận xét xử vắng mặt đối với người bị kiện.
[2] Xét kháng cáo của Võ Thị N, yêu cầu sửa án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà, Hội đồng xét xử thấy rằng:
[2.1] Ngày 08/3/2017, Ủy ban nhân dân huyện Đ ban hành Thông báo số 64/TB-UBND về việc thu hồi diện tích 171,6m² thửa đất 126 tờ bản đồ 47 để thực hiện dự án Trạm biến áp 110KV Định Quán 2 và đường dây đấu nối. Ngày 20/6/2017, Trung tâm phát triển quỹ đất huyện đã tiến hành kiểm đếm về đất đai, thống kê nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất, xác nhận thửa đất số 126 tờ bản đồ 47, diện tích 171,6m² bị thu hồi, bà Võ Thị N (đại diện thừa kế ông Võ T2). Ngày 08/9/2017, Ủy ban nhân dân tỉnh Đ ban hành Quyết định số 3172/QĐ-UBND về việc phê duyệt giá đất để bồi thường khi nhà nước thu hồi đất. Ngày 25 tháng 6 năm 2018, Ủy ban nhân dân huyện Đ ban hành Quyết định số 1148/QĐ-UBND về việc thu hồi đất; Quyết định số 1152/QĐ-UBND về việc phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ cho hộ bà Võ Thị N là đúng trình tự, thủ tục khi thu hồi đất theo điểm b khoản 3 Điều 62 Luật đất đai.
Vào các ngày 29/6/2018, 22/8/2018, 14/9/2018, 05/3/2019, Trung tâm phát triển quỹ đất thông báo cho bà N nhận tiền bồi thường hỗ trợ nhưng bà N không đến nhận nên ngày 11/10/2019 Trung tâm phát triển quỹ đất chuyển tiền bồi thường hỗ trợ vào tài khoản Kho bạc huyện Đ. Ngày 05/8/2019, 23/10/2020 UBND xã L,
UBND huyện Đ đã phối hợp cùng Trung tâm phát triển quỹ đất và các đơn vị liên quan tổ chức vận động nhận tiền và bàn giao mặt bằng. Do hộ bà N không đồng ý bàn giao mặt bằng, nên ngày 05/5/2021 Chủ tịch UBND huyện Đ ban hành Quyết định số 1782/QĐ-UBND về việc cưỡng chế thu hồi đất đối với hộ bà Võ Thị N và thực hiện việc niêm yết công khai. Đến ngày 19/11/2021, UBND huyện Đ thực hiện cưỡng chế tổ chức thực hiện cưỡng chế thu hồi đất đối với trường hợp bà Võ Thị N là đúng thủ tục theo quy định của pháp luật.
[2.2] Dự án Trạm biến áp 110kV Định Q và đường dây đấu nối tại xã L, huyện Đ thuộc trường hợp Nhà nước thu hồi đất để phát triển kinh tế xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng. Do dự án nêu trên không thuộc trường hợp thỏa thuận giá đất giữa chủ sử dụng đất với nhà đầu tư theo quy định tại Điều 73 Luật Đất đai nên giá bồi thường, hỗ trợ được áp dụng theo quy định tại Quyết định số 3172/QĐ-UBND ngày 08/9/2017 của UBND tỉnh Đ. Do vậy, bà N kháng cáo yêu cầu được thỏa thuận giá bồi thường hỗ trợ hoặc hoán đổi diện tích đất khác tương tự vị trí đất của bà N là không có căn cứ để chấp nhận mà chấp nhận theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh là bác kháng cáo của bà N và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[3] Bà Võ Thị N kháng cáo không được chấp nhận nên phải chịu án phí hành chính phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 241 Luật Tố tụng hành chính. Không chấp nhận kháng cáo của bà Võ Thị N, giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số: 97/2023/HC-ST ngày 19 tháng 10 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai
- - Căn cứ các điều 3, điều 6, điều 30, điều 32, điều 115, điều 116, điều 157, điều 158, điều 193, điều 194, điều 206 của Luật tố tụng hành chính 2015;
- - Áp dụng các điều 62, 66, 67, 69, 71, 74, 83 Luật đất đai; Điều 17 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ về quy đinh chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai; Điều 10 Nghị định 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 31/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Bác yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị N về việc yêu cầu hủy các quyết định hành chính gồm:
- - Quyết định số 1148/QĐ-UBND ngày 25 tháng 6 năm 2018 của UBND huyện Đ về việc thu hồi 171,6 m² đất thuộc thửa 126 tờ bản đồ số 47 xã L để thực hiện dự án Trạm biến áp 110kV Định Quán 02 và đường dây đấu nối;
- - Quyết định số 1152/QĐ-UBND ngày 25 tháng 6 năm 2018 của UBND huyện Đ về việc phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ diện tích 741 m² để thực hiện dự án Trạm biến áp 110kV Định Quán 02 và đường dây đấu nối;
- - Quyết định số 1782/QĐ-UBND ngày 05/5/2021 của Chủ tịch UBND huyện Đ về việc cưỡng chế thu hồi đất.
2. Về án phí:
Bà Võ Thị N phải chịu 300.000 đồng án phí hành chính sơ thẩm và 300.000 đồng án phí hành chính phúc thẩm, bà N đã nộp 600.000 đồng tiền tạm ứng án phí sơ thẩm, phúc thẩm theo Biên lai thu số 005115 ngày 05/10/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai và Biên lai thu số 0002448 ngày 14/11/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai nay được đối trừ. Bà Võ Thị N đã nộp đủ án phí.
3. Về chi phí tố tụng:
Bà Võ Thị N phải chịu 590.000 đồng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ. Bà Võ Thị N đã nộp đủ.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Cao Văn Tám |
Bản án số 443/2024/HC-PT ngày 23/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về khiếu kiện qđ thu hồi đất, qđ bồi thường hỗ trợ do thu hồi đất, qđ cưỡng chế thu hồi đất
- Số bản án: 443/2024/HC-PT
- Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện QĐ thu hồi đất, QĐ bồi thường hỗ trợ do thu hồi đất, QĐ cưỡng chế thu hồi đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 23/05/2024
- Loại vụ/việc: Hành chính
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Võ Thị Nhiên
