Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỨC HÒA

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 443/2024/DS-ST

Ngày: 30-9-2024

V/v tranh chấp hợp đồng góp hụi

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Như

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Chí Lin

Bà Võ Thị Kiều Loan

- Thư ký phiên tòa: Bà Kiều Thị Tùng Khương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lê Hiền – Kiểm sát viên;

Trong các ngày 24 và 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 252/2024/TLST-DS ngày 06 tháng 3 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng góp hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 354/2024/QĐXXST-DS ngày 16 tháng 8 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 212/2024/QĐ-ST ngày 05 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Võ Thúy D, sinh năm 1998. Địa chỉ: Ấp L, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An.

Bị đơn: Bà Hà Đình Đ, sinh năm: 1994 và ông Võ Hoài T, sinh năm 1995; cùng địa chỉ: Ấp E, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.

(bà D có mặt; bà Đ, ông T vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện Tòa án nhận ngày 28/02/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Võ Thúy D trình bày như sau:

Bà là chủ hụi, vợ chồng bà Hà Đình Đ và ông Võ Hoài T là chỗ quen biết nên bà cho vợ chồng bà Đ tham gia vào các đầu hụi do bà làm chủ. Đến 24/09/2023 thì vợ chồng bà Đ tuyên bố mất khả năng đóng trả cho bà, bà đã nhiều lần liên hệ nhưng không được. Nay bà yêu cầu vợ chồng bà Đ thanh toán cho bà các dây hụi chết gồm:

Dây thứ 1: Hụi ngày 10.000.000 đồng/ngày, mở ngày 15/09/2023, kết thúc ngày 04/10/2023, hụi gồm 20 phần, bà Đ tham gia 01 phần, dây hụi này bà Đ đã hốt, đóng được 10 lần, còn thiếu 10 phần. Tổng tiền yêu cầu thu hồi 100.000.000 đồng.

Dây thứ 2: Hụi ngày 5.000.000 đồng/ngày, mở ngày 15/09/2023, kết thúc ngày 09/10/2023, hụi gồm 25 phần, bà Đ tham gia 01 phần, dây hụi này bà Đ đã hốt, đóng được 10 lần, còn thiếu 15 phần. Số tiền yêu cầu thu hồi là 75.000.000 đồng.

Dây thứ 3: Hụi ngày 3.000.000 đồng/ngày, mở ngày 15/09/2023, kết thúc ngày 09/10/2023, hụi gồm 25 phần, bà Đ tham gia 01 phần, dây hụi này bà Đ đã hốt, đóng được 10 lần, còn thiếu 15 phần. Tổng tiền yêu cầu thu hồi 45.000.000 đồng.

Dây thứ 4: Hụi ngày 3.000.000 đồng/ngày, mở ngày 16/09/2023, kết thúc ngày 10/10/2023, hụi gồm 25 phần, bà Đ tham gia 01 phần, dây hụi này bà Đ đã hốt, đóng được 09 lần, còn thiếu 16 phần. Tổng tiền yêu cầu thu hồi 48.000.000 đồng.

Dây thứ 5: Hụi ngày 10.000.000 đồng/ngày, mở ngày 17/09/2023, kết thúc ngày 06/10/2023, hụi gồm 20 phần, bà Đ tham gia 01 phần, dây hụi này bà Đ đã hốt, đóng được 08 lần, còn thiếu 12 phần. Tổng tiền yêu cầu thu hồi 120.000.000 đồng.

Dây thứ 6: Hụi 10 ngày 5.000.000 đồng, mở ngày 30/06/2023, kết thúc ngày 30/09/2023, hụi gồm 25 phần, bà Đ tham gia 01 phần, dây hụi này bà Đ đã hốt, đóng được 24 lần, còn thiếu 01 phần. Tổng tiền yêu cầu thu hồi 5.000.000 đồng.

Dây thứ 7: Hụi ngày 5.000.000 đồng/ngày, mở ngày 02/09/2023, kết thúc ngày 26/09/2023, hụi gồm 25 phần, bà Đ tham gia 02 phần, dây hụi này bà Đ đã hốt, đóng được 23 lần, còn thiếu 02 phần. Tổng tiền yêu cầu thu hồi 20.000.000 đồng.

Dây thứ 8: Hụi ngày 10.000.000 đồng/ngày, mở ngày 08/09/2023, kết thúc ngày 27/09/2023, hụi gồm 20 phần, bà Đ tham gia 01 phần, dây hụi này bà Đ đã hốt, đóng được 17 lần, còn thiếu 03 phần. Tổng tiền yêu cầu thu hồi 30.000.000 đồng.

Dây thứ 9: Hụi ngày 5.000.000 đồng ngày, mở ngày 08/09/2023, kết thúc ngày 02/10/2023, hụi gồm 25 phần, bà Đ tham gia 02 phần, dây hụi này bà Đ đã hốt, đóng được 17 lần, còn thiếu 08 phần. Tổng tiền yêu cầu thu hồi 80.000.000 đồng.

Dây thứ 10: Hụi ngày 2.000.000 đồng/ngày, mở ngày 08/09/2023, kết thúc ngày 07/10/2023, hụi gồm 30 phần, bà Đ tham gia 01 phần, dây hụi này bà Đ đã hốt, đóng được 17 lần, còn thiếu 13 phần. Tổng tiền yêu cầu thu hồi 26.000.000 đồng.

Dây hụi ngày 5.000.000 đồng, khui ngày 08/9/2023, mãn ngày 02/10/2023, còn thiếu 08 phần x 5.000.000 = 40.000.000 đồng.

Tổng số tiền bà Đ nợ bà là 589.000.000 đồng (Năm trăm tám mươi chín triệu đồng)

Hụi sống:

Dây hụi ngày 5.000.000 đồng, mở ngày 15/09/2023, bà Đ đóng được 10 lần: dương 44.755.000 đồng.

Dây hụi ngày 3.000.000 đồng, mở ngày 15/09/2023, bà Đ đóng được 10 lần: dương 27.490.000 đồng

Dây hụi ngày 5.000.000 đồng, mở ngày 25/08/2023, bà Đ đóng được 6 lần: dương 26.765.000 đồng.

Dậy hụi 3.000.000 đồng/tuần, mở ngày 16/09/2023, bà Đ đóng được 9 lần: dương 24.600.000 đồng

Dây hụi 10 ngày, mỗi ngày 10.000.000 đồng, mở ngày 15/07/2023, bà Đ đóng được 07 lần: dương 60.140.000 đồng

Dây hụi ngày 2.000.000 đồng, mở ngày 08/09/2023, bà Đ đóng được 17 lần: dương 31.030.000 đồng

Tổng số tiền bà Đ còn dương hụi sống là 214.780.000 đồng (Hai trăm mười bốn triệu bảy trăm tám mươi nghìn đồng)

Khấu trừ tất cả hụi sống và hụi chết bà Đ còn nợ bà là 374.220.000 đồng và nợ hụi ngày 24/09/2023 chưa đóng số tiền 79.830.000 đồng. Tổng số tiền bà Đ nợ tôi là 454.050.000 đồng (Bốn trăm năm mươi bốn triệu không trăm năm mươi nghìn đồng)

Sau đó bà Đ có thanh toán cho bà số tiền ngày 25/09/2024 là 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng), nên số tiền nợ còn lại là 434.050.000 đồng (Bốn trăm ba mươi bốn triệu không trăm năm mươi nghìn đồng)

Nay bà yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An:

- Buộc bà Hà Đình Đ và Ông Võ Hoài T liên đới trả lại cho bà số tiền 434.050.000 đồng (Bốn trăm ba mươi bốn triệu không trăm năm mươi nghìn đồng). Không yêu cầu tính lãi suất.

Về chứng cứ: Bà Đ cung cấp cho Tòa án hình ảnh chụp tin nhắn qua lại giữa bà và bà Đ; sao kê tài khoản; tin nhắn chuyển khoản.

Bị đơn bà Hà Đình Đ và ông Võ Hoài Thanh vắng M trong suốt quá trình tố tụng nên không có ý kiến trình bày.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Ý kiến đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An:

- Về trình tự, thủ tục: Từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử Thẩm phán, Thư ký, những người tiến hành tố tụng tại phiên tòa thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Người tham gia tố tụng thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

- Về nội dung: Căn cứ vào bảng sao kê do nguyên đơn cung cấp, xác định số tiền nguyên đơn chuyển khoản cho bị đơn là 212.795.000 đồng. Do đó, có cơ sở xác định bà D chuyển cho bà Đ số tiền hụi như trên. Đề nghị chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với số tiền 212.795.000 đồng.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến tranh luận của cơ quan đề nghị, người bị đề nghị, kiểm sát viên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về thủ tục tố tụng:
    1. Về xác định thẩm quyền và quan hệ tranh chấp: Bà Võ Thúy D khởi kiện yêu cầu bà Hà Đình Đ và ông Võ Hoài T phải trả số tiền hụi còn thiếu là 434.050.000 đồng nên đây là quan hệ tranh chấp hợp đồng góp hụi theo quy định tại Khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn bà Hà Đình Đ và ông Võ Hoài T cư trú tại xã H, huyện Đ, tỉnh Long An, do đó vụ án sơ thẩm thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An theo quy định tại điểm a, Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
    2. Về việc xét xử vắng mặt bị đơn: Bị đơn ông T và bà Đ đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng vắng mặt, do đó Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
    3. Tại phiên tòa, các đương sự có mặt cam kết không bổ sung chứng cứ gì khác ngoài các chứng cứ đã giao nộp cho Tòa án.
  2. Về nội dung vụ án: Bà D khởi kiện yêu cầu ông T và bà Đ liên đới trả cho bà số tiền hụi chết tính đến ngày 25/09/2024 là 489.000.000 đồng; trừ đi số tiền hụi sống của bà Đ đã tham gia nhưng chưa hốt là 214.780.000 đồng. Còn lại là là 454.050.000 đồng, đến ngày 25/9/2023, bà Đ có chuyển trả cho bà D số tiền 20.000.000 đồng. Tổng số tiền bà D yêu cầu bà Đ phải trả là 454.050.000 đồng.
    1. Về chứng cứ: Bà D cung cấp cho Tòa án hình ảnh tin nhắn qua lại giữa bà với người có tên là Đình Đ. Nội dung tin nhắn, vào lúc 09h03 ngày 25/9/2023 bà D và Đình Đ trao đổi về số tiền hụi, bà D tính “tổng âm là 454.050k”, tiếp theo đó Đình Đ có chụp màn hình chuyển khoản vào lúc 09h25' ngày 25/9/2023, nội dung chuyển tiền ghi “HA DINH DINH chuyen tien", người nhận là VO THUY DUY, số tiền chuyển là 20.000.000 đồng. Sau đó, bà D có nhắn lại với nội dung “Còn 434tr nha c”; nội dung trả lời từ Đ “Ok c cam on e nhiều” (tại các bút lục số 95, 94, 92, 91). Ở các đoạn tin nhắn tiếp theo, hai bên có nhắn tin qua lại, nội dung tin nhắn thể hiện Đình Đình đang gặp khó khăn, xin thời gian để trả tiền cho bà D, sau đó bà Đ không còn liên lạc với bà D.
    2. Chứng cứ này phù hợp với nội dung đơn khởi kiện và lời trình bày của nguyên đơn, rằng bà Đình Đ có tham gia nhiều dây hụi do bà D làm chủ. Tính đến ngày 25/9/2023, tổng số tiền hụi sao khi khấu trừ, bà Đ còn nợ bà D số tiền 434.050.000 đồng.
    3. Tại khoản 1 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự, quy định về nghĩa vụ chứng minh, theo đó: “Đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình phải thể hiện bằng văn bản và phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho sự phản đối đỏ”, quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý, các văn bản tố tụng Tòa án, thể hiện nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cùng với tài liệu chứng cứ do nguyên đơn cung cấp nhưng bị đơn không có ý kiến phản đối đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp để giải quyết vụ án và xác định, đây là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh do đương sự còn lại đã biết mà không phản đối theo quy định khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự: “Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện... mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”.
  3. Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử xác định yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ chấp nhận. Ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phù hợp một phần với nhận định của Hội đồng xét xử.
  4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bà Hà Đình Đ và ông Võ Hoài T phải chịu toàn bộ án phí sơ thẩm do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các Điều 5, 21, 26, 35, 39, 92, 147, 186, 227, 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng các Điều 288, 471, Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015;

Áp dụng Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thúy D về việc tranh chấp “Hợp đồng góp hụi” với bà Hà Đình Đ và ông Võ Hoài T.

    Buộc bà Hà Đình Đ và ông Võ Hoài T có trách nhiệm liên đới trả cho bà Võ Thúy D số tiền 434.050.000 đồng (Bốn trăm ba mươi bốn triệu không trăm năm mươi nghìn đồng), ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.

    Khi án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, bên có nghĩa vụ chậm thi hành sẽ phải chịu thêm khoản tiền lãi tính trên số tiền chậm trả theo quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác

  2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
    1. Buộc bà Hà Đình Đ và ông Võ Hoài T phải nộp 21.362.000 đồng (Hai mươi mốt triệu, ba trăm sáu mươi hai nghìn đồng).
    2. Bà Võ Thúy D không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả cho bà D số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 10.681.000đồng (Mười triệu, sáu trăm tám mươi mốt nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006391 ngày 01/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

3. Án xử sơ thẩm công khai, nguyên đơn có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện Đức Hòa;
  • - TAND tỉnh Long An;
  • - Chi cục THADS huyện Đức Hòa;
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Lê Thị Ngọc Như

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 443/2024/DS-ST ngày 30/09/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An về tranh chấp hợp đồng góp hụi

  • Số bản án: 443/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng góp hụi
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Võ Thúy Duy "Tranh chấp hụi" Hà Đình Đình
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger