Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 369/2024/HS-PT

Ngày: 08-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Sơn;

Các Thẩm phán: Bà Lê Thị Ký;

Bà Nguyễn Thị Quyên.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Linh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Trung Kiên - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 241/2024/TLPT-HS ngày 10 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Lê Trọng P và đồng phạm do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 215/2024/HS-ST ngày 07/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.

- Các bị cáo có kháng cáo:

  1. Nguyễn Lê Trọng P, sinh năm 1997 tại Quảng Ngãi; nơi đăng ký thường trú: Số G, Khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Nhân viên văn phòng; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T và bà Lê Thị Phương T1; tiền án, tiền sự: Không;

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14-01-2023 đến ngày 19-01-2023. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

  2. Võ Trần Hải Đ, sinh năm 1994 tại Đồng Nai; nơi đăng ký thường trú: Số B, Khu phố G, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Nhân viên ngân hàng; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên Chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Minh H và bà Trần Thị D; có vợ là Tạ Thị Quỳnh N và 01 con sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14-01-2023 đến ngày 19-01-2023. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

  3. Hoàng Ngọc S, sinh năm 1998 tại Đồng Nai; nơi đăng ký thường trú: Số C, Khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Ngọc K và bà Phạm Thị Phương T2; tiền án, tiền sự: Không;

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14-01-2023 đến ngày 19-01-2023. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

  4. Nguyễn Anh K1, sinh năm 1996 tại Đồng Nai; nơi đăng ký thường trú: Số A, Khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T3 và bà Nguyễn Thị Giao L; tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14-01-2023 đến ngày 19-01-2023. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 11-01-2023, P, K1, ĐS cùng nhau ăn uống tại quán “Bia Sệt” thuộc phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Trong lúc ăn uống, P rủ K1, ĐS cùng góp tiền mua ma túy để cùng sử dụng, tất cả đồng ý và thống nhất vào tối ngày 13-01-2023 sẽ cùng nhau sử dụng ma túy. Tiền mua ma túy và thuê phòng sẽ chia đều cho P, K1, ĐS sau khi sử dụng ma túy.

Ngày 13-01-2023, P, K1, ĐS sử dụng điện thoại nhắn tin với nhau qua ứng dụng Messenger để bàn bạc, phân công vai trò của từng người trong việc tổ chức sử dụng ma túy, cụ thể: P mang theo đĩa, loa, đèn; Đ mang theo loa và máy hóa hơi; S đem theo Cần sa để cả nhóm cùng sử dụng. Sau đó, S đến khu vực “Công viên B" thuộc phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai mua của người đàn ông tên T4 (không rõ lai lịch) 01 (Một) gói ma túy (C) với giá 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) để cho S, P, K1, Đ cùng sử dụng. Khoảng 21 giờ 00 phút cùng ngày, Đ gọi điện thoại nói K1 ứng trước tiền mua ma túy và thuê phòng, sau đó cả nhóm sẽ chia đều tiền và hoàn trả lại K1 sau. K1 đồng ý rồi chuyển 5.000.000đ (Năm triệu đồng) vào tài khoản của P để P liên hệ mua ma túy và trả tiền thuê phòng cho cả nhóm sử dụng ma túy. P sử dụng điện thoại liên lạc qua ứng dụng Zalo với người phụ nữ tên T1 (tài khoản Zalo tên “C.Trang”, không rõ lai lịch) mua 01 (Một) gói ma túy tổng hợp (hàng khay) và 02 (Hai) viên thuốc lắc với giá 3.300.000₫ (Ba triệu ba trăm nghìn đồng), P hẹn T1 giao ma túy tại khu vực trước nhà nghỉ “Song Hành” địa chỉ số H, khu phố A, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Khoảng 22 giờ 00 phút cùng ngày, PS đến nhà nghỉ “Song Hành” (địa chỉ nêu trên) thuê phòng 205. Khi vào phòng, P lấy đĩa, loa, đèn và S lấy cối xay bên trong có Cần sa để lên bàn. Khoảng 23 giờ 00 phút cùng ngày, K1 vào phòng. Khoảng 23 giờ 45 phút cùng ngày, Đ vào phòng và lấy máy hóa hơi, loa và 01 (Một) viên thuốc lắc (màu vàng) để lên bàn (Đ tự ý mang thuốc lắc đến để Đ sử dụng một mình). Lúc này, T1 đến khu vực gần cổng nhà nghỉ “Song Hành” bán cho P số ma túy đã đặt mua trước đó rồi P đem ma túy lên phòng. P để ma túy lên bàn thì thấy dư 03 (Ba) viên thuốc lắc nên P liên lạc với T1 trả lại 03 (Ba) viên thuốc lắc. Sau đó, P, K1, Đ, S bắt đầu sử dụng ma túy gồm 01 (Một) gói ma túy tổng hợp (hàng khay), 02 (Hai) viên thuốc lắc (màu xanh) và Cần sa. S dùng thẻ nhựa cà nhuyễn ma túy tổng hợp (hàng khay), P lấy tờ tiền 20.000đ (Hai mươi nghìn đồng) cuộn tròn thành ống hút để hít ma túy và mở đèn chiếu, K1 bật nhạc để phục vụ cho việc sử dụng ma túy. Cả nhóm đều sử dụng ma túy bằng cách hít ma túy tổng hợp (hàng khay) qua ống hút, bẻ nhỏ viên thuốc lắc để nuốt và bỏ Cần sa (được xay nhuyễn bằng cối xay) vào máy hóa hơi để hút. Riêng 01 (Viên) thuốc lắc màu vàng chỉ mình Đ sử dụng.

Đến khoảng 01 giờ 00 phút ngày 14-01-2023, K1 điện thoại rủ Nguyễn Thị Mỹ A (Sinh năm 1996, ngụ tại ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai) đến cùng sử dụng ma túy với P, K1, Đ, S.

Đến khoảng 02 giờ 30 phút ngày 14-01-2023, khi P, K1, Đ, S, Mỹ A đang sử dụng ma túy thì bị lực lượng Công an thành phố B phối hợp với Công an phường B đến kiểm tra phát hiện bắt quả tang; thu giữ số ma túy còn lại chưa sử dụng hết.

Quá trình điều tra, Nguyễn Lê Trọng P, Võ Trần Hải Đ, Hoàng Ngọc S, Nguyễn Anh K1 khai nhận hành vi phạm tội như trên (bút lục số: 01-03, 59, 61, 69- 85, 90- 104, 109- 124, 129- 144, 147- 150, 154- 167, 168- 175, 267- 274)

Vật chứng của vụ án:

  • 01 (Một) đĩa sứ, 01 (Một) thẻ nhựa, 01 (Một) máy hóa hơi, 01 tờ tiền mệnh giá 20.000₫ (Hai mươi nghìn đồng), 01 (Một) cối xay, 02 (Hai) loa, 01 (Một) đèn chiếu là công cụ để sử dụng và phục vụ cho việc sử dụng ma túy.
  • Số chất bột màu trắng còn lại trên đĩa sứ, một phần viên nén màu xanh để trên kệ gỗ, số thảo mộc khô để trong máy hóa hơi và trong cối xay (đã được Công an phường B thu giữ và niêm phong).
  • 01 (Một) điện thoại di động hiệu Iphone 13 – số Imei 351138104878858 của Võ Trần Hải Đ, 01 (Một) điện thoại di động hiệu Nokia 105 – số Imei 353846502703217 của Hoàng Ngọc S sử dụng liên lạc để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
  • 01 (Một) điện thoại di động hiệu Iphone 11 promax – số Imei 353894104313456 của Nguyễn Anh K1 sử dụng gọi rủ Nguyễn Thị Mỹ A đến sử dụng ma túy và liên lạc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
  • 01 (Một) điện thoại di động hiệu Iphone XSmax - số Imei 357277098968442 của Nguyễn Lê Trọng P sử dụng để liên lạc mua ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (Bút lục số: 03, 83, 98, 118, 138, 170- 175)

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã thu giữ và giao trả các tài sản cho chủ sở hữu do không biết việc các bị cáo sử dụng tài sản vào việc phạm tội và do không liên quan đến vụ án gồm:

  • 01 (Một) xe mô tô hiệu Honda SH150I biển số 60F3- 141.72 cho bà Lê Thị Thanh N1 (mẹ vợ của Võ Trần Hải Đ) là chủ sở hữu. (Bút lục số 03, 124, 176- 180)
  • 01 (Một) xe mô tô hiệu Honda Airblade biển số 60F1- 428.99 cho ông Nguyễn Văn T (cha của Nguyễn Lê Trọng P) là chủ sở hữu. (Bút lục số 03, 85, 181- 185)
  • 01 (Một) điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro – số Imei 353234105808644 của bà Lê Thị Phương T1 (mẹ của Nguyễn Lê Trọng P) (Bút lục số 03, 85, 186- 188)
  • 01 (Một) đồng hồ hiệu Apple Watch SE của Võ Trần Hải Đ (Bút lục số 03, 124, 191, 192)
  • 01 (Một) xe mô tô hiệu Honda SHMode biển số 60B3- 835.25 và 01 (Một) điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax – số Imei 354506127215810 của Nguyễn Thị Mỹ A (Bút lục số 03, 189- 191, 193)

* Tại Kết luận giám định số 103/KL-KTHS ngày 19-01-2023 của Giám định viên Phòng K2 Công an tỉnh Đ đã kết luận:

  • Mẫu chất bột màu trắng (ký hiệu mẫu M1) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,6187gam, loại Methamphetamine và Ketamine.
  • Mẫu 01 (Một) mảnh viên nén màu xanh (ký hiệu mẫu M2) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,0694gam, loại Racemethorphan.
  • Mẫu thảo mộc khô (ký hiệu mẫu M3) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,1267gam, loại Cần sa.
  • Mẫu thảo mộc khô (ký hiệu mẫu M4) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,2636gam, loại Cần sa (Bút lục số: 62, 63)

* Tại Kết luận giám định số 192/KL-KTHS ngày 10-02-2023 của Giám định viên Phòng K2 Công an tỉnh Đ đã kết luận:

  • Mẫu chất bột màu trắng (ký hiệu M1) được niêm phong gửi đến giám định có khối lượng Methamphetamine 0,0857gam (Bút lục số: 64)

Quá trình điều tra, Nguyễn Lê Trọng P, Võ Trần Hải Đ, Hoàng Ngọc S, Nguyễn Anh K1 khai khi bị bắt đang sử dụng ma túy và sẽ tiếp tục sử dụng hết số ma túy còn lại nếu không bị bắt (Bút lục số: 85, 104, 124, 144, 268, 270, 272, 274).

Đối với người phụ nữ tên T1 có hành vi bán ma túy: Nguyễn Lê Trọng P khai liên lạc với T1 qua Z và không có số điện thoại của T1, sau khi mua ma túy P đã xóa nội dung trao đổi và thông tin liên lạc với T1. Tại khu vực trước nhà nghỉ “Song Hành” địa chỉ nêu trên không có camera.

* Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 215/2024/HS-ST ngày 07/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa đã áp dụng b khoản 2 điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):

  • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Lê Trọng P 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt tù nhưng được trừ đi thời gian bị cáo đã bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/01/2023 đến ngày 19/01/2023.
  • - Xử phạt bị cáo Võ Trần Hải Đ 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt tù nhưng được trừ đi thời gian bị cáo đã bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/01/2023 đến ngày 19/01/2023.
  • - Xử phạt bị cáo Hoàng Ngọc S 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt tù nhưng được trừ đi thời gian bị cáo đã bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/01/2023 đến ngày 19/01/2023.
  • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh K1 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt tù nhưng được trừ đi thời gian bị cáo đã bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/01/2023 đến ngày 19/01/2023.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 08/5/2024, các bị cáo Nguyễn Lê Trọng P, Võ Trần Hải Đ, Hoàng Ngọc SNguyễn Anh K1 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Tại phiên tòa, các bị cáo vẫn giữ nguyên kháng cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa nêu quan điểm:

Hành vi của các bị cáo Nguyễn Lê Trọng P, Võ Trần Hải Đ, Hoàng Ngọc SNguyễn Anh K1 đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ để xử phạt bị cáo Nguyễn Lê Trọng P mức án 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, các bị cáo Võ Trần Hải Đ, Hoàng Ngọc SNguyễn Anh K1 mức án 07 (bảy) năm tù là phù hợp với tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của các bị cáo. Các bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ nào đặc biệt mới ngoài tình tiết đã được cấp sơ thẩm xem xét. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của các bị cáo, y án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về tố tụng: Đơn kháng cáo của các bị cáo làm trong hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
  2. Về tội danh: Tại phiên tòa, sau khi Kiểm sát viên phát biểu quan điểm đối với vụ án, cùng với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, quy định tại b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng pháp luật.
  3. Xét kháng cáo của các bị cáo:

    Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma tuý, là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an xã hội tại địa phương. Khi lượng hình, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017), để xử phạt bị cáo P mức án 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, xử phạt các bị cáo Đ, SK1 mỗi bị cáo mức án 07 (bảy) năm tù phù hợp, đúng quy định, không nặng như đơn kháng cáo các bị cáo nêu.

    Tại cấp phúc thẩm, các bị cáo Võ Trần Hải Đ, Hoàng Ngọc SNguyễn Anh K1 kháng cáo nhưng không cung cấp được tài liệu, tình tiết nào mới so với cấp sơ thẩm; do đó, kháng cáo của các bị cáo không có căn cứ chấp nhận. Bị cáo Nguyễn Lê Trọng P kháng cáo và cung cấp đơn xin cứu xét được chính quyền địa phương xác nhận. Tuy nhiên, bị cáo P là người khởi xướng, liên hệ mua ma túy để các bị cáo cùng sử dụng nên không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

  4. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
  5. Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án;

    Do kháng cáo của các bị cáo không được chấp nhận nên các bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.

    Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Lê Trọng P, Võ Trần Hải Đ, Hoàng Ngọc SNguyễn Anh K1 giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 215/2024/HS-ST ngày 07/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

  2. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 (áp dụng khoản 2 đối với bị cáo P) Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự 2015(sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt:
    • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Lê Trọng P 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt tù nhưng được trừ đi thời gian bị cáo đã bị tạm giữ từ ngày 14/01/2023 đến ngày 19/01/2023.
    • - Xử phạt bị cáo Võ Trần Hải Đ 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt tù nhưng được trừ đi thời gian bị cáo đã bị tạm giữ từ ngày 14/01/2023 đến ngày 19/01/2023.
    • - Xử phạt bị cáo Hoàng Ngọc S 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt tù nhưng được trừ đi thời gian bị cáo đã bị tạm giữ từ ngày 14/01/2023 đến ngày 19/01/2023.
    • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh K1 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt tù nhưng được trừ đi thời gian bị cáo đã bị tạm giữ từ ngày 14/01/2023 đến ngày 19/01/2023.
  3. Về án phí: Các bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
  4. Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - TAND TP. Biên Hòa (2);
  • - VKSND TP. Biên Hòa;
  • - Công an TP. Biên Hòa;
  • - Chi cục THADS TP. Biên Hòa;
  • - Phòng PV27 CA tỉnh Đồng Nai;
  • - Các bị cáo (4);
  • - Lưu HS (3).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thành Sơn

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Các Thẩm phán

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Trần Nam Phương

Lê Thị Ký

Nguyễn Thành Sơn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 369/2024/HS-PT ngày 08/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 369/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 08/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cướp giật tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger