Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 442/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 11-7-2024

V/v Tranh chấp ly hôn và nợ chung

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Luyến

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Võ Thị Hòa;
  2. Bà Nguyễn Thị Thanh Thúy.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lương Vũ Thùy Dung – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 7 năm 2024 tại phòng xử án Tòa án nhân dân Quận 7 xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 119/2022/TLST – HNGĐ ngày 14/3/2022 về việc “Tranh chấp ly hôn và nợ chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 184/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 133/2024/QĐST-HNGĐ ngày 11 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị Cẩm H, sinh năm 1981; Địa chỉ: Số C P, Phường C, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt).
  2. Bị đơn: Ông Đỗ Hồng L, sinh năm 1975; Địa chỉ: Số F đường L, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt).
  3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
    1. Ngân hàng Thương mại Cổ phần B1; Địa chỉ trụ sở: Tòa nhà HM T, số D N, Phường E, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

      Người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng Thương mại Cổ phần B1: Ông Đào Hoàng Q, sinh năm 1996; Địa chỉ liên hệ: Số E L, Phường G, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (Giấy ủy quyền số 44/24/BVBank/UQ-TT.QL&THN ngày 12/01/2024). (Có mặt).

    2. Ông Trần K, sinh năm 1966 (Có đơn xin vắng mặt);
    3. Bà Tôn Nữ Thị B, sinh năm 1969 (Có đơn xin vắng mặt);
    4. Ông Trần Minh H1, sinh năm 2000 (Vắng mặt);
    5. Ông Nguyễn Quốc T, sinh năm 1992 (Vắng mặt);
    6. Bà Cao Thị Thúy H2, sinh năm 1997 (Vắng mặt);
    7. Ông Trần Nhật T1, sinh năm 1982 (Vắng mặt);
    8. Bà Đoàn Thị Thanh N, sinh năm 1988 (Vắng mặt).

    Cùng địa chỉ: Số F, Khu phố D, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 01/3/2022 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Trần Thị Cẩm H trình bày:

Bà Hông L qua thời gian tìm hiểu một năm thì cả hai tự nguyện tiến tới hôn nhân vào năm 2002, có tổ chức đám cưới, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

Vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do: đời sống kinh tế gia đình khó khăn, giữa bà H và gia đình chồng cũng không hòa thuận nên dẫn đến việc vợ chồng thường xuyên gây gỗ, cãi vã; ông L không có sự quan tâm, chăm sóc đến cuộc sống gia đình dẫn đến việc mâu thuẫn vợ chồng ngày một trầm trọng. Nay bà xác nhận không còn tình cảm với ông L, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu được ly hôn với ông L.

Về con chung: Bà H xác nhận giữa bà Hông L có 01 (Một) con chung, họ và tên là Đỗ Thị Hồng T2 (Giới tính: nữ), sinh ngày 27/11/2003 (Đã trưởng thành).

Về tài sản chung: Tại đơn khởi kiện ngày 01/3/2022, bà H yêu cầu chia tài sản chung của bà Hông L là căn nhà số F L, Khu phố D, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; Bà H đề nghị được hưởng giá trị tài sản chung với số tiền là 4.000.000.000 (Bốn tỷ) đồng.

Ngày 01/7/2022, bà Trần Thị Cẩm H có đơn đề nghị rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc chia tài sản chung, bà Hông L sẽ tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung trong vụ án này.

Về nợ chung: Bà H xác nhận giữa bà và ông L có một khoản nợ chung tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần B1. Cụ thể bà và ông L có ký hai hợp đồng vay tiền như sau với Ngân hàng Thương mại Cổ phần B1: Hợp đồng tín dụng số 0122100000500 ngày 19/01/2021 và Hợp đồng tín dụng số 0122100003500 ngày 14/4/2021. Để bảo đảm nghĩa vụ trả nợ đối với các khoản vay theo các hợp đồng tín dụng nêu trên, bà và ông L đã ký với Ngân hàng Thương mại Cổ phần B1 hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất số 0122100000600 ngày 19/01/2021. Đối với khoản nợ này, bà yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật. Do điều kiện kinh tế hiện tại của bà rất khó khăn nên bà không có khả năng trả nợ cho Ngân hàng nên bà đồng ý xử lý tài sản thế chấp để trả nợ cho ngân hàng. Ngoài ra, bà H xác nhận: giữa bà Hông L không còn bất kỳ khoản nợ chung nào khác.

Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Trần Thị Cẩm H xác định lại các yêu cầu như trên. Đồng thời bà H trình bày thêm:

Quá trình sống chung thời gian đầu vợ chồng rất hạnh phúc, nhưng do ông L có tính cờ bạc, đá gà, thường xuyên rượu chè, không chăm lo cho gia đình; thiếu trách nhiệm với vợ con; không bảo vệ bà H khi bà H bị gia đình chồng đánh. Bà H đã nhiều lần cho ông L cơ hội nhưng bản tính ông L không thay đổi, cụ thể là bà đã nhiều lần dọn đồ đi khỏi nhà sau đó bà đồng ý quay về với ông Lông L năn nỉ bà quay về tiếp tục xây dựng cuộc sống gia đình, ông L hứa sẽ thay đổi. Nhưng mỗi lần bà đồng ý quay về sống chung thì ông L vẫn tính nào tật ấy, vẫn không thay đổi. Mâu thuẫn đến đỉnh điểm là vào khoảng giữa năm 2021, bà và ông L cãi nhau thì con ruột của ông, bà là Đỗ Thị Hồng T2 có can ngăn thì ông L cầm dao đuổi chém. Nên từ đó, bà quyết tâm dọn ra khỏi nhà cho đến nay. Bà không đồng ý quay về đoàn tụ cùng ông L theo như yêu cầu của ông L và đề nghị Tòa án cho bà được ly hôn với ông L.

Đối với tài sản chung: bà không yêu cầu chia tài sản chung trong vụ án này, sau khi xử lý tài sản thế chấp trả được nợ ngân hàng thì bà và ông L sẽ tự thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được bà sẽ đề nghị giải quyết trong vụ án khác.

Đối với nợ chung thì bà xác nhận: bà có cùng ông L ký các hợp đồng tín dụng vay tiền và hợp đồng thế chấp với Ngân hàng Thương mại Cổ phần B1 nhưng bà không sử dụng số tiền vay đó. Tuy nhiên, bà vẫn đồng ý cùng ông L có trách nhiệm trả tiền nợ cho Ngân hàng, hiện tại tình hình kinh tế khó khăn nên bà đề nghị được trả nợ cho Ngân hàng theo phương thức bán tài sản thế chấp để Ngân hàng thu hồi nợ.

Về phía bị đơn ông Đỗ Hồng L, tại bản tự khai ngày 07/4/2022 và ngày 26/9/2022, ông L trình bày:

Ông không đồng ý ly hôn vì ông còn thương vợ và có một đứa con. Bà H giận vì ông không làm tròn trách nhiệm với gia đình nên đã dẫn con bỏ đi về nhà cha mẹ từ tháng 3/2021 đến nay. Ông xác định vẫn còn tình cảm với bà H nên yêu cầu được đoàn tụ.

Ông L xác nhận có vay tiền của Ngân hàng B1 với tổng số tiền vay 02 lần là 400.000.000 đồng. Nay Ngân hàng bản việt yêu cầu trả số tiền gốc là 388.099.981 đồng và tiền lãi phát sinh thì ông đồng ý trả nhưng do khó trong việc làm ăn và hậu covid nên ông đang bán nhà chưa có người mua. Mong Ngân hàng B1 xem xét cho ông có thời gian trả nợ.

Sau đó, ông L vắng mặt không có lý do, không có văn bản, ý kiến phản hồi, không đưa ra phương án hòa giải đoàn tụ, không tham gia phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải và phiên tòa mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để tham gia giải quyết vụ án, tham gia phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng Thương mại Cổ phần B1ông Đào Hoàng Q là người đại diện theo ủy quyền trình bày:

Ngân hàng Thương mại Cổ phần B1 (gọi tắt là Ngân hàng) có kí các thỏa thuận cho vay vốn với ông Đỗ Hồng Lbà Trần Thị Cẩm H (gọi tắt là ông Lbà H), nội dung cụ thể như sau:

- Hợp đồng tín dụng số 0122100000500 ngày 19/01/2021, giải ngân theo Giấy nhận nợ số 0122100000500001 ngày 22/01/2021. Số tiền cho ông Đỗ Hồng Lbà Trần Thị Cẩm H vay là 200.000.000 đồng; Mục đích vay: tiêu dùng phục vụ đời sống; Thời hạn vay: 84 tháng; Lãi suất 10%/năm cố định 12 tháng đầu tiên, lãi suất của toàn bộ dư nợ vay phát sinh nêu trên sẽ được Ngân hàng quyết định điều chỉnh theo định kỳ 03 tháng/lần kể từ tháng thứ 13 trở đi tính từ ngày giải ngân, với mức lãi suất bằng lãi suất cho vay cơ sở của Ngân hàng tại thời điểm điều chỉnh + biên độ 4%/năm. (Theo thông báo số 727/2020/TB-SP&MKT ngày 29/12/2020); Lãi suất quá hạn: 150% mức lãi suất trong hạn; Lãi chậm trả lãi: 10%/năm/số tiền lãi trong hạn chậm thanh toán; Phương thức thanh toán: Trả lãi vay ngày 20 định kỳ 01 tháng/lần, trả nợ gốc vào ngày 20 định kỳ 01 tháng/lần.

Ông L, bà H đã thanh toán số tiền tổng cộng là: 16.041.566 đồng. Trong đó nợ gốc là: 9.520.019 đồng và nợ lãi là 6.521.547 đồng. Kể từ ngày 22/6/2021, ông Lbà H đã ngưng không thanh toán nợ cho Ngân hàng.

Tạm tính đến ngày 11/7/2024 thì ông Lbà H còn nợ Ngân hàng số tiền 283.599.907 đồng, trong đó: Nợ gốc là 190.479.981 đồng; Nợ lãi trong hạn là 54.982.262 đồng; Nợ lãi quá hạn là 26.962.641 đồng và nợ lãi chậm trả lãi là 9.175.023 đồng.

- Hợp đồng tín dụng số 0122100003500 ngày 14/4/2021, giải ngân theo Giấy nhận nợ số 0122100003500001 ngày 15/04/2021. Số tiền vay: 200.000.000 đồng; Mục đích vay: sửa chữa nhà; Thời hạn vay: 84 tháng; Lãi suất: 12,5%/năm cố định 12 tháng đầu tiên, lãi suất của toàn bộ dư nợ vay phát sinh nêu trên sẽ được Ngân hàng quyết định điều chỉnh theo định kỳ 03 tháng/lần kể từ tháng thứ 13 trở đi tính từ ngày giải ngân, với mức lãi suất bằng lãi suất cho vay cơ sở của Ngân hàng tại thời điểm điều chỉnh + biên độ 4%/năm. (theo thông báo số 117/2021/TB-SP&MKT ngày 30/03/2021); Lãi suất quá hạn: 150% lãi suất trong hạn; Lãi suất chậm trả lãi: 10%/năm; Phương thức thanh toán: Trả lãi vay ngày 20 định kỳ 01 tháng/lần, trả nợ gốc vào ngày 20 định kỳ 01 tháng/lần.

Ông L, bà H đã thanh toán với số tiền tổng cộng là 4.777.260 đồng. Trong đó nợ gốc là 2.380.000 đồng và nợ lãi là 2.397.260 đồng. Kể từ ngày 22/6/2021, ông Lbà H ngưng không thanh toán nợ cho Ngân hàng.

Tạm tính đến ngày 11/7/2024, ông Lbà H còn nợ Ngân hàng số tiền là 298.180.819 đồng, trong đó: Nợ gốc là 197.620.000 đồng; Nợ lãi trong hạn là 62.986.084 đồng; Nợ lãi quá hạn là 27.070.977 đồng và nợ lãi chậm trả lãi là 10.503.758 đồng.

Để bảo đảm nghĩa vụ trả nợ đối với các khoản vay theo hai hợp đồng tín dụng nêu trên, ông Lbà H đã ký với Ngân hàng hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất số 0122100000600 ngày 19/01/2021. Hợp đồng thế chấp nêu trên đã được công chứng tại Văn phòng C, số công chứng 000499 quyển số 01 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 19/01/2021 và đã được đăng ký thế chấp tài sản, đăng ký giao dịch bản đảm theo đúng quy định của pháp luật. Tài sản bảo đảm cụ thể gồm: Quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 646, tờ bản đồ số 14 tọa lạc tại đường L, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh có diện tích 92,5 m² đất ở tại đô thị, hình thức sử dụng riêng 92,5 m², thời hạn sử dụng lâu dài, có nguồn gốc sử dụng do nhận chuyển nhượng đất được công nhận quyền sử dụng đất như giao đất có thu tiền sử dụng đất, và tài sản gắn liền với đất ở là nhà ở riêng lẻ có diện tích xây dựng 47,5 m², diện tích sàn 92,8m², theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành số BY 618147, số vào sổ cấp GCN số 03444 do Sở T5 cấp ngày 23/09/2015 cho ông Đỗ Hồng Lbà Trần Thị Cẩm H.

Do ông Lbà H vi phạm nghĩa vụ trả nợ của hai hợp đồng, Ngân hàng khởi kiện bị đơn thanh toán tiền còn nợ lại của hai hợp đồng nêu trên tổng cộng là 581.780.726 đồng, trong đó nợ gốc là: 388.099.981 đồng; nợ lãi trong hạn là 119.968.346 đồng; nợ lãi quá hạn là 54.033.618 đồng và nợ lãi chậm trả lãi là 19.678.781 đồng.

Ngoài ra kể từ ngày 12/7/2024, ông Lbà H còn phải tiếp tục chịu lãi trên số tiền chậm thi hành án cho đến khi trả xong nợ theo mức lãi suất thỏa thuận của Hợp đồng tín dụng số 0122100000500 ngày 19/01/2021 và Hợp đồng tín dụng số 0122100003500 ngày 14/4/2021.

Trường hợp ông Lbà H không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì đề nghị Tòa án tuyên Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp là: Quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 646, tờ bản đồ số 14 tọa lạc tại đường L, phường T, Quận G, TP. có diện tích 92,5 m² đất ở tại đô thị, hình thức sử dụng riêng 92,5 m² và tài sản gắn liền với đất ở là nhà ở riêng lẻ có diện tích xây dựng 47,5 m², diện tích sàn 92,8m², theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành số BY 618147, số vào sổ cấp GCN số 03444 do Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cấp ngày 23/09/2015 cho ông Đỗ Hồng Lbà Trần Thị Cẩm H để thu hồi nợ cho Ngân hàng. Toàn bộ số tiền thu được từ việc bán/xử lý tài sản bảo đảm theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất số 0122100000600 ngày 19/01/2021 được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của ông Đỗ Hồng Lbà Trần Thị Cẩm H tại Ngân hàng. Nếu số tiền thu được từ việc bán/xử lý tài sản bảo đảm nêu trên không đủ thanh toán hết khoản nợ thì ông Đỗ Hồng L, bà Trần Thị Cẩm H có nghĩa vụ tiếp tục trả hết khoản nợ còn thiếu cho Ngân hàng.

Tại phiên tòa:

Đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng trình bày thêm: Để tạo điều kiện cho ông Lbà H trả nợ và để có lợi cho ông Lbà H thì Ngân hàng chỉ chuyển nợ gốc quá hạn đối với các khoản nợ gốc đến hạn thanh toán nhưng ông Lbà H chưa thanh toán chứ không chuyển toàn bộ khoản dư nợ gốc sang nợ quá hạn khi ông Lbà H vi phạm nghĩa vụ thanh toán.

Do ông Lbà H vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên đề nghị ông Lbà H thanh toán tổng số tiền còn nợ của hai hợp đồng là 581.780.726 đồng, trong đó:

  • Số tiền nợ theo Hợp đồng tín dụng số 0122100000500 ngày 19/01/2021 là 283.599.907 đồng, trong đó: Nợ gốc là 190.479.981 đồng; Nợ lãi trong hạn là 54.982.262 đồng; Nợ lãi quá hạn là 26.962.641 đồng và nợ lãi chậm trả lãi là 9.175.023 đồng;
  • Số tiền nợ theo Hợp đồng tín dụng số 0122100003500 ngày 14/4/2021 là 298.180.819 đồng, trong đó: Nợ gốc là 197.620.000 đồng; Nợ lãi trong hạn là 62.986.084 đồng; Nợ lãi quá hạn là 27.070.977 đồng và nợ lãi chậm trả lãi là 10.503.758 đồng.

Thanh toán một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Ngoài ra kể từ ngày 12/7/2024, ông Lbà H còn phải tiếp tục chịu lãi trên số tiền gốc chậm thi hành án cho đến khi trả xong nợ gốc, chịu nợ lãi quá hạn đối với số nợ gốc quá hạn chưa thanh toán và tiếp tục chịu nợ lãi chậm trả lãi cho đến khi thanh toán xong nợ lãi trong hạn theo mức lãi suất thỏa thuận của Hợp đồng tín dụng số 0122100000500 ngày 19/01/2021 và Hợp đồng tín dụng số 0122100003500 ngày 14/4/2021. Đồng thời đề nghị việc xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ như đã trình bày nêu trên.

Ngân hàng chỉ yêu cầu ông Lbà H cùng có trách nhiệm trả nợ, không yêu cầu đối với ai khác.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần K và bà Tôn Nữ Thị B trình bày:

Ông Kbà B chỉ là người thuê trọ ở lầu 1 căn nhà 6, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Kbà B xác định không có liên quan hay ý kiến gì đối với vụ án vì ông K bà B chỉ thuê trọ, không có đóng góp xây dựng, sửa chữa gì đối với căn nhà trên. Do đi làm nên đề nghị được vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Minh H1, ông Nguyễn Quốc T, bà Cao Thị Thúy H2, ông Trần Nhật T1 và bà Đoàn Thị Thanh N: trong suốt quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân Quận 7 đã nhiều lần triệu tập những người đang cư trú trên tài sản thế chấp là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nêu trên đến trụ sở Tòa án để giải quyết vụ kiện theo đúng quy định pháp luật nhưng những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nêu trên không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì, vắng mặt không có lý do, không có văn bản, ý kiến phản hồi mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để tham gia giải quyết vụ án, tham gia phiên tòa.

Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án:

  • Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định về thẩm quyền thụ lý; Về xác định tư cách tham gia tố tụng; Xác minh, thu thập chứng cứ, giao nhận chứng cứ; Trình tự thụ lý, việc giao nhận thông báo thụ lý; Về thời hạn chuẩn bị xét xử không đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa: đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
  • Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:
    • - Nguyên đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Ngân hàng TMCP B1, ông Trần Kbà Tôn Nữ Thị B đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.
    • - Bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Trần Minh H1, ông Nguyễn Quốc T, bà Cao Thị Thúy H2, ông Trần Nhật T1, bà Đoàn Thị Thanh N không thực hiện đúng quyền nghĩa vụ của mình tại Điều 72, 73 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

* Về nội dung:

  • Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của nguyên đơn bà Trần Thị Cẩm H.
  • + Về quan hệ hôn nhân: cho bà Trần Thị Cẩm H được ly hôn với ông Đỗ Hồng L.
  • + Về con chung: Bà H xác nhận giữa bà và ông L có 01 con chung, họ và tên Đỗ Thị Hồng T2 (nữ), sinh năm 2003 (Đã trưởng thành).
  • + Về tài sản chung: Đề nghị đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc chia tài sản chung. Các đương sự tự thỏa thuận.
  • + Về nợ chung: Chấp nhận yêu cầu độc lập của Ngân hàng Thương mại Cổ phần B1:

Buộc ông Đỗ Hồng L, bà Trần Thị Cẩm H phải thanh toán toàn bộ khoản nợ của Ngân hàng TMCP B1 theo Hợp đồng tín dụng số 0122100000500 ngày 19/01/2021 và Hợp đồng tín dụng số 0122100003500 ngày 14/4/2021, tính đến ngày 11/7/2024 là 581.780.726 đồng. Ông Đỗ Hồng L, bà Trần Thị Cẩm H tiếp tục phải chịu lãi phát sinh kể từ ngày 12/7/2024 theo mức lãi suất thỏa thuận được quy định cho đến khi trả hết nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần B1.

Trường hợp ông Đỗ Hồng L, bà Trần Thị Cẩm H vi phạm việc thanh toán số nợ trên thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần B1 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án phát mãi tài sản đảm bảo để thu hồi nợ cho Ngân hàng là: Quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 646, tờ bản đồ số 14 tọa lạc tại đường L, phường T, Quận G, có diện tích 92,5 m² đất ở tại đô thị, hình thức sử dụng riêng 92,5 m², thời hạn sử dụng lâu dài, có nguồn gốc sử dụng do nhận chuyển nhượng đất được công nhận quyền sử dụng đất như giao đất có thu tiền sử dụng đất, và tài sản gắn liền với đất là nhà ở riêng lẻ có diện tích xây dựng 47,5 m², diện tích sàn 92,8 m², chi tiết theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành số BY618147, số vào sổ cấp GCN số 03444 do Sở T5 cấp ngày 23/9/2015 cho ông Đỗ Hồng L, bà Trần Thị Cẩm H.

Về án phí: Bà Trần Thị Cẩm H chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Ông Đỗ Hồng L, bà Trần Thị Cẩm H chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc trả nợ chung theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Nguyên đơn bà Trần Thị Cẩm H yêu cầu khởi kiện tranh chấp ly hôn với bị đơn ông Đỗ Hồng L; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Ngân hàng Thương mại Cổ phần B1 khởi kiện độc lập yêu cầu ông Đỗ Hồng Lbà Trần Thị Cẩm H thanh toán nợ chung; Đây là tranh chấp về ly hôn và nợ chung là loại tranh chấp được quy định tại Khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và bị đơn ông Đỗ Hồng L cư trú tại Quận G nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh theo Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[1.2] Nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải vụ án nên Tòa án không tiến hành hòa giải vụ án theo quy định tại Khoản 4 Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[1.3] Về phía bị đơn, trong suốt quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân Quận 7 đã nhiều lần triệu tập bị đơn đến trụ sở Tòa án để giải quyết vụ kiện theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng bị đơn chỉ đến Tòa trình bày bản tự khai sau đó vắng mặt không có lý do, không có ý kiến phản hồi mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ. Do đó, Tòa án không thể tiến hành hòa giải theo quy định pháp luật và thuộc trường hợp đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để tham gia giải quyết vụ án, tham gia phiên tòa nên Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt ông L theo Điểm b Khoản 2 Điều 227; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[1.4] Về việc đưa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vào tham gia tố tụng:

Tại biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 16/01/2024, ông L trình bày: tài sản thế chấp có ông Đỗ Hồng L, ông Trần Nhật T1, bà Đoàn Thị Thanh N, ông Trần Kiến T3, ông Nguyễn Văn Đ, bà Cao Thị Thu H3, ông Nguyễn Quốc T, ông Trần K, bà Tôn Nữ Thị BTrần Minh H1 cư trú.

Tại Quyết định yêu cầu cung cấp tài liệu chứng cứ số 87/2024/QĐ-CCTLCC ngày 29/02/2024, Công an phường T, Quận G xác minh trên tài sản thế chấp có các nhân khẩu sau đang cư trú: gồm ông Đỗ Hồng L, ông Trần K, bà Tôn Nữ Thị B, ông Trần Minh H1, ông Nguyễn Quốc T, bà Cao Thị Thúy H2, ông Trần Nhật T1bà Đoàn Thị Thanh N.

Do đó, Hội đồng xét xử xác định những người cư trú trên tài sản thế chấp gồm có: ông Trần K, bà Tôn Nữ Thị B, ông Trần Minh H1, ông Nguyễn Quốc T, bà Cao Thị Thúy H2, ông Trần Nhật T1bà Đoàn Thị Thanh N và đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết nợ chung trong vụ án.

[1.5] Đối với những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Minh H1, ông Nguyễn Quốc T, bà Cao Thị Thúy H2, ông Trần Nhật T1, bà Đoàn Thị Thanh N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Minh H1, ông Nguyễn Quốc T, bà Cao Thị Thúy H2, ông Trần Nhật T1bà Đoàn Thị Thanh N.

[1.6] Đối với những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: ông Trần Kbà Tôn Nữ Thị B có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; Nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt ông Kbà B theo quy định tại Khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Căn cứ Khoản 4 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì ông Đỗ Hồng L và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: ông Trần Minh H1, ông Nguyễn Quốc T, bà Cao Thị Thúy H2, ông Trần Nhật T1bà Đoàn Thị Thanh N đã tự tước bỏ quyền được chứng minh của mình qua việc không đến Tòa tham gia tố tụng nên phải chịu hậu quả của việc không chứng minh theo quy định tại Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án giải quyết vụ việc theo những chứng cứ có trong hồ sơ.

[3] Căn cứ Khoản 1 Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Tòa án chỉ xem xét giải quyết khi đương sự có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu.

[4] Về yêu cầu của đương sự:

[4.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Cẩm Hông Đỗ Hồng L tự nguyện tiến đến hôn nhân và có đăng ký kết hôn vào năm 2002. Căn cứ vào sự xác nhận của ông L, bà H và căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 11, quyển số 01/2002 đăng ký ngày 31/01/2002 tại Ủy ban nhân dân phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh có đủ cơ sở để xác định bà Hông L là vợ chồng hợp pháp, được pháp luật thừa nhận.

Về yêu cầu được ly hôn với ông Đỗ Hồng L của bà Trần Thị Cẩm H, Hội đồng xét xử xét thấy:

Trong quá trình thụ lý, giải quyết Tòa án đã thực hiện các thủ tục tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông Đỗ Hồng L chỉ đến Tòa trình bày bản tự khai không đồng ý ly hôn vì ông còn thương vợ, nhưng ông không đưa ra phương án hòa giải đoàn tụ. Sau đó, ông L không đến Tòa án tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, tham gia hòa giải, không có các biện pháp cụ thể để hàn gắn tình cảm vợ chồng thể hiện sự thiếu quan tâm đến việc xây dựng gia đình, bỏ mặc quan hệ hôn nhân với bà H. Thực tế là từ khi ông L đề nghị đoàn tụ đến nay thì ông Lbà H vẫn sống ly thân. Đồng thời, Tòa án cũng như Hội đồng xét xử đề nghị bà H cho ông L thêm cơ hội để vợ chồng đoàn tụ, cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc nhưng bà H không đồng ý, giữ nguyên yêu cầu khởi kiện ly hôn với ông L. Theo quy định tại Khoản 4 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ và lời trình bày của bà H về nguyên nhân mâu thuẫn làm căn cứ để giải quyết vụ án. Nguyên nhân mâu thuẫn theo bà H trình bày trong phần nội dung vụ án, có căn cứ để xác định mâu thuẫn trong mối quan hệ hôn nhân giữa bà Hông L đã đến mức trầm trọng, cả hai đã li thân từ năm 2021 đến nay, cho thấy mối quan hệ hôn nhân giữa bà Hông L không đạt được, nếu tiếp tục duy trì quan hệ hôn nhân giữa bà Hông L cũng chỉ là sự ràng buộc về mặt pháp lý sẽ không mang lại hạnh phúc cho nhau. Nên việc bà H yêu cầu ly hôn với ông L là có căn cứ chấp nhận phù hợp với quy định tại Điều 19, Khoản 1 Điều 51 và Khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình 2014.

[4.2] Về con chung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và trình bày của bà H có cơ sở xác định: Trong quá trình sống chung bà Trần Thị Cẩm Hông Đỗ Hồng L có 01 (Một) con chung, họ tên là Đỗ Thị Hồng T2 (Giới tính: Nữ), sinh ngày 27/11/2003. Đã trưởng thành.

[4.3] Về tài sản chung: Tại đơn khởi kiện về việc ly hôn ngày 01/3/2022, về tài sản chung bà H yêu cầu chia. Ngày 01/7/2022, tại đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện bà H yêu cầu rút yêu cầu khởi kiện về việc chia tài sản chung và tại phiên tòa bà H xác nhận rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện về chia tài sản chung. Xét việc rút đơn của bà H là hoàn toàn tự nguyện. Căn cứ Khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử chấp nhận, đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của bà H về việc chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân của bà Trần Thị Cẩm H đối với ông Đỗ Hồng L.

[4.4] Về nợ chung:

Trong quá trình giải quyết vụ án bà Trần Thị Cẩm H, ông Đỗ Hồng L xác định có khoản nợ chung tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần B1 theo Hợp đồng tín dụng số 0122100000500 ngày 19/01/2021 và Hợp đồng tín dụng số 0122100003500 ngày 14/4/2021 và để bảo đảm nghĩa vụ trả nợ đối với các khoản vay theo các hợp đồng tín dụng nêu trên, bà và ông L đã ký với Ngân hàng hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất số 0122100000600 ngày 19/01/2021, tài sản thế chấp là nhà, đất mà ông L đang ở. Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Lbà H còn nợ lại Ngân hàng tổng số tiền nợ gốc là 388.099.981 đồng và khoản tiền lãi theo thỏa thuận tại các Hợp đồng tín dụng. Đây là những tình tiết không cần phải chứng minh theo qui định tại Khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Tại phiên tòa, bà H trình bày: bà thừa nhận bà có cùng ông L ký các Hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp với Ngân hàng nhưng do ông Lâm é bà đến Ngân hàng ký, bà không sử dụng số tiền vay nêu trên. Hội đồng xét xử xét thấy: Căn cứ hai Hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp thì các hợp đồng được xác lập vào thời điểm trong thời kì hôn nhân của bà Hông L và mục đích vay là vay tiêu dùng và sửa chữa nhà ở, việc bà H ký kết các hợp đồng trên là tự nguyện, không bị ai ép buộc. Bà H trình bày bị ông L ép đến Ngân hàng ký hợp đồng và sau khi ký hợp đồng thì ông L sử dụng vào mục đích riêng nhưng bà H không cung cấp được tài liệu chứng cứ nào chứng minh, đồng thời bà H xác nhận sau khi ký kết hợp đồng tín dụng thì ông L có đưa tiền cho bà H đóng tiền trả góp cho Ngân hàng. Điều này thể hiện bà H thừa nhận và đồng ý đối với việc vay tiền nêu trên. Đồng thời tại phiên tòa bà H vẫn đồng ý cùng ông L có trách nhiệm trả tiền nợ cho Ngân hàng, hiện tại tình hình kinh tế khó khăn nên bà đề nghị được trả nợ cho Ngân hàng theo phương thức bán tài sản thế chấp để Ngân hàng thu hồi nợ. Do đó, Hội đồng xét xử xác định đây là nợ chung của bà Hông L, nên ông Lbà H phải cùng có trách nhiệm trả nợ cho Ngân hàng là phù hợp với quy định của pháp luật tại các Điều 27 và Điều 37 Luật hôn nhân và gia đình và Điều 288 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Căn cứ vào các Hợp đồng tín dụng số 0122100000500 ngày 19/01/2021 và Hợp đồng tín dụng số 0122100003500 ngày 14/4/2021 được ký kết giữa ông Đỗ Hồng Lbà Trần Thị Cẩm H với Ngân hàng Thương mại Cổ phần B1; và căn cứ sự xác nhận của các đương sự như đã nêu trên có cơ sở xác định: tạm tính đến ngày 11/7/2024, ông Lbà H còn nợ Ngân hàng tổng số tiền là 581.780.726 đồng, trong đó:

  • Số tiền nợ theo Hợp đồng tín dụng số 0122100000500 ngày 19/01/2021 là 283.599.907 đồng, trong đó: Nợ gốc là 190.479.981 đồng; Nợ lãi trong hạn là 54.982.262 đồng; Nợ lãi quá hạn là 26.962.641 đồng và nợ lãi chậm trả lãi là 9.175.023 đồng;
  • Số tiền nợ theo Hợp đồng tín dụng số 0122100003500 ngày 14/4/2021 là 298.180.819 đồng, trong đó: Nợ gốc là 197.620.000 đồng; Nợ lãi trong hạn là 62.986.084 đồng; Nợ lãi quá hạn là 27.070.977 đồng và nợ lãi chậm trả lãi là 10.503.758 đồng.

Đến nay, ông Lbà H không thanh toán tiền còn nợ của hai hợp đồng tín dụng, đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Do đó yêu cầu khởi kiện độc lập của Ngân hàng Thương mại Cổ phần B1 về việc buộc ông Đỗ Hồng Lbà Trần Thị Cẩm H có nghĩa vụ trả khoản nợ vay theo Hợp đồng tín dụng số 0122100000500 ngày 19/01/2021 và Hợp đồng tín dụng số 0122100003500 ngày 14/4/2021, tạm tính đến ngày 11/7/2024 với tổng số tiền là 581.780.726 đồng như nêu trên một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật là có cơ sở, phù hợp với quy định tại Điều 91, Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Kể từ sau ngày xét xử sơ thẩm, ông Đỗ Hồng Lbà Trần Thị Cẩm H còn phải tiếp tục chịu lãi quá hạn, lãi trong hạn trên số tiền nợ gốc chậm thi hành cho đến khi trả xong nợ gốc và tiền lãi chậm trả cho đến khi trả xong nợ lãi trong hạn theo mức lãi suất thỏa thuận của Hợp đồng tín dụng số 0122100000500 ngày 19/01/2021 và Hợp đồng tín dụng số 0122100003500 ngày 14/4/2021.

Theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất số 0122100000600 ngày 19/01/2021 được ký kết giữa ông Đỗ Hồng Lbà Trần Thị Cẩm H với Ngân hàng Thương mại Cổ phần B1. Hợp đồng được xác lập trên cơ sở tự nguyện và đã được công chứng tại Văn phòng công chứng Lê Kim T4, số công chứng 000499 quyển số 01 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 19/01/2021 và đã được đăng ký thế chấp tài sản, đăng ký giao dịch bản đảm theo đúng quy định của pháp luật. Cho nên đối với yêu cầu của Ngân hàng trong trường hợp ông Lbà H không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán nợ nêu trên thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan chức năng phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ là phù hợp với thỏa thuận của các bên và quy định tại Khoản 2 Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Nếu tài sản bảo đảm không đủ để thanh toán nợ cho Ngân hàng thì ông Lbà H phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho đến khi tất toán toàn bộ khoản vay.

Ngay sau khi ông Đỗ Hồng Lbà Trần Thị Cẩm H thanh toán hết nợ thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần B1 có trách nhiệm tiến hành làm thủ tục giải chấp tài sản thế chấp và trả lại các bản chính giấy tờ liên quan đến tài sản thế chấp cho ông Đỗ Hồng Lbà Trần Thị Cẩm H.

[5] Về lệ phí xem xét thẩm định tại chỗ: Do yêu cầu của Ngân hàng Thương mại Cổ phần B1 được chấp nhận nên phía ông Lbà H phải chịu tiền lệ phí xem xét thẩm định tại chỗ. Ngân hàng Thương mại Cổ phần B1 đã nộp xong số tiền 10.000.000 đồng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ đối với tài sản thế chấp. Vì vậy, ông Lbà H có trách nhiệm thanh toán lại cho Ngân hàng số tiền 10.000.000 đồng theo quy định của pháp luật.

[6] Về án phí: Căn cứ quy định tại Khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Luật phí và lệ phí và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, các bên có nghĩa vụ chịu tiền án phí sơ thẩm như sau:

Nguyên đơn bà Trần Thị Cẩm H phải chịu án phí ly hôn. Do bà H rút yêu cầu khởi kiện về chia tài sản chung nên trả lại cho bà H số tiền tạm ứng án phí về chia tài sản chung đã nộp theo quy định.

Ông Đỗ Hồng Lbà Trần Thị Cẩm H phải chịu án phí nợ chung theo quy định pháp luật.

Ngân hàng Thương mại Cổ phần B1 không phải chịu án phí, hoàn lại số tiền tạm ứng án phí cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần B1.

[7] Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

[8] Kiểm sát viên đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và yêu cầu khởi kiện độc lập của Ngân hàng Thương mại Cổ phần B1 là phù hợp với nhận định trên của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 5; Khoản 1 Điều 28; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điểm b Khoản 2 Điều 227; Khoản 2 Điều 228; Điều 266 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 19, Điều 27, Điểu 37, Khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58 và Điều 59 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ Điều 288 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 91 và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng;

Căn cứ Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016;

Căn cứ vào Điều 26 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
    1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Trần Thị Cẩm Hông Đỗ Hồng L (Giấy chứng nhận kết hôn số 11, quyển số 01/2002 đăng ký ngày 31/01/2002 tại Ủy ban nhân dân phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh).
    2. Về con chung: Bà Trần Thị Cẩm Hông Đỗ Hồng L có 01 (Một) con chung, họ tên là Đỗ Thị Hồng T2 (Giới tính: Nữ), sinh ngày 27/11/2003. Đã trưởng thành.
    3. Về tài sản chung: Đình chỉ xét xử về yêu cầu chia tài sản chung của bà Trần Thị Cẩm H đối với ông Đỗ Hồng L.
  2. Về nợ chung: Chấp nhận yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng Thương mại Cổ phần B1.
    1. Buộc bà Trần Thị Cẩm Hông Đỗ Hồng L phải cùng có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần B1 tổng số tiền nợ của Hợp đồng tín dụng số 0122100000500 ngày 19/01/2021 và Hợp đồng tín dụng số 0122100003500 ngày 14/4/2021 tính đến ngày 11/7/2024 là 581.780.726 (Năm trăm tám mươi mốt triệu bảy trăm tám mươi ngàn bảy trăm hai mươi sáu) đồng, bao gồm:
      • - Số tiền nợ theo Hợp đồng tín dụng số 0122100000500 ngày 19/01/2021 là 283.599.907 (Hai trăm tám mươi ba triệu năm trăm chín mươi chín ngàn chín trăm lẻ bảy) đồng, trong đó: Nợ gốc là 190.479.981 (Một trăm chín mươi triệu bốn trăm bảy mươi chín ngàn chín trăm tám mươi một) đồng; Nợ lãi trong hạn là 54.982.262 (Năm mươi bốn triệu chín trăm tám mươi hai ngàn hai trăm sáu mươi hai) đồng; Nợ lãi quá hạn là 26.962.641 (Hai mươi sáu triệu chín trăm sáu mươi hai ngàn sáu trăm bốn mươi mốt) đồng và nợ lãi chậm trả lãi là 9.175.023 (Chín triệu một trăm bảy mươi lăm ngàn không trăm hai mươi ba) đồng;
      • - Số tiền nợ theo Hợp đồng tín dụng số 0122100003500 ngày 14/4/2021 là 298.180.819 (Hai trăm chín mươi tám triệu một trăm tám mươi ngàn tám trăm mười chín) đồng, trong đó: Nợ gốc là 197.620.000 (Một trăm chín mươi bảy triệu sáu trăm hai mươi ngàn) đồng; Nợ lãi trong hạn là 62.986.084 (Sáu mươi hai triệu chín trăm tám mươi sáu ngàn không trăm tám mươi bốn) đồng; Nợ lãi quá hạn là 27.070.977 (Hai mươi bảy triệu không trăm bảy mươi ngàn chín trăm bảy mươi bảy) đồng và nợ lãi chậm trả lãi là 10.503.758 đồng (Mười triệu năm trăm lẻ ba ngàn bảy trăm năm mươi tám) đồng.

      Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, ông Đỗ Hồng Lbà Trần Thị Cẩm H còn phải tiếp tục chịu lãi quá hạn, lãi trong hạn trên số tiền nợ gốc chậm thi hành cho đến khi trả xong nợ gốc và tiền lãi chậm trả cho đến khi trả xong nợ lãi trong hạn theo mức lãi suất thỏa thuận của Hợp đồng tín dụng số 0122100000500 ngày 19/01/2021 và Hợp đồng tín dụng số 0122100003500 ngày 14/4/2021, các bên có thỏa thuận về điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng nên lãi suất mà bà Trần Thị Cẩm Hông Đỗ Hồng L phải tiếp tục thanh toán cho ngân hàng cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của ngân hàng.

    2. Ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, bà Trần Thị Cẩm H và ông Đỗ Hồng L không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần B1 thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần B1 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản đảm bảo theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất số 0122100000600 ngày 19/01/2021 là: Quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 646, tờ bản đồ số 14 tọa lạc tại đường L, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh có diện tích 92,5 m² và tài sản gắn liền với đất ở là nhà ở riêng lẻ có diện tích xây dựng 47,5 m², diện tích sàn 92,8 m² do ông Đỗ Hồng Lbà Trần Thị Cẩm H đứng tên theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành số BY 618147, số vào sổ cấp GCN số 03444 do Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cấp ngày 23/09/2015. Nếu tài sản bảo đảm không đủ để thanh toán nợ cho Ngân hàng thì ông Lbà H phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho đến khi tất toán toàn bộ khoản vay.
    3. Khi bà Trần Thị Cẩm Hông Đỗ Hồng L thanh toán hết nợ thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần B1 có trách nhiệm tiến hành làm thủ tục giải chấp và trả lại cho bà Trần Thị Cẩm Hông Đỗ Hồng L bản chính Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành số BY 618147, số vào sổ cấp GCN số 03444 do Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cấp ngày 23/09/2015 đối với tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 646, tờ bản đồ số 14 tọa lạc tại đường L, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh có diện tích 92,5 m² và tài sản gắn liền với đất ở là nhà ở riêng lẻ có diện tích xây dựng 47,5 m², diện tích sàn 92,8m².
  3. Án phí sơ thẩm:
    1. Án phí ly hôn là 300.000 đồng, bà Trần Thị Cẩm H phải chịu nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo: Biên lai thu tạm ứng án phí số AA/2021/0014130 ngày 14/3/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.

      Hoàn trả cho bà Trần Thị Cẩm H số tiền tạm ứng án phí đã đóng do bà H rút yêu cầu về việc chia tài sản chung là 56.000.000 (Năm mươi sáu triệu) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí số AA/2021/0014131 ngày 14/3/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.

    2. Ngân hàng Thương mại Cổ phần B1 không phải chịu án phí. Hoàn lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần B1 số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 10.733.688 (Mười triệu bảy trăm ba mươi ba ngàn sáu trăm tám mươi tám) đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2021/0014428 ngày 08/6/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.
    3. Ông Đỗ Hồng Lbà Trần Thị Cẩm H phải chịu số tiền án phí đối với nợ chung là 27.271.229 (Hai mươi bảy triệu hai trăm bảy mươi mốt ngàn hai trăm hai mươi chín) đồng, nộp tại cơ quan Thi hành án có thẩm quyền.
  4. Về lệ phí xem xét thẩm định tại chỗ: bà Trần Thị Cẩm Hông Đỗ Hồng L phải thanh toán lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần B1 số tiền 10.000.000 (Mười triệu) đồng.
  5. Quyền yêu cầu thi hành án, thời hiệu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án:

    Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

  6. Án xử công khai, tuyên án vắng mặt bị đơn ông Đỗ Hồng L và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần K, bà Tôn Nữ Thị B, ông Trần Minh H1, ông Nguyễn Quốc T, bà Cao Thị Thúy H2, ông Trần Nhật T1bà Đoàn Thị Thanh N. Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - TAND TP.HCM;
  • - VKSND Quận 7;
  • - Chi cục THA DS Quận 7;
  • - Cơ quan đã thực hiện việc đăng ký kết hôn;
  • - Đương sự;
  • - Lưu, hồ sơ (Dung).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hà Thị Luyến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 442/2024/HNGĐ-ST ngày 11/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn và nợ chung

  • Số bản án: 442/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn và nợ chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà Trần Thị Cẩm H yêu cầu ly hôn đối với ông Đỗ Hồng L
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger