Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẾN TRE

Bản án số: 442/2024/DS-PT

Ngày: 22 - 8 - 2024

V/v “Tranh chấp hợp đồng góp hụi"

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

————————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Ngọt

Các Thẩm phán: Ông Phạm Văn Tỉnh

Bà Phạm Thị Thu Trang

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thảo Phương Vy – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Xa Riêng – Kiểm sát viên.

1

Ngày 22 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 209/2024/TLPT-DS ngày 04 tháng 7 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng góp hụi”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 122/2024/DS-ST ngày 27 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 2504/2024/QĐ-PT ngày 11 tháng 7 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa xét xử phúc thẩm số 2798/2024/QĐ-PT ngày 31 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị G, sinh năm: 1971; (Có mặt)

Địa chỉ: ấp K, xã P, huyện M, tỉnh Bến Tre.

- Bị đơn:

1. Bà Nguyễn Thị Huyền T, sinh năm 1971;

2. Ông Phan Văn Đ, sinh năm 1966;

Cùng địa chỉ: ấp L, xã P, huyện C, tỉnh Bến Tre.

Ông Đ ủy quyền cho bà T (Theo văn bản ủy quyền ngày 25 tháng 3 năm 2024) (Bà T có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt)

Người kháng cáo: Bị đơn bà Nguyễn Thị Huyền T, ông Phan Văn Đ.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo bản án sơ thẩm

Trong đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Phạm Thị G trình bày: Do có quen biết nên bà có tham gia hụi do bà Nguyễn Thị Huyền T tổ chức như sau:

Dây hụi thứ nhất: Hụi khui ngày 05/01/2022 âm lịch, hụi 5.000.000 đồng/tháng. Hụi gồm 26 người, bà tham gia 01 phần hụi. Bà đóng hụi sống được 25 tháng với số tiền hụi sống là 125.000.000 đồng. Sau khi trừ đi đầu thảo thì còn lại 122.500.000 đồng.

Dây hụi thứ hai: Hụi khui ngày 01/8/2022 (âm lịch), hụi 5.000.000 đồng/tháng. Hụi gồm 25 người, bà tham gia 04 phần hụi. Bà đóng hụi sống được 18 tháng với số tiền là 252.000.000 đồng. Tại phiên tòa bà cũng đồng ý số tiền bà đã đóng đối với dây hụi này là 218.520.000 đồng như bà T trình bày.

Dây hụi thứ ba: Hụi khui ngày 20/01/2023 (âm lịch), hụi 5.000.000 đồng/tháng. Hụi gồm 29 người, bà tham gia 01 phần hụi. Bà đóng hụi sống được 13 tháng với số tiền hụi là 45.500.000 đồng. Tại phiên tòa bà cũng đồng ý số tiền bà đã đóng đối với dây hụi này là 37.390.000 đồng như bà T trình bày.

Dây hụi thứ tư: Hụi khui ngày 15/4/2023 (âm lịch), hụi 5.000.000 đồng/tháng. Hụi gồm 30 người, bà tham gia 01 phần hụi. Bà đóng hụi sống được 09 tháng với số tiền hụi là 31.500.000 đồng. Tại phiên tòa bà cũng đồng ý số tiền bà đã đóng đối với dây hụi này là 26.560.000 đồng như bà T trình bày.

2

Dây hụi thứ năm: Hụi khui ngày 10/10/2023 (âm lịch), hụi 3.000.000 đồng/tháng. Hụi gồm 25 người, bà tham gia 01 phần hụi. Bà đóng hụi sống được 03 tháng với số tiền hụi là 6.000.000 đồng.

Dây hụi thứ sáu: Hụi khui ngày 10/12/2022 (âm lịch), hụi 1.000.000 đồng/tháng. Hụi gồm 25 người, bà tham gia 02 phần hụi. Bà đóng hụi sống được 14 tháng với số tiền là 19.040.000 đồng.

Dây hụi thứ bảy: Hụi khui ngày 15/8/2023 (âm lịch), hụi 1.000.000 đồng/tháng. Hụi gồm 27 người, bà tham gia 01 phần hụi. Bà đóng hụi sống được 05 tháng với số tiền hụi sống là 3.400.000 đồng.

Do vậy, bà yêu cầu bà Nguyễn Thị Huyền T và chồng là ông Phan Văn Đ liên đới trả lại số tiền hụi là 433.410.000 đồng.

Đối với số tiền lãi mà trong đơn khởi kiện bà yêu cầu là 14.794.000 đồng thì bà không yêu cầu nữa.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Nguyễn Thị Huyền T (đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của ông Phan Văn Đ) trình bày:

Bà thống nhất với trình bày của bà G về thời gian chơi hụi, số chân hụi và phần hụi mà bà G tham gia hụi do bà tổ chức. Đối với 07 dây hụi mà bà G yêu cầu thì bà Đ1 được số tiền hụi gốc như sau:

Dây hụi thứ nhất đóng được 73.370.000 đồng; dây hụi thứ hai đóng được 218.520.000 đồng (4 phần hụi); dây hụi thứ ba đóng được 37.390.000 đồng; dây hụi thứ tư đóng được 26.560.000 đồng; dây hụi thứ năm đóng được 6.000.000 đồng; dây hụi thứ sáu đóng được 19.040.000 đồng; dây hụi thứ bảy đóng được 3.400.000 đồng.

Tổng số tiền hụi gốc mà bà G đã đóng là 384.280.000 đồng. Tuy nhiên, do trong quá trình chơi hụi thì có một số hụi viên hốt hụi nhưng không đóng hụi chết dẫn đến việc bà không giao được hụi cho các hụi viên còn lại.

Nay bà đề nghị bà G bớt số tiền hụi lại. Cụ thể là bà và ông Đ đồng ý trả cho bà G số tiền hụi mà bà đã đóng với tổng số tiền là 384.280.000 đồng nhưng trả từ từ mỗi tháng 1.000.000 đồng.

Do hòa giải không thành, Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách đưa vụ án ra xét xử.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 122/2024/DS-ST ngày 27 tháng 5 năm 2024, Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách quyết định:

Căn cứ vào các Điều 471, 357, 468 Bộ luật dân sự.

Các Điều 147, 271 và 273, 244 Bộ luật tố tụng dân sự.

Các Điều 26, 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

3

Tuyên xử:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Buộc bà Nguyễn Thị Huyền T và ông Phan Văn Đ phải liên đới trả lại cho bà Phạm Thị G số tiền hụi là 433.410.000 đồng (bốn trăm ba mươi ba triệu bốn trăm mười ngàn đồng).

2. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với số tiền lãi là 14.794.000 đồng (mười bốn triệu bảy trăm chín mươi bốn ngàn đồng).

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ thi hành án, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 04/6/2024, bị đơn bà Nguyễn Thị Huyền T, ông Phan Văn Đ kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 122/2024/DS-ST ngày 27/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị G.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bà Nguyễn Thị Huyền T (đồng thời là đại diện theo ủy quyền của ông Phan Văn Đ) có yêu cầu xét xử vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Nguyên đơn bà Phạm Thị G không đồng ý kháng cáo của bà T, ông Đ và đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre phát biểu:

Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của pháp luật. Bị đơn kháng cáo và có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định tại khoản 3 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung:

Bản án sơ thẩm đã tuyên là có căn cứ. Kháng cáo của phía bị đơn là không có cơ sở để chấp nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị Huyền T, ông Phan Văn Đ; giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 122/2024/DSST ngày 27/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa; kết quả tranh tụng tại phiên tòa; ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên; xét kháng cáo của bà Nguyễn Thị Huyền T, ông Phan Văn Đ. Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Bị đơn bà Nguyễn Thị Huyền T, ông Phan Văn Đ kháng cáo và gửi thủ tục kháng cáo hợp lệ trong thời hạn luật định nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm; bà Nguyễn Thị Huyền T có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 3 Điều 296 Bộ luật tố tụng Dân sự 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà T.

4

Về nội dung:

[1] Bà Nguyễn Thị Huyền T thừa nhận bà Phạm Thị G có tham gia chơi hụi do bà T làm chủ hụi, sự thừa nhận của bà T là tình tiết không phải chứng minh theo Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Số dây hụi, giá trị của từng dây hụi và số phần hụi mà nguyên đơn bà G tham gia bao gồm:

[1.1] Dây hụi thứ nhất: Hụi khui ngày 05/01/2022, hụi 5.000.000 đồng/tháng, gồm 26 phần, nguyên đơn tham gia 01 phần; đóng hụi sống được 25 tháng. Dây hụi này do nguyên đơn hốt chót, số tiền hụi là 125.000.000 đồng (sau khi trừ đi tiền đầu thảo 2.500.000 đồng) nên nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả lại số tiền 122.500.000 đồng là phù hợp.

[1.2] Dây hụi thứ hai: Hụi khui ngày 01/8/2022 (âm lịch), hụi 5.000.000 đồng/tháng. Hụi gồm 25 người, bà tham gia 04 phần hụi. Bà G đóng hụi sống được 18 tháng với số tiền là 252.000.000 đồng. Bà G cũng đồng ý số tiền bà đã đóng đối với dây hụi này là 218.520.000 đồng như bà T trình bày ở phiên tòa sơ thẩm.

[1.3] Dây hụi thứ ba: Hụi khui ngày 20/01/2023 (âm lịch), hụi 5.000.000 đồng/tháng. Hụi gồm 29 người, bà G tham gia 01 phần hụi. Bà G đóng hụi sống được 13 tháng với số tiền hụi là 45.500.000 đồng. Bà G cũng đồng ý số tiền bà đã đóng đối với dây hụi này là 37.390.000 đồng như bà T trình bày ở phiên tòa sơ thẩm.

[1.4] Dây hụi thứ tư: Hụi khui ngày 15/4/2023 (âm lịch), hụi 5.000.000 đồng/tháng. Hụi gồm 30 người, bà G tham gia 01 phần hụi. Bà G đóng hụi sống được 09 tháng với số tiền hụi là 31.500.000 đồng. Bà G cũng đồng ý số tiền bà đã đóng đối với dây hụi này là 26.560.000 đồng như bà T trình bày ở phiên tòa sơ thẩm.

[1.5] Dây hụi thứ năm: Hụi khui ngày 10/10/2023 (âm lịch), hụi 3.000.000 đồng/tháng. Hụi gồm 25 người, bà G tham gia 01 phần hụi. Bà G đóng hụi sống được 03 tháng với số tiền hụi là 6.000.000 đồng.

[1.6] Dây hụi thứ sáu: Hụi khui ngày 10/12/2022 (âm lịch), hụi 1.000.000 đồng/tháng. Hụi gồm 25 người, bà G tham gia 02 phần hụi. Bà G đóng hụi sống được 14 tháng với số tiền là 19.040.000 đồng.

[1.7] Dây hụi thứ bảy: Hụi khui ngày 15/8/2023 (âm lịch), hụi 1.000.000 đồng/tháng. Hụi gồm 27 người, bà G tham gia 01 phần hụi. Bà G đóng hụi sống được 05 tháng với số tiền hụi sống là 3.400.000 đồng.

[1.8] Tại phiên tòa sơ thẩm, các đương sự thống nhất đối với dây hụi thứ 2 nguyên đơn đóng được 218.520.000 đồng; đối với dây hụi thứ 3 nguyên đơn đóng được 37.390.000 đồng; đối với dây hụi thứ 4 nguyên đơn đóng được 26.560.000

5

đồng. Tổng cộng là 282.470.000 đồng và các bên đồng ý việc bị đơn trả lại cho nguyên đơn số tiền này nên được chấp nhận.

Bà Phạm Thị G yêu cầu bà Nguyễn Thị Huyền T và ông Phan Văn Đ liên đới trả lại số tiền hụi là 433.410.000 đồng, không yêu cầu tính lãi. Bị đơn đề nghị trả dần số nợ nói trên, mỗi tháng trả 1.000.000 đồng nhưng phía nguyên đơn không đồng ý.

[2] Xét kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị Huyền T, ông Phan Văn Đ, nhận thấy:

[2.1] Bà T thừa nhận số chân hụi bà G tham gia, số phần hụi và thời gian đóng hụi phù hợp với lời trình bày của bà G. Các dây hụi trên là hụi có lãi. Do đó, thành viên tham gia hụi đã hốt hụi thì có nghĩa vụ trả lãi cho các thành viên chưa hốt hụi. Còn bà T là chủ hụi đứng ra tổ chức, quản lý dây hụi, có nghĩa vụ thu các phần hụi và giao các phần hụi đó cho thành viên được lĩnh hụi trong mỗi kỳ mở hụi cho tới khi kết thúc dây hụi. Mặc dù hiện nay bà T không còn tổ chức hụi tiếp tục nhưng vẫn phải thực hiện nghĩa vụ của chủ hụi như nhận định nêu trên. Bà G tham gia đóng hụi nhưng chưa hốt hụi nên bà T phải có nghĩa vụ gom hụi của các thành viên đã hốt hụi để giao hụi lại cho bà G với số tiền hụi mà bà G yêu cầu của mỗi dây hụi nêu trên là phù hợp. Bà T kháng cáo xin trả lại số tiền hụi gốc là 384.280.000 đồng mà bà G đã đóng và xin trả dần mỗi tháng 1.000.000 đồng cho đến khi hết số nợ hụi nhưng phía bà G không đồng ý.

Đối với kháng cáo của ông Đ (chồng bà T): Xét thấy, quá trình tố tụng, ông Đ đồng ý liên đới cùng bà T trả nợ cho bà G; do đó Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà G, buộc bà T và ông Đ phải có trách nhiệm liên đới trả cho bà G số tiền nợ hụi 433.410.000 đồng là có căn cứ.

[2.2] Bà T, ông Đ kháng cáo nhưng không có chứng cứ mới chứng minh tại phiên tòa phúc thẩm nên kháng cáo của bà T, ông Đ là không có căn cứ để chấp nhận.

[3] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[4] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị Huyền T, ông Phan Văn Đ; giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 122/2024/DSST ngày 27/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.

[5] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị đơn bà Nguyễn Thị Huyền T, ông Phan Văn Đ mỗi người phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

6

Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị Huyền T và ông Phan Văn Đ;

Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 122/2024/DSST ngày 27/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.

Căn cứ vào các Điều 471, 357, 468 Bộ luật dân sự.

Các Điều 147, 271, 273, 244 và khoản 3 Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự.

Các Điều 26, 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị G.

Buộc bà Nguyễn Thị Huyền T và ông Phan Văn Đ phải liên đới trả lại cho bà Phạm Thị G số tiền hụi là 433.410.000 đồng (bốn trăm ba mươi ba triệu bốn trăm mười ngàn đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

2. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với số tiền lãi là 14.794.000 đồng (mười bốn triệu bảy trăm chín mươi bốn ngàn đồng).

3. Về án phí sơ thẩm:

3.1. Bà Nguyễn Thị Huyền T và ông Phan Văn Đ phải liên đới nộp án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 21.336.000 đồng (hai mươi mốt triệu ba trăm ba mươi sáu ngàn đồng).

3.2. Hoàn trả cho nguyên đơn bà Pham Thị G1 số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 11.945.000 đồng (mười một triệu chín trăm bốn mươi lăm ngàn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0000771 ngày 10/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.

3. Về án phí phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị Huyền T và ông Phan Văn Đ mỗi người phải chịu án phí phúc thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà bà T và ông Đ mỗi người đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000923 và 0000924 cùng ngày 12/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre. Bà T và ông Đ đã nộp đủ án phí phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi

7

hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bến Tre (1b);
  • - TAND huyện Chợ Lách (1b);
  • - Chi cục THADS huyện Chợ Lách (1b);
  • - Các đương sự (4b);
  • - Phòng KTNV&THAHS tỉnh Bến Tre (2b);
  • - Lưu hồ sơ vụ án (2b).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Văn Ngọt

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Văn TỉnhPhạm Thị Thu Trang

Phạm Văn Ngọt

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 442/2024/DS-PT ngày 22/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE về tranh chấp hợp đồng góp hụi

  • Số bản án: 442/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng góp hụi
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 22/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng góp hụi
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger