Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 4415/2024/DS-ST

Ngày: 18/9/2024

V/v: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Minh

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Huỳnh Tiến Dũng
  2. Bà Nguyễn Thị Hương

- Thư ký phiên tòa: Bà Lưu Thị Ngọc Hương – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên toà: Bà Võ Thị Thanh Phượng- Kiểm sát Viên.

Ngày 18 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 26/2024/TLST-DS ngày 03/01/2024, về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 5987/2024/QĐXXST-DS ngày 29 tháng 7 năm 2024, và Quyết định hoãn phiên toà số 7264/2024/QÐST-DS ngày 24/8/2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần V.

Trụ sở: Số H L, phường L, quận Đ, Thành phố Hà Nội.

Địa chỉ liên lạc: Lầu A, số B Q, Phường C, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Khánh D, bà Nguyễn Thị Thanh N, ông Hoàng Thanh T (Văn bản ủy quyền số 2911/7/2024/UQ-VPBank ngày 08/8/2024) (Có đơn xin vắng mặt)

- Bị đơn: Ông Vũ Văn D1, sinh năm 1993 (Vắng mặt)

Địa chỉ thường trú: Số A Đường D, Khu phố F, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình tham gia tố tụng tại Toà, nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần V (sau đây gọi tắt là: Ngân hàng) có người đại diện theo uỷ quyền trình bày:

Ngày 11/6/2021, ông Vũ Văn D1 có ký Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng tài khoản thanh toán, dịch vụ ngân hàng Đ: DSA/VN0010325/202106/3911 tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần V.

Trên cơ sở Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng tài khoản thanh toán, dịch vụ ngân hàng Đ và các tài liệu ông D1 cung cấp, Ngân hàng đã tiến hành thẩm định và đồng ý cấp cho ông D1 khoản vay với thông tin chi tiết như sau:

  • Số tiền vay: 200,000,000 đồng
  • Mục đích sử dụng vốn: vay tiêu dùng
  • Thời hạn cho vay: 60 tháng, tính từ ngày giải ngân 24/6/2021
  • Lãi suất: 20%/năm. Lãi suất cho vay trong hạn được cố định đến ngày 30/9/2021, sau đó được điều chỉnh 03 tháng/01 lần, định kỳ vào ngày 01/01, 01/4, 01/7 và 01/10 hàng năm. Mức điều chỉnh lãi suất được xác định bằng lãi suất tham chiếu áp dụng với khoản vay có thời hạn cho vay tương ứng với thời hạn cho vay cộng biên độ 12%.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng vay, ông D1 đã thanh toán được tổng số tiền 78,660,963 đồng, cụ thể nợ gốc: 34,162,812 đồng, nợ lãi: 44,498,151 đồng. Do ông D1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên ngân hàng đã chuyển khoản vay sang nợ quá hạn kể từ ngày 15/10/2022 và áp dụng mức lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn. Tính đến ngày 18/9/2024, ông D1 nợ số tiền 272,458,956 đồng, bao gồm nợ vốn gốc 165,837,188 đồng, nợ lãi 106,621,768 đồng.

Nay nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn phải thanh toán khoản nợ trên và tiền lãi tiếp tục phát sinh kể từ ngày 19/9/2024 cho đến khi thanh toán hết nợ theo mức lãi suất quy định tại hợp đồng cho vay mà hai bên đã ký kết.

* Bị đơn ông Vũ Văn D1 đã được Toà án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để tham gia tố tụng tại Toà án nhưng đều vắng mặt nên Toà án không thể lấy lời khai của ông D1 được.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Ngoài việc vi phạm về thời hạn xét xử, Tòa án đã tiến hành tố tụng từ khi thụ lý cho đến khi mở phiên tòa đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và đương sự chấp hành đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ và hợp pháp, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông D1 phải thanh toán cho Ngân hàng số tiền nợ tạm tính đến ngày 18/9/2024 là 272,458,956 đồng, trong đó nợ vốn gốc 165,837,188 đồng, nợ lãi 106,621,768 đồng và tiền lãi phát sinh kể từ ngày 19/9/2024 cho đến khi thanh toán hết nợ theo mức lãi suất quá hạn mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được công khai tại phiên họp về việc kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, được xem xét tại phiên toà cùng lời khai của đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng:

Quan hệ tranh chấp trong vụ án là tranh chấp hợp đồng vay tài sản. Bị đơn ông Vũ Văn D1 có nơi cư trú tại địa chỉ số A Đường D, Khu phố F, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh nên tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại Khoản 3 Điều 26; Điểm a Khoản 1 Điều 35 và Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Ông Vũ Văn D1 đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia tố tụng tại phiên toà nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Theo quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt ông D1.

Người đại diện của nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ theo Khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

- Về nội dung:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn nộp, có cơ sở để khẳng định giữa nguyên đơn và ông Vũ Văn D1 đã phát sinh quan hệ vay tài sản.

Thực hiện hợp đồng vay, ông D1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng. Ngày 15/10/2022, nguyên đơn đã chuyển khoản vay sang nợ quá hạn và áp dụng mức lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn. Tính đến ngày 19/8/2024, ông D1 còn nợ Ngân hàng số tiền là 272,458,956 đồng, trong đó nợ vốn gốc 165,837,188 đồng, nợ lãi 106,621,768 đồng.

Việc nguyên đơn chuyển khoản vay sang nợ quá hạn và áp dụng mức lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn là phù hợp theo quy định của pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông D1 phải có nghĩa vụ thanh toán cho nguyên đơn số tiền nợ trên.

Bị đơn phải có nghĩa vụ thanh toán tiền lãi tiếp tục phát sinh trên số dư nợ gốc kể từ ngày 19/9/2024 cho đến khi thanh toán hết khoản nợ theo mức lãi suất quá hạn được quy định tại Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng tài khoản thanh toán, dịch vụ ngân hàng Đ: DSA/VN0010325/202106/3911 được ký kết giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần V và ông Vũ Văn D1.

-Về án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Vũ Văn D1 phải chịu án phí sơ thẩm trên số tiền phải có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng.

Ngân hàng không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Khoản 3 Điều 26; Điểm a Khoản 1 Điều 35 và Điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 186, Khoản 2 Điều 227, Khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 3, Điều 4, Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

Căn cứ Luật phí và lệ phí năm 2015;

Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008, được sửa đổi, bổ sung năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần V.

Buộc ông Vũ Văn D1 phải có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần V số tiền nợ tạm tính đến ngày 18/9/2024 là 272,458,956 đồng, trong đó nợ vốn gốc 165,837,188 đồng, nợ lãi 106,621,768.

Ông Vũ Văn D1 phải có nghĩa vụ thanh toán tiền lãi tiếp tục phát sinh trên số dư nợ gốc kể từ ngày 19/9/2024 cho đến khi thanh toán hết khoản nợ theo mức lãi suất quá hạn được quy định tại Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng tài khoản thanh toán, dịch vụ ngân hàng Đ: DSA/VN0010325/202106/3911 được ký kết giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần V và ông Vũ Văn D1.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Vũ Văn D1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 13,622,948 đồng.

Ngân hàng Thương mại Cổ phần V được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp 5,027,791 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0000253 ngày 29/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Về quyền kháng cáo: Ngân hàng Thương mại Cổ phần V, ông Vũ Văn D1 được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hánh án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân TP.HCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TP.HCM;
  • - Viện KSND thành phố Thủ Đức, Tp.HCM;
  • - Chi cục THADS thành phố Thủ Đức, Tp.HCM;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Lê Thị Minh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 4415/2024/DS-ST ngày 18/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 4415/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger