|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 4414/2024/DS-ST
Ngày: 18/9/2024
V/v: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Minh
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Huỳnh Tiến Dũng
- Bà Nguyễn Thị Hương
- Thư ký phiên tòa: Bà Lưu Thị Ngọc Hương – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên toà: Ông Trần Đức Sơn - Kiểm sát Viên.
Ngày 18 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 27/2024/TLST-DS ngày 03/01/2024, về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 5986/2024/QĐXXST-DS ngày 29 tháng 7 năm 2024, và Quyết định hoãn phiên toà số 7265/2024/QĐST-DS ngày 24/8/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần V.
Trụ sở: Số H L, phường L, quận Đ, Thành phố Hà Nội.
Địa chỉ liên lạc: Lầu A, số B Q, Phường C, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Khánh D, bà Nguyễn Thị Thanh N, ông Hoàng Thanh T (Văn bản ủy quyền số 2908/7/2024/UQ-VPBank ngày 08/8/2024) (Có đơn xin vắng mặt)
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thúy H, sinh năm 1984 (Vắng mặt)
Địa chỉ thường trú: Số A Đường số F, Tổ C, Khu phố C, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình tham gia tố tụng tại Toà, nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần V (sau đây gọi tắt là: Ngân hàng) có người đại diện theo uỷ quyền trình bày:
Ngày 09/8/2021, bà Nguyễn Thúy H có ký Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng tài khoản thanh toán, dịch vụ ngân hàng Đ: DSA/VN0010325/202108 tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần V.
Trên cơ sở Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng tài khoản thanh toán, dịch vụ ngân hàng Đ: LD2122102438 và các tài liệu bà H cung cấp, Ngân hàng đã tiến hành thẩm định và đồng ý cấp cho bà H khoản vay với thông tin chi tiết như sau:
- Số tiền vay: 100,000,000 đồng
- Mục đích sử dụng vốn: vay tiêu dùng
- Thời hạn cho vay: 26 tháng, tính từ ngày giải ngân 09/8/2021
- Lãi suất: 33%/năm. Lãi suất cho vay trong hạn được cố định đến ngày 31/12/2021, sau đó được điều chỉnh 03 tháng/01 lần, định ký vào ngày 01/01, 01/4, 01/7 và 01/10 hàng năm. Mức điều chỉnh lãi suất được xác định bằng lãi suất tham chiếu áp dụng với khoản vay có thời hạn cho vay tương ứng với thời hạn cho vay cộng biên độ 25%.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng vay, bà H đã thanh toán được tổng số tiền 39,733,258 đồng, cụ thể nợ gốc: 17,105,857 đồng, nợ lãi: 22,627,401 đồng. Do bà H vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên ngân hàng đã chuyển khoản vay sang nợ quá hạn kể từ ngày 05/6/2022. Tính đến ngày 18/9/2024, bà H nợ số tiền 182,451,280 đồng, trong đó nợ vốn gốc 82,894,143 đồng, nợ lãi 99,557,137 đồng.
Nay nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn phải thanh toán khoản nợ trên và tiền lãi tiếp tục phát sinh kể từ ngày 19/9/2024 cho đến khi thanh toán hết nợ theo mức lãi suất quá hạn quy định tại hợp đồng cho vay mà hai bên đã ký kết.
* Bị đơn bà Nguyễn Thúy H đã được Toà án tống đạt hợp lệ để tham gia tố tụng tại Toà án nhưng đều vắng mặt nên Toà án không thể lấy lời khai của đương sự được.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Ngoài việc vi phạm về thời hạn xét xử, Tòa án đã tiến hành tố tụng từ khi thụ lý cho đến khi mở phiên tòa đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và đương sự chấp hành đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ và hợp pháp, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bà H phải thanh toán cho Ngân hàng số tiền nợ tạm tính đến ngày 18/9/2024 là 182,451,280 đồng, trong đó nợ vốn gốc 82,894,143 đồng, nợ lãi 99,557,137 đồng và tiền lãi phát sinh kể từ ngày 19/9/2024 cho đến khi thanh toán hết nợ theo mức lãi suất quá hạn mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được công khai tại phiên họp về việc kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, được xem xét tại phiên toà cùng lời khai của đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Quan hệ tranh chấp trong vụ án là tranh chấp hợp đồng vay tài sản. Bị đơn bà Nguyễn Thúy H có nơi cư trú cuối cùng tại địa chỉ số A Đường D, Khu phố F, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh nên tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại Khoản 3 Điều 26; Điểm a Khoản 1 Điều 35 và Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Bà Nguyễn Thúy H đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia tố tụng tại phiên toà nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Theo quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bà H.
Người đại diện của nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ theo Khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Về nội dung:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn nộp, có cơ sở để khẳng định giữa nguyên đơn và bà Nguyễn Thúy H đã phát sinh quan hệ vay tài sản.
Thực hiện hợp đồng vay, bà H đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng. Ngày 05/6/2022, nguyên đơn đã chuyển khoản vay sang nợ quá hạn và áp dụng mức lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn. Tính đến ngày 19/8/2024, bà H còn nợ Ngân hàng số tiền là 182,451,280 đồng, trong đó nợ vốn gốc 82,894,143 đồng, nợ lãi 99,557,137 đồng.
Việc nguyên đơn chuyển khoản vay sang nợ quá hạn và áp dụng mức lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn là phù hợp theo quy định của pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bà H phải có nghĩa vụ thanh toán cho nguyên đơn số tiền nợ trên.
Bị đơn phải có nghĩa vụ thanh toán tiền lãi tiếp tục phát sinh trên số dư nợ gốc kể từ ngày 19/9/2024 cho đến khi thanh toán hết khoản nợ theo mức lãi suất quá hạn được quy định tại Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng tài khoản thanh toán, dịch vụ ngân hàng Đ: DSA/VN0010325/202108 được ký kết giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần V và bà Nguyễn Thúy H.
-Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Nguyễn Thúy H phải chịu án phí sơ thẩm trên số tiền phải có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng.
Ngân hàng không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Khoản 3 Điều 26; Điểm a Khoản 1 Điều 35 và Điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 186, Khoản 2 Điều 227, Khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 3, Điều 4, Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
Căn cứ Luật phí và lệ phí năm 2015;
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008, được sửa đổi, bổ sung năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần V.
Buộc bà Nguyễn Thúy H phải có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần V số tiền nợ tạm tính đến ngày 18/9/2024 là 182,451,280 đồng, trong đó nợ vốn gốc 82,894,143 đồng, nợ lãi 99,557,137 đồng.
Bà Nguyễn Thúy H phải có nghĩa vụ thanh toán tiền lãi tiếp tục phát sinh trên số dư nợ gốc kể từ ngày 19/9/2024 cho đến khi thanh toán hết khoản nợ theo mức lãi suất quá hạn được quy định tại Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng tài khoản thanh toán, dịch vụ ngân hàng Đ: DSA/VN0010325/202108 được ký kết giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần V và bà Nguyễn Thúy H.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Nguyễn Thúy H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 9,122,564 đồng.
Ngân hàng Thương mại Cổ phần V được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp 2,937,673 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0000261 ngày 29/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Về quyền kháng cáo: Ngân hàng Thương mại Cổ phần V, bà Nguyễn Thúy H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật.
4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hánh án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lê Thị Minh |
Bản án số 4414/2024/DS-ST ngày 18/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 4414/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
